Tải bản đầy đủ - 90 (trang)
Những chỉ số thể hiện sự lạm dung và ngược đãi trẻ

Những chỉ số thể hiện sự lạm dung và ngược đãi trẻ

Tải bản đầy đủ - 90trang

cho trẻ. Vì vậy, các thông tin để làm căn cứ cho chỉ số phải được thu thập qua

những cuộc nói chuyện với trẻ, với thủ phạm và những người khác trong trường

hợp lạm dụng để chứng minh cho những gợi ý của dấu hiệu nhận biệt.

Sự hiện diện của mỗi đặc điểm không có nghĩa là có sự lạm dụng trẻ em, tuy

nhiên nghiên cứu đã chứng minh rằng mỗi chỉ sốcó một mối quan hệ ‘chặt chẽ’ với

sự lạm dụng trẻ em.



Bảng 1: Chỉ số lạm dụng trẻ em

Dạng lạm dụng



Chỉ sốvề thể xác



Chỉ sốvề hành vi



Thể xác



Trẻ có những vết bầm Trẻ không xuất hiện

không giải thích nổi, trong một thời gian dài

những chấn thương thể Trẻ khiếp sợ những liên

xác

hệ với người lớn

Trẻ có những vết từ Có hành vi thái quá –

việc bị đánh bằng một hay gây hấn hoặc có xu

vật, như gỗ, thắt lưng hướng thu mình lại

và dây điện

Trẻ có những vết bỏng

trên khắp người



Sợ về nhà

Trẻ không tự nguyện

muốn người khác về



Trẻ có vài vết ở các bộ nhà mình

phận khác nhau trên cơ

Trẻ thông báo về

thể

thương tích do bố mẹ

Trẻ có những vết rách gây ra

không giải thích nổi

trên người



Biểu lộ căng thẳng khi

thực hiện những hoạt

động bình thường như

ăn, nghỉ ngơi, dùng toa

lét.

Trẻ sợ bố mẹ mình



Thiếu chăm sóc



Trẻ bị đói



Trẻ xin và ăn trộm thức



Trẻ có vệ sinh kém



ăn



Trẻ không có quần áo Trẻ trông mệt mỏi, bơ

phù hợp với thời tiết, phờ, hay ngủ gục

tuổi tác và giới tính



Trẻ không nói được ai



Trẻ không được chăm đang chăm sóc mình

sóc y tế và có những Trẻ tấn công những trẻ

vấn đề về thể chất như em có những thứ mà

da bị phát ban

chúng không có như

Trẻ bị bỏ bê



thức ăn, tình thương và

bạn bè



Tình dục



Trẻ gặp khó khăn khi Trẻ thể hiện những

thực hiện những hoạt hành vi khêu gợi đối

động thể chất như đi lại, với nam giới

ngồi



Trẻ không tự nguyện



Trẻ có quần áo lót bị xé tham gia những hoạt

rách, dính máu hay bẩn



động thể chất như chơi



Trẻ nêu ra những ngứa thể thao ở trường, tắm

ngáy, khó chịu ở bên gội

ngoài cơ quan sinh dục Hành vi của trẻ tụt hậu

hay hậu môn



so với những người



Trẻ có triệu chứng bệnh cùng tuổi

truyền qua đường sinh Trẻ phát triển những

dục



nhận thức lệch lạc về

hành vi tình dục



Trẻ có quan hệ tồi với

bạn bè

Trẻ thông báo rằng đã

tấn công tình dục.

Trẻ có những ảo giác

Tình cảm



Tình cảm trống rỗng

Trẻ phản ứng không

đúng đắn với tình cảm

của người khác.

Trẻ cần và yêu cầu tình

cảm từ người khác



Tâm lý



Trẻ không thể xác định

mình là người như thế

nào

Trẻ tự miêu tả bản thân

là vô giá trị, vô ích,

không quan trọng

Trẻ không thấy được

rằng chúng có thể giao

tiếp với thế giới một

cách hiệu quả qua hành

động của mình.



IV.



Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt



Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (TECHCĐB) là trẻ em có hoàn cảnh không

bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ

bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật

bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 thì trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

được hiểu là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần,

không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng

đồng.

Nhóm đối tượng TECHCĐB bao gồm:

1. Trẻ mồ côi, không nơi nương tựa , trẻ em bị bỏ rơi;

2. Trẻ khuyết tật, tàn tật;

3.Trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học;

4. Trẻ em nhiễm HIV/AIDS;

5. Trẻ em phải làm việc trong điều kiện nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với

chất độc hại;

6. Trẻ em phải làm việc xa gia đình;

7. Trẻ em lang thang;

8. Trẻ em bị xâm hại tình dục;

9. Trẻ em nghiện ma túy;

10. Trẻ em vi phạm pháp luật.

Hiện nay còn có những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhưng chưa được đề

cập đến trong Luật như trẻ em bị buôn bán và trẻ em là nạn nhân của bạo lực,

ngược đãi… .



Những quy định của pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em ở Việt

Nam

Công ước quốc tế về quyền trẻ em được phê chuẩn năm 1990 đã quy định bốn

Nhóm quyền cơ bản của trẻ em được qui định tại Công ước về quyền trẻ em

- Nhóm quyền sống còn : các quyền này bao gồm quyền được sống và quyền

được chăm sóc sức khỏe, y tế ở mức cao nhất có thể có được

- Nhóm quyền bảo vệ: Các quyền này bao gồm việc bảo vệ trẻ em thoát khỏi

mọi phân biệt đối xử, lạm dụng hay không được quan tâm, bảo vệ .trẻ em không có

gia đình cũng như trẻ em tị nạn

- Nhóm quyền phát triển: Các quyền này bao gồm mọi hình thức giáo dục và

có quyền được có mức sống đầy đủ cho sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh thần,

đạo đức ...

- Nhóm quyền tham gia: bao gồm quyền trẻ em được bày tỏ ý kiến quan

điểm của mình trong mọi vấn đề có liên quan đến bản thân, quyền được lắng nghe

và kết giao hội họp.

Trên cơ sở phê chuẩn công ước quốc tế về quyền trẻ em, Việt Nam đã xây

dựng luật Bảo vệ Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 1991 và sửa đổi năm 2004

nhằm thể chế hoá việc thực hiện các quyền của trẻ em tại Việt nam. Luật Bảo vệ,

Chăm sóc và Giáo dục trẻ bao gồm 5 chương, 60 điều quy định các quyền cơ bản

và bổn phận của trẻ em, trách nhiệm của gia đình, các cơ quan Nhà nước, các tổ

chức xã hội và mọi công dân trong việc đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản của

trẻ em.

Luật qui định một hệ thống những quyền cơ bản của trẻ em ( Từ điều 11 đến

điều 20). Trong đó, tất cả các quyền đều có tác dụng trực tiếp hoặc gián tiếp giúp

trẻ em tránh khỏi nguy cơ lâm vào hoàn cảnh đặc biệt

. Quyền được khai sinh và có quốc tịch ( Khoản 1 điều 11)

. Quyền được giúp đỡ để xác nhận cha mẹ ( Khoản 2 điều 11)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Những chỉ số thể hiện sự lạm dung và ngược đãi trẻ

Tải bản đầy đủ ngay(90 tr)

×