Tải bản đầy đủ - 90 (trang)
Đánh giá sơ bộ mức độ tổn thương và nguy cơ

Đánh giá sơ bộ mức độ tổn thương và nguy cơ

Tải bản đầy đủ - 90trang

- Theo thông tin nhận được thì trẻ đã hoặc có nguy cơ bị xâm hại trong tương lai

gần hay không?

- Theo thông tin nhận được thì các tổn thương xảy ra với trẻ có nghiêm trọng/hoặc

đe doạ mạng sống của trẻ hay không?

- Trẻ có nguy cơ bị tổn thương hay không nếu môi trường chăm sóc vẫn như cũ?

(2) Đánh giá về người hoặc yếu tố gây ra tổn thương cho trẻ:

- Thủ phạm/yếu tố có còn khả năng gây tổn thương đến trẻ hay không?

- Người chăm sóc chính hiện nay có cam kết đủ nguồn lực và khả năng bảo vệ trẻ

trong lúc này không?

(3) Đánh giá về môi trường chăm sóc trẻ:

- Có ai là người thân (gia đình, họ hàng) có khả năng và muốn bảo vệ trẻ trong lúc

này không?

Dựa trên cơ sở đánh giá sơ bộ về tình trạng tổn thương nói trên, nhân viên

xã hội cần phải đưa ra những kết luận về nhu cầu bảo vệ của trẻ. Có hai trường hợp

xảy ra: một là, trẻ đang ở trong tình trạng khẩn cấp và cần có biện pháp can thiệp

khẩn cấp; hai là, trẻ cần được trợ giúp nhưng không khẩn cấp. Thông thường, các

trường hợp cần được can thiệp khẩn cấp là các trường hợp sau đây: Trẻ bị xâm hại

tình dục và trẻ bị xâm hại nặng nề về thể chất ; trẻ bị xâm hại nặng nề về tâm lý và

tình cảm ; trẻ bị sao nhãng nghiêm trọng về mặt thể chất. Ngay cả trong những

trường hợp khẩn cấp cũng có thể được chia thành nhiều mức độ khẩn cấp khác

nhau. Mức độ khẩn cấp cao là những trường hợp trẻ bị tổn thương cao, có nguy cơ

đến tính mạng – cần can thiệp trong vòng 24 giờ . Mức độ khẩn cấp trung bình là

những trường hợp trẻ bị tổn thương, nhưng không nguy cơ đến tính mạng – cần

can thiệp trong vòng 3 ngày. Mức độ khẩn cấp thấp là trẻ ít hoặc không bị tổn

thương, nhưng khả năng tự bảo vệ thấp – cần can thiệp trong vòng 10 ngày.

Bảng 2. Mức độ khẩn cấp và thời gian giải quyết



Mức độ khẩn cấp

Cao

Trung bình

Thấp



Thời gian giải quyết vụ việc

Ngay lập tức- trong vòng 24 giờ

1 - 3 ngày

5 - 10 ngày



Mẫu 1: TIẾP NHẬN THÔNG TIN VÀ ĐÁNH GIÁ SƠ BỘ MỨC ĐỘ TỔN

THƯƠNG VÀ NGUY CƠ TRẺ BỊ XÂM HẠI, BÓC LỘT VÀ SAO NHÃNG

A. Tiếp nhận thông tin ban đầu

1. Nhận được thông tin:

Thông qua (điện thoại/gặp trực tiếp/người khác báo): …………………………

Thời gian (mấy giờ)………………..Ngày……. tháng……… năm…………..

Cán bộ tiếp nhận ………………………………… Địa điểm …………………

Số hiệu tạm thời của trường hợp………………………………………………

2. Thông tin về trẻ

Họ tên (nếu được biết) . . …………………Tuổi…… (hoặc ước lượng tuổi)....

Giới tính: Nam……………Nữ……………Không biết………………………

Địa điểm (trẻ đang ở đâu vào thời điểm nhận được thông báo?)………………

…………………………………………………………………………………

Họ tên cha của trẻ……………………..

Họ tên mẹ của trẻ……………………………..

Hoàn cảnh gia đình………………………………………………………………

………………………………………………………………………………

Tình trạng hiện tại của trẻ:

…………………………………………………………….

……………………………………………………………………………………

....………………………………………………………………………

Phỏng đoán hậu quả có thể sẽ xảy ra cho một (hoặc nhiều) trẻ em nếu không có

can thiệp?



……………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………

Hiện tại ai là người chăm sóc, giám hộ (nếu có) cho trẻ – nếu biết?

………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………

Những hành động can thiệp đã được thực hiện đối với trẻ trước khi thông báo:

…………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………

3. Thông tin về người báo tin - nếu đồng ý cung cấp

Họ tên………………………… Số điện thoại …………………………………

Địa chỉ………………………………………………………………………………..

Ghi chú thêm……………………………………………………………………

Cán bộ tiếp nhận thông tin (ký tên)



B. Đánh giá sơ bộ và thực hiện các biện pháp can thiệp khẩn cấp

Ngày, tháng, năm tiến hành đánh giá:…………………………………………

Cán bộ đánh giá:…………………………………Chức danh…………………

Đơn vị công tác:………………………………………………………………

1. Đánh giá sơ bộ mức độ tổn thương và nguy cơ

Chỉ số đánh Mức độ: Cao, Trung Chỉ

giá mức độ bình, Thấp

đánh



số Mức độ: Cao, Trung bình,

giá Thấp



tổn thương



Khả năng



và nguy cơ



tự



của trẻ



hồi và bảo



phục



vệ của trẻ

1. Mức độ Cao (trẻ bị tổn thương 3.

tổn



thương nghiêm trọng, đe dọa tính năng



của trẻ.



Khả Cao (trẻ có khả năng tự

tự phục hồi được những tổn



mạng); Trung bình (trẻ phục



hồi thương); Trung bình (trẻ có



bị tổn thương, nhưng của



trẻ ít khả năng tự phục hồi



không



các được những tổn thương);



nghiêm



trọng); trước



Thấp (trẻ ít hoặc không tổn thương. Thấp (trẻ không có khả

bị tổn thương)



năng tự phục hồi được

những tổn thương)



2. Mức độ Cao (đối tượng/yếu tố 4.



Khả Cao ( Trẻ có khả năng tìm



nguy cơ của làm tổn thương có khả năng tự bảo được người bảo vệ/giúp đỡ

trẻ



nếu năng thường xuyên tác vệ của trẻ hữu hiệu); Trung bình (Trẻ



không được động đến trẻ); Trung trong

hỗ trợ .



có ít khả năng tìm được



bình (đối tượng/yếu tố trường hợp người bảo vệ/giúp đỡ hữu

làm tổn thương có cơ hội có nguy cơ



hiệu); Thấp (Trẻ không có



nhưng



khả năng tìm người bảo



không



thường



xuyên tác động đến trẻ);



vệ/giúp đỡ)



Thấp (đối tượng/yếu tố

làm tổn thương ít hoặc

không có khả năng tác

Tổng số



động đến trẻ

Cao:



Tổng số



Cao:



Trung bình:



Trung bình:



Thấp:

Kết luận về tình trạng của trẻ:



Thấp:



- Trường hợp chỉ số của "Mức độ tổn thương" ở mức độ Cao và chỉ số về

"Khả năng tự phục hồi và bảo vệ" ở mức độ Thấp: Trẻ đang trong tình trạng cần

can thiệp khẩn cấp - cần thực hiện ngay các biện pháp can thiệp khẩn cấp cho trẻ

trước khi thực hiện bước tiếp theo.

- Trường hợp khác, có thể tiếp tục các bước tiếp theo của quy trình.

2. Các biện pháp can thiệp khẩn cấp cho trẻ:

Nhu cầu khẩn Biện

cấp của trẻ



pháp/Dịch vụ Đơn



cung cấp



vị



thực Thời gian thực



hiện/cung



cấp hiện



dịch vụ

1. Cần nhà ở, - Cung cấp thức ăn, Cán bộ LĐXH



Thực hiện trong



thức ăn, quần quần áo…



vòng 32 tiếng



áo, chăm sóc y

tế…..

2.



Cần được - Cần tách khỏi gia Công an



bảo vệ khỏi bạo đình

hành….



Y tá



- Chăm sóc y tế khẩn Cán bộ xã hội

cấp



Thực hiện trong

vòng 24 tiếng



- Hỗ trợ tâm lý khẩn

cấp

Nơi nhận:

- Chủ tịch UBND xã (thay báo cáo);



Cán bộ thực hiện

(ký tên)



- Lưu hồ sơ.

II.



Bước 2: Xác minh và đánh giá



1. Xác minh

1.1.



Khái niệm và mục đích của xác minh



Khái niệm: Xác minh là công việc thu thập, tổng hợp thông tin và đánh giá kết

luận trẻ em đã bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại hay không. Việc xác minh sẽ

được thực hiện khi các thông tin qua thông báo chỉ ra rằng trẻ đang ở trong tình

trạng tổn hại và có nguy cơ tiếp tục bị xâm hại. Công việc này được tiến hành bởi

người nhân viên xã hội.

Mục đích của xác minh : Mục đích của việc xác minh là làm rõ và kiểm tra lại

những thông tin đã nhận được là có thật hay không để từ đó giúp xác định và đưa

ra được kết luận chính xác trẻ em đã bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại; tìm và

giải quyết các nguyên nhân dẫn đến sự việc; đánh giá mức độ tổn thương của trẻ;

tìm và giải quyết các nhu cầu chăm sóc của trẻ và hỗ trợ đưa ra các hình thức giúp

đỡ phù hợp đảm bảo đáp ứng các nhu cầu bảo vệ và chăm sóc của trẻ.

1.2.



Các hoạt động để thực hiện việc xác minh



Để thực hiện việc xác minh, nhân viên xã hội cần tiến hành thu thập thông tin.

Thu thập thông tin là quá trình nhân viên xã hội sẽ liên lạc, gặp gỡ những người có

liên quan tìm hiểu thông tin điều tra về trường hợp trẻ em được báo bị xâm hại

hoặc có nguy cơ bị xâm hại. Những thông tin cần tìm hiểu có thể là : Hoàn cảnh

gia đình, điều kiện sống, cách thức chăm sóc, đối xử của các thành viên trong gia

đình đối với trẻ.



Để tiến hành thu thập thông tin, nhân viên xã hội trước tiên cần phải liên lạc,

gặp gỡ với những người có liên quan đến vụ việc. Tùy thuộc vào hoàn cảnh của

từng vụ việc xảy ra với trẻ mà cán bộ sẽ liên lạc với những người có liên quan, đặc

biệt là những người có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của trẻ. Ví dụ : Trẻ

được báo là bị xâm hại, bóc lột, sao nhãng hay có nguy cơ; Cha mẹ/người nuôi

dưỡng, chăm sóc bảo hộ của trẻ; Anh/chị/em của trẻ; Người đã gây ra hành vi xâm

hại/bị tình nghi xâm hại trẻ em; Họ hàng có liên quan đến việc chăm sóc trẻ hoặc

biết rõ về quá trình chăm sóc của trẻ; Những người có liên quan tại cộng đồng

(hàng xóm, giáo viên, nhân viên y tế); cơ quan, tổ chức và các cá nhân giúp đỡ

khác (các tổ chức đoàn thể, Ủy ban Nhân dân, phóng viên báo chí...) có thể biết về

hoàn cảnh của trẻ và gia đình; các cơ quan, bộ ngành khác; và các tổ chức có

chương trình, dự án tham gia giúp đỡ trẻ tại cộng đồng.

Sau khi đã liên hệ, hẹn gặp làm việc với những người cung cấp thông tin,

người cán bộ thực hiện nhiệm vụ thu thập thông tin về các sự việc có liên quan đến

vụ việc xảy ra với trẻ. Những thông tin mà người cán bộ tìm kiếm phải liên quan

đến ba nội dung sau: Hiện trạng trẻ bị xâm hại, bóc lột, sao nhãng hay có nguy cơ;

tình hình chăm sóc trẻ hiện nay; và tình hình chăm sóc trẻ trước đây. Phần khó

khăn là làm sao để thu thập được những thông tin cần thiết cho việc xác minh và

đánh giá nguy cơ. Nhân viên xã hội có thể vận dung các kỹ năng vấn đàm và kỹ

năng quan sát trong khi thu thâp thông tin từ các nhóm đối tượng có liên quan.

Ngoài ra nhân viên xã hội cần thăm quan thực tế điều kiện sống, vật chất nơi nuôi

dưỡng trẻ và đọc các tài liệu, văn bản có liên quan đến trẻ.

Trong quá trình thu thập thông tin người cán bộ cần ghi chép tất cả thông

tin có liên quan đến tình hình chăm sóc trẻ cần để lưu lại. Việc lưu lại thông tin

thông qua ghi chép nhằm mục đích thu thập bằng cớ chứng minh cho những kết

luận điều tra về việc trẻ đã bị xâm hại, bóc lột, sao nhãng và giúp cho việc lập kế

hoạch cho trẻ một cách chính xác.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đánh giá sơ bộ mức độ tổn thương và nguy cơ

Tải bản đầy đủ ngay(90 tr)

×