Tải bản đầy đủ - 141 (trang)
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO HIỆN NAY CỦA NGÀNH SƯ PHẠM KĨ THUẬT NÔNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP I

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO HIỆN NAY CỦA NGÀNH SƯ PHẠM KĨ THUẬT NÔNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP I

Tải bản đầy đủ - 141trang

- 50 -



Kỹ sư, Bác sỹ thú y và hàng chục Thạc sỹ, Tiến sỹ và đã cử hơn 100 lượt cán

bộ của Nhà trường làm chuyên gia giáo dục, hợp tác nghiên cứu khoa học, phát

triển sản xuất nông nghiệp cho hàng chục nước trên thế giới. Nhà trường đã có

2 Nhà giáo Nhân dân, 54 Nhà giáo Ưu tú. Trong suốt quá trình xây dựng và

phát triển, Nhà trường đã được tặng thưởng nhiều Huân chương, phần thưởng

cao quý của Đảng và Nhà nước. Năm 2001, Nhà trường được tặng thưởng

Huân chương Hồ Chí Minh, năm 2006 được phong tặng danh hiệu Anh hùng

Lao động.

2.1.2. Khoa Sư phạm Kỹ thuật

Khoa Sư phạm Kỹ thuật được thành lập ngày 10/1/1998 tại trường

ĐHNNI với nhiệm vụ đào tạo giáo viên KTNN trình độ cử nhân cho các

trường trung học phổ thông, các trường dạy nghề, trung cấp nông nghiệp, cao

đẳng nông nghiệp cũng như đào tạo giáo viên dạy KTNN trong các trung tâm

kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung

tâm khuyến nông.

Là một đơn vị đào tạo mới thành lập, với đội ngũ giảng viên nhỏ bé,

hiện Khoa SPKT chỉ có 9 cán bộ công nhân viên, trong đó gồm 8 giảng viên: 1

Tiến sỹ, 6 Thạc sỹ và 1 đang theo học trình độ thạc sỹ. Đây là các giảng viên

chuyên giảng dạy các học phần về Tâm lý học, Giáo dục học và Sư phạm kỹ

thuật, quy mô đào tạo ít nhưng lại đa dạng về mục tiêu đào tạo. Tuy nhiên, việc

mở khoa SPKT trong một trường Kỹ thuật như Đại học Nông nghiệp I là một

mô hình mới, có nhiều ưu việt, đó là:

- Tập hợp được đội ngũ giảng viên và chuyên gia giỏi tham gia đào tạo

giáo viên dạy KTNN.

- Sử dụng được các cơ sở vật chất sẵn có để đào tạo giáo viên KTNN như: các

giáo trình chuyên ngành hiện đại, cập nhật; nhiều phòng học được trang bị

thiết bị dạy học công nghệ mới (máy chiếu vật thể, máy chiếu hắt,



- 51 -



projector…); hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại, đầy đủ cho các chuyên

ngành KTNN; các cơ sở rèn nghề bao gồm các khu trại thí nghiệm, hệ thống

nhà lưới, bệnh viện thú y, hệ thống ao nuôi trồng thủy sản, các khu trình diễn

mô hình sản xuất nông nghiệp hiện đại …

- Chỉ cần tuyển dụng thêm một số giảng viên để dạy khối kiến thức sư

phạm và trang bị kỹ năng sư phạm cho giáo viên KTNN.

Rõ ràng đây là một mô hình gọn nhẹ, tiết kiệm mà vẫn có thể đảm bảo

chất lượng đào tạo. Qua chặng đường 9 năm, Khoa đã đào tạo được gần 500

Cử nhân Sư phạm KTNN, số này chủ yếu hiện đang công tác và làm nhiệm vụ

giảng dạy về KTNN tại một số trường đại học; cao đẳng; trung cấp nông

nghiệp; các trường trung học phổ thông; trung học cơ sở; các trung tâm, trạm

khuyến nông và các trung tâm hướng nghiệp, dạy nghề của một số tỉnh thành

trong cả nước. Có thể nói, với cơ sở vật chất của Nhà trường cũng như của

Khoa Sư phạm Kỹ thuật hiện nay (riêng Khoa được trang bị một phòng thực

hành phương pháp dạy học với 1 máy chiếu vật thể, 2 máy chiếu Projector, 1

máy chiếu Overhead, 5 máy tính và nhiều những dụng cụ thiết bị phục vụ cho học

tập khác) về cơ bản có thể đáp ứng được phần nào những yêu cầu cho việc đổi mới

phương pháp dạy - học, có thể ứng dụng đào tạo theo học chế TC như tinh thần đổi

mới đối với bậc giáo dục đại học hiện nay của Chính phủ: “Học chế tín chỉ sẽ

được áp dụng trong hầu hết các trường đại học nước ta vào năm 2010” (Báo

cáo của Chính phủ về tình hình giáo dục tại kì họp thứ 6 Quốc hội khóa XI).

2.2. Phân tích đánh giá chương trình đào tạo hiện hành

Khoa SPKT hiện đang áp dụng CTĐT ban hành theo Quyết định số 25

ngày 14 tháng 01 năm 2004 của Hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp I

(phụ lục 2.1)

Trên cơ sở CTĐT hiện hành, tác giả tiến hành phân tích, đánh giá theo các

nội dung sau:



- 52 -



2.2.1. Về nội dung đào tạo

Cấu trúc và khối lượng kiến thức của chương trình:

- Kiến thức giáo dục đại cương:

- Kiến thức giáo dục chuyên nghiệp:

Trong đó

+ Kiến thức cơ sở ngành:

+ Kiến thức chuyên môn:

+ Kiến thức tự chọn:

+ Thực tập tốt nghiệp:



90 ĐVHT

119 ĐVHT,

15 ĐVHT

87 ĐVHT

6/30 ĐVHT

11 ĐVHT



Bảng 2.1: Trích nội dung CTĐT ngành SPKT

(CTĐT ban hành theo Quyết định số 25 ngày 14 tháng 01 năm 2004 của Hiệu

trưởng Trường Đại học Nông nghiệp I)

Nội dung chương trình :

- Kiến thức giáo dục đại cương :

TT

A



MÃ SỐ



TÊN HỌC PHẦN



Chủ nghĩa – Lênin và tư tưởng Hồ Chí

Minh



SỐ

ĐVHT



HỌC KỲ



22



1



Triết học Mác – Lênin



6



1



2



Kinh tế chính trị Mác – Lênin



5



2



3



Chủ nghĩa xã hội khoa học



4



4



4



Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam



4



5



5



Tư tưởng Hồ Chí Minh



3



6



B



Khoa học xã hội



5



1



Nhà nước và pháp luật



3



2



2



Xã hội học



2



2



C



Nhân văn - Nghệ thuật



9



1



Soạn thảo văn bản



3



2



- 53 -



2



Tâm lý học đại cương



2



1



3



Logic học đại cương



2



2



4



Quản lý hành chính Nhà nước - Quản lý giáo dục



2



3



D



Ngoại ngữ



10



1,2,3



E



Giáo dục thể chất



5



1,2,3,4,5



G



Giáo dục quốc phòng



165

tiết



H



Toán – Tin - Khoa học Tự nhiên, Công

nghệ và Môi trường



43



1



Toán cao cấp



4



1



2



Xác xuất thống kê



4



2



3



Vật lý



4



2



4



Hoá học



6



1



5



Hoá phân tích



3



2



6



Sinh học



5



1



7



Thực vật học



2



3



8



Động vật học



2



3



9



Nhập môn Tin học



3



3



10



Vi sinh vật học đại cương



4



4



11



Sinh thái môi trường



3



3



12



Phương pháp tiếp cận khoa học



3



3



Cộng



90



- Kiến thức giáo dục chuyên nghiệp:

TT



A

1

2

3

4



MÃ SỐ



TÊN HỌC PHẦN



Kiến thức cơ sở

Phương pháp thí nghiệm nông nghiệp

Hoá sinh đại cương

Công nghệ sinh học

Di truyền học nâng cao



SỐ

ĐVHT



HỌC

KỲ



15

3

5

2

3



4

3

4

4



- 54 -



5

B

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25

26

C

1



Khí tượng nông nghiệp

Kiến thức chuyên môn

Thổ nhưỡng

Nông hoá

Sinh lý cây trồng

Bảo vệ thực vật

Chọn, tạo giống cây trồng

Trồng trọt chuyên khoa

Kỹ thuật trồng hoa - cây cảnh

Lâm nghiệp

Bảo vệ môi trường

Chọn và nhân giống vật nuôi

Thức ăn vật nuôi

Sinh lý vật nuôi

Thú y cơ bản

Chăn nuôi chuyên khoa

Thuỷ sinh, ngư loại học

Kỹ thuật nuôi thuỷ sản

Rèn nghề

Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư

phạm

Giao tiếp sư phạm

Giáo dục học đại cương

Hoạt động giáo dục ở trường PTTH

Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục

Đại cương về phương pháp dạy học

KTNN ở trường THPT

Dạy học KTNN ở trường THPT

Thực tập sư phạm I

Thực tập sư phạm II

Kiến thức tự chọn

Dâu tằm tơ



2

87

3

3

4

3

3

5

2

5

3

3

3

4

3

4

3

5

1



3



3



4



2

3

3

2



5

5

6

5



2



5



5

3

7

6/30

3



7

5

8



4

4

4

6

6

6

6

6

5

6

5

5

6

7

7

7

7



7



- 55 -



2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

D



Kỹ thuật nuôi dưỡng ong mật

Kỹ thuật nhân giống cây vô tính

Ưu thế lai và các phương pháp sản xuất hạt

lai

Phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng

Thuốc bảo vệ thực vật

Động vật hại nông nghiệp

Kỹ thuật chăn nuôi bò sữa

Kỹ thuật chăn nuôi lợn hướng nạc

Kỹ thuật chăn nuôi gia cầm công nghiệp

Kỹ thuật trồng rong biển

Công trình nuôi thuỷ sản

Kỹ thuật nuôi thuỷ, hải đặc sản và cá

cảnh

Thực tập tốt nghiệp

Cộng



3

3

3



7

7

7



2

2

2

2

2

2

2

2

2



7

7

7

7

7

7

7

7



11

119



8



7



Qua bảng 2.1 có thể nêu lên một số nhận xét sau:

- Khối lượng kiến thức toàn khóa là 209 ĐVHT, ít hơn 1 ĐVHT so với

khung CTĐT cấp đại học được ban hành tại Quyết định 2677/GD-ĐT

ngày 3/12/1993 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (qui định khối

lượng kiến thức toàn khóa là 210 ĐVHT);

- Tỉ lệ giữa khối kiến thức GDĐC và khối kiến thức GDCN là 90

ĐVHT/119 ĐVHT (khác với qui định trong khung CTĐT ban hành tại

quyết định 2677/GD-ĐT là 90 ĐVHT/120 ĐVHT).

- Khối lượng kiến thức tự chọn chỉ chiếm 6 ĐVHT/209 ĐVHT (2,87%); tỉ

lệ các học phần tự chọn là 13/71 (18,3%), nhưng theo qui định sinh viên

chỉ được chọn 2 đến 3 học phần trong số các học phần tự chọn (sao cho

tổng khối lượng kiến thức của các học phần = 6 ĐVHT); mặt khác các



- 56 -



học phần kiến thức tự chọn trong CTĐT hoàn toàn nằm trong phần kiến

thức chuyên môn của khối kiến thức GDCN, không có học phần nào

nằm trong phần kiến thức cơ sở ngành. Điều này thể hiện sự cứng nhắc

về nội dung CTĐT hiện hành đối với ngành SPKTNN tại trường

ĐHNNI, hạn chế sự lựa chọn các học phần cũng như tính liên thông đào

tạo (chuyển đổi ngành nghề hoặc học văn bằng hai) trong và ngoài nhà

trường theo nhu cầu của người học cũng như nhu cầu của thị trường.

- Một trong những mục tiêu chủ yếu của khoa SPKT (ngành SPKTNN) tại

trường ĐHNNI là đào tạo giáo viên dạy KTNN tại các trường trung học

phổ thông. Từ năm học 2006 - 2007 tất cả các trường trung học phổ

thông đều thay thế môn KTNN bằng môn Công nghệ 10 cho tất cả các

ban (ban khoa học tự nhiên, ban khoa học xã hội, ban cơ sở), chương

trình Công nghệ 10 được bổ sung thêm hai nội dung kiến thức so với

chương trình KTNN trong sách giáo khoa cũ đó là các nội dung về “Bảo

quản chế biến Nông – Lâm – Thủy sản” và “Tạo lập doanh nghiệp”. Tuy

nhiên, trong CTĐT hiện hành chưa có các học phần nhằm trang bị cho

sinh viên những kiến thức về lĩnh vực này, do vậy cần bổ sung các học

phần về Quản trị kinh doanh, Bảo quản chế biến Nông – Lâm - Thuỷ sản

vào CTĐT này.

- Mặt khác, trước những yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học, đòi

hỏi mỗi người giáo viên phải sử dụng được các phương tiện hiện đại

phục vụ cho quá trình dạy học như máy tính, các loại máy chiếu, phương

pháp khai thác thông tin trên mạng Internet... Nhưng trong CTĐT hiện

hành cũng chưa có môn học (học phần) nào trang bị kiến thức cho sinh

viên về lĩnh vực này, do vậy cần bổ sung học phần Công nghệ dạy học

vào CTĐT (qua tìm hiểu tác giả được biết một số khoa và trường Đại



- 57 -



học Sư phạm như Khoa SPKT của trường Đại học Bách khoa Hà Nội,

Đại học Sư phạm Huế... đã đưa học phần này vào CTĐT).

- Các học phần chưa được mã hóa thống nhất chung trong toàn trường,

các mã hóa học phần chưa thể hiện được những thông tin cần thiết mà

người dạy, người học cần biết về chúng (chẳng hạn, chúng thuộc loại

kiến thức nào: kiến thức đại cương, kiến thức cơ sở ngành, kiến thức

chuyên ngành hay thực tập tốt nghiệp), ví dụ cùng là các học phần thuộc

kiến thức chuyên môn nhưng lại có mã khác nhau hoàn toàn: Nông hóa

(mã 33318), Thức ăn vật nuôi (mã 44403), Giao tiếp sư phạm (mã

20704)...

- Trong đề cương chi tiết các học phần không ghi hoặc ghi không rõ điều

kiện tiên quyết của học phần, chẳng hạn:

CHƯƠNG TRÌNH TRÌNH ĐỘ: ĐẠI HỌC

NGÀNH ĐÀO TẠO: SƯ PHẠM KỸ THUẬT



ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT HỌC PHẦN

Tên học phần: CHĂN NUÔI TRÂU BÒ

Số đơn vị học trình: 03

Trình độ: Sinh viên năm thứ 3

Phân bổ thời gian:

-



Lên lớp: Lý thuyết 34 tiết



- Thực tập phòng thí nghiệm, thực hành: 10 tiết

- Kiểm tra: 1 tiết

Điều kiện tiên quyết: (không ghi)

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT HỌC PHẦN

Tên học phần: THỨC ĂN VẬT NUÔI

Số đơn vị học trình: 03



- 58 -



Trình độ: Sinh viên năm thứ 3

Phân bổ thời gian:

-



Lên lớp: Lý thuyết 34 tiết



- Thực tập phòng thí nghiệm, thực hành; 10 tiết

- Kiểm tra: 1 tiết

Điều kiện tiên quyết:

Để học tập học phần này được tốt, sinh viên đã được trang bị kiến thức

về các học phần như sinh lý, sinh hoá động vật...

2.2.2. Về phương pháp và quy trình đào tạo

- Các lớp học được xếp theo khóa tuyển sinh, chương trình học được

thiết kế chung cho mọi sinh viên cùng một khóa, tiến trình để đạt một văn bằng

đã được thể hiện qua một CTĐT qui định trước khá cứng nhắc.

- Sinh viên luôn bị động trong học tập do không được thông tin đầy đủ

về CTĐT (kể cả biểu đồ kế hoạch học tập), họ chỉ có thể biết được tên các học

phần, khối lượng kiến thức (số ĐVHT) sẽ được học trong từng học kỳ (trước

khi vào học kỳ mới từ 2 đến 3 tuần) thông qua thời khóa biểu của mỗi học kỳ;

thông tin về các học phần tự chọn hoặc các học phần để học văn bằng thứ

hai… Điều này dẫn đến tính thụ động trong đa số sinh viên (sinh viên không

thể chủ động trong việc sắp xếp kế hoạch học tập lâu dài theo khả năng của họ)

đồng thời không đáp ứng được nhu cầu của người học (đặc biệt đối với những

sinh viên khá giỏi có nhu cầu tham gia học cùng một lúc 2 văn bằng đại học

trong cùng một trường hoặc 2 trường khác nhau).

- Trung bình mỗi học kỳ (15 tuần thực học) sinh viên phải học 29

ĐVHT, thậm trí có những học kì tới 31 ĐVHT (theo CTĐT hiện hành) như

học kỳ 2 và học kỳ 7. Như vậy theo qui định họ phải dự lớp 29 tiết/5 ngày/tuần

(xấp xỉ 6 tiết/ ngày), chính vì vậy thời gian dành cho việc tự học ở nhà là rất ít

(khoảng dưới 1 tiết tự học ở nhà/ 1 tiết học lý thuyết trên lớp). Điều này đã ảnh



- 59 -



hưởng không nhỏ đến kết quả học tập của sinh viên, khiến tỉ lệ sinh viên phải

ngừng học (lưu ban), thôi học khá cao: năm học 2002 – 2003 riêng 2 khóa 46

và 47 của Trường có 136 sinh viên phải ngừng học, 23 sinh viên phải thôi học,

chiếm 5,7%/tổng số sinh viên 2 khóa (khoa SPKT có 10 sinh viên ngừng học

và 02 sinh viên thôi học, chiếm tỉ lệ 10%); năm học 2004 – 2005 toàn trường

có 245 sinh viên phải ngừng học, 25 sinh viên phải thôi học, chiếm 4,9%/tổng

số sinh viên xét (khoa SPKT có 02 sinh viên ngừng học và 01 sinh viên thôi

học, chiếm tỉ lệ 3%). Chính những điều này dẫn đến sức ép đối với sinh viên

trong học tập đồng thời gây nên sự lãng phí trong đào tạo.

- Đối với giảng viên, họ cũng phải chịu sức ép khi bắt buộc lên lớp đủ số

giờ đã qui định tùy theo từng học phần, chẳng hạn một học phần lý thuyết 3

ĐVHT (tương đương 45 tiết lý thuyết trên lớp) thì giảng viên phải lên lớp đủ 3

tiết/tuần, chính vì vậy họ thường quan tâm đến nhiệm vụ của mình là truyền

đạt được càng nhiều nội dung càng tốt hơn là việc xem xem sinh viên học tập

như thế nào. Mặt khác, mỗi giảng viên phải đảm nhiệm số giờ lên lớp khá lớn

(thường thừa giờ khá cao theo qui định). Cũng chính vì những lý do này mà họ

ít có thời gian đầu tư cho việc chuẩn bị bài dạy theo hướng đổi mới phương

pháp dạy học (nhằm tăng tính chủ động, sáng tạo của sinh viên trong việc học

tập).

2.2.3. Về cách đánh giá kết quả đào tạo

Mỗi học phần được đánh giá bằng một điểm (theo thang mười bậc) là

các kết quả tổng hợp của các đánh giá bộ phận (theo các hình thức: kiểm tra

giữa kỳ để lấy điểm; hoặc chấm điểm tiểu luận, bài tập lớn; hoặc chấm điểm

các bài thực hành hay thí nghiệm tùy theo đặc thù nội dung của học phần. Việc

lựa chọn hình thức nào là do giảng viên phụ trách học phần quyết định, chưa

có sự thống nhất rộng rãi trong bộ môn, khoa và trường) và của một kỳ thi kết

thúc. Có qui định điểm tối thiểu cần đạt được (thường là điểm 5) để xem như



- 60 -



học phần được tích lũy. Kết quả học tập chung của học kì, năm học, hoặc khóa

học được đánh giá bằng điểm trung bình chung: đó là điểm trung bình của các

học phần đã tích lũy với trọng số là số ĐVHT của từng học phần. Mỗi học kỳ

thường dành 3 đến 4 tuần cho việc thi đánh giá kết quả đào tạo. Tuy nhiên,

sinh viên vẫn chưa nhận được những thông tin sớm về lịch kiểm tra giữa kỳ

cũng như thi hết học kỳ (lịch kiểm tra giữa kỳ do giảng viên phụ trách học

phần qui định, lịch thi hết học kỳ do Phòng Đào tạo qui định và sinh viên cũng

chỉ được biết lịch này trước khi thi từ 2 đến 3 tuần), khiến sinh viên bị hạn chế

khá nhiều trong việc chủ động sắp xếp thời gian học tập phù hợp với bản thân họ.

2.2.4. Những hạn chế của chương trình đào tạo hiện hành

Như đã phân tích phân tích trên đây, CTĐT hiện hành cho ngành SPKT

tại trường ĐHNNI là một CTĐT vẫn còn mang nặng kiểu truyền thống, được

phân theo các học kỳ, năm học, khóa học, chương trình học được thiết kế

chung cho mọi sinh viên cùng một khóa. Tuy nội dung chương trình được thiết

kế theo cấu trúc học phần (kiến thức được môđun hóa thành các học phần, với

đơn vị đo là ĐVHT) nhưng chương trình đã bộc lộ một số hạn chế sau:

- Cấu trúc của chương trình đào tạo còn thiếu mềm dẻo, linh hoạt,

chưa hướng vào người học (chưa lấy người học làm trung tâm), chưa

đảm bảo tính liên thông giữa các ngành đào tạo trong và ngoài nhà

trường. Người học nếu phải nghỉ học giữa chừng thì những kiến thức

đã học không được chứng nhận, gây lãng phí về mặt thời gian, công

sức và kinh phí đào tạo; hoặc việc thay đổi ngành nghề, học văn bằng

hai (trong quá trình học tập hoặc sau khi ra trường) gây ra nhiều rắc

rối khó khăn. Hạn chế này dẫn đến hậu quả là chưa tạo cho người học

khả năng thích nghi nhanh chóng với những biến đổi của khoa học

công nghệ cũng như nhu cầu của thị trường lao động.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO HIỆN NAY CỦA NGÀNH SƯ PHẠM KĨ THUẬT NÔNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP I

Tải bản đầy đủ ngay(141 tr)

×