Tải bản đầy đủ - 72 (trang)
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Tải bản đầy đủ - 72trang

5

bẫy. Lý thuyết tín hiệu cho ta thấy khi doanh nghiệp lớn phát hành nợ chứng tỏ

doanh nghiệp đang có cơ hội tăng trưởng cao và thị trường sẽ phản ứng lại tích cực

với doanh nghiệp, doanh nghiệp thực hiện chiến lược này để bổ sung nguồn tài trợ

cho các dự án đầu tư hoặc tài trợ cho nguồn vốn cần thiết cho các hoạt động và làm

tăng lợi ích từ tấm chắn thuế của doanh nghiệp. Mặt khác khi doanh nghiệp phát

hành cổ phiếu chứng tỏ tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp đang có xu hướng

giảm, thị trường sẽ phản ứng tiêu cực lại với hoạt động này của doanh nghiệp, có

thể làm giảm giá trị của doanh nghiệp trên thị trường cổ phiếu.

2.1.3 Mối quan hệ giữa cơ hội tăng trưởng và nợ theo lý thuyết đánh đổi

(Trade off Theory)

Theo lý thuyết đánh đổi thì việc vay nợ của doanh nghiệp phải đánh đổi giữa

một bên có lợi ích từ lá chắn thuế và một bên là đối mặt với chi phí kiệt quệ tài

chính và chi phí phá sản khi công ty vay nợ nhưng không có khả năng trả lãi vay từ

khoản nợ này. Doanh nghiệp vay nợ để tài trợ cho nhu cầu vốn của mình hoặc để

đầu tư vào các dự án mạng lại cơ hội tăng trưởng cũng như thu nhập trong tương

lai. Doanh nghiệp sẽ phải gánh khoản chi phí lãi vay để trả cho khoản vay này và

khoản nợ vay khi đến hạn do vậy chi phí lãi vay được tính là khoản chi phí trong

hoạt động của doanh nghiệp và được khấu trừ thuế khi tính thuế thu nhập doanh

nghiệp. Do đó khi công ty có cơ hội đầu tư mạng lại thu nhập và cơ hội tăng trưởng

thì lợi ích từ lá chắn thuế càng giúp ích doanh nghiệp có được thu nhập và lợi nhuận

cao hơn. Đó là lợi ích từ tấm chắn thuế khi doanh nghiệp vay nợ. Tuy nhiên khi

khoản vay tới hạn phải trả hoàn nợ gốc và lãi vay mà doanh nghiệp hoạt động kinh

doanh yếu kém, đầu tư không hiệu quả dẫn tới thua lỗ. Lúc này doanh nghiệp phải

đối mặt với chi phí kiệt quệ tài chính và chi phí phá sản. Do vậy doanh nghiệp phải

cân nhắc kỹ lưỡng chấp nhận đánh đổi giữa lợi ích và chi phí của việc vay nợ. Ban

đầu doanh nghiệp vay nợ ở mức thấp thì sẽ đối diện với chi phí kiệt quệ tài chính và

chi phí phá sản ở mức thấp nhưng khi doanh nghiệp vay nợ tới một điểm nào đó thì

chi phí kiệt quệ tài chính và chi phí phá sản lớn hơn lợi ích từ lá chắn thuế, lúc này

doanh nghiệp gặp phải rủi ro phá sản và vỡ nợ cao, mất đi chi phí cơ hội khi có cơ

hội hợp tác với các đối tác, hủy hợp đồng khi biết doanh nghiệp đang đối diện với



6

việc phá sản và làm ăn thu lỗ không đủ khả năng tài chính để trả khoản nợ đã vay.

Do vậy doanh nghiệp mất đi cơ hội tăng trưởng nếu hợp đồng này mang lại thu

nhập và sinh lời cho doanh nghiệp. Nhiệm vụ của các giám đốc doanh nghiệp là

phải cân nhắc giữa đánh đổi giữa lợi ích từ lá chắn thuế và chi phí kiệt quệ tài chính

từ việc vay nợ



2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa cơ hội tăng trưởng

và nợ.

Theo bài nghiên cứu thực nghiệm của Pandey 2004 xem xét mối quan hệ

giữa cấu trúc vốn và cơ hội tăng trưởng. Các tác giả này dự đoán rằng cấu trúc vốn

có quan hệ hàm lập phương với cơ hội tăng trưởng. Điều này cho thấy khi tobin’s Q

ở mức tăng trưởng thấp hoặc cao thì công ty sẽ vay nợ nhiều hơn và giảm vay nợ

khi tobin’s Q ở mức trung bình, điều này dẫn tới một mối tương quan phức tạp về

điều kiện thị trường, chi phí đại diện, chi phí phá sản, có mối quan hệ thuận chiều

với cơ hội tăng trưởng và đây cũng là đặc trưng cho mối quan hệ phi tuyến giữa cơ

hội tăng trưởng và nợ. Họ cũng thấy biến quy mô công ty và tài sản cố định có mối

quan hệ cùng chiều với cơ hội tăng trưởng. Rủi ro hệ thống và biến cấu trúc sở hữu

có tác động ngược chiều lên cấu trúc vốn.

Bài nghiên cứu của Gaud 2005 về cơ chế quyết định cấu trúc vốn của các

công ty Thụy Sĩ, sử dụng cả hai mô hình static và dynamic, phân tích mô hình

dynamic kết hợp với GMM kết quả cho thấy lợi nhuận năm hiện hành và cơ hội

tăng trưởng thì có mối quan hệ tuyến tính ngược chiều với đòn bẩy nợ, quy mô

công ty, tài sản cố định, rủi ro kinh doanh, có mối quan hệ thuận chiều với đòn bẩy

nợ. Phân tích mô hình dynamic đề xuất rằng có sự tồn tại tỷ số nợ trên vốn chủ sở

hữu. Lợi nhuận được lấy độ trễ thì có tác động thuận chiều lên đòn bẩy nợ. Kết quả

này dự báo hành vi trong ngắn hạn theo thuyết trật tự phân hạng sẽ hành động về

phía nợ mục tiêu. Tuy nhiên quá trình điều chỉnh này diễn ra rất chậm

Theo nghiên cứu của Raijan và Zingales 1995 nghiên cứu về đòn bẩy nợ

giữa các quốc gia khác nhau, với biến đòn bẩy nợ được đo lường bởi hai biến giá

trị sổ sách của nợ và giá trị thị trường của nợ, còn biến cơ hội tăng trưởng được đo

lường bởi biến “Market to book”. Kết quả cho thấy cơ hội tăng trưởng được đo



7

lường bởi biến “Market to book” có mối quan hệ tuyến tính và ngược chiều với

biến nợ trong cả hai trường hợp giá trị sổ sách của nợ hay giá trị thị trường của nợ

làm biến phụ thuộc. Tài sản cố định luôn có mối tương quan cùng chiều với đòn

bẩy nợ. Quy mô công ty cũng có tương quan cùng chiều với nợ ngoại trừ trường

hợp ở Đức. Cuối cùng lợi nhuận có tương quan ngược chiều với nợ ở tất cả các

quốc gia.

Theo nghiên cứu của ba tác giả Mauricio Jara Bertin, Marta Moreno Walerta,

Paolo 2012 sử dụng mô hình GMM kết quả cho thấy cơ hội tăng trưởng có mối

quan hệ “non monotonic” hình chữ “U” với nợ. Điều đó khẳng định thêm mối quan

hệ phi tuyến giữa cơ hội tăng trưởng và nợ của doanh nghiệp.

Theo nghiên cứu của Raijan và Zingales 1995, Gaud 2005 Kayhan và Titman 2006.

Biến giải thích sử dụng là Tobin’s Q, biến mở rộng nghiên cứu và phát triển (R&D

intensity) đại diện cho biến tăng trưởng được sử dụng bởi rất nhiều tác giả (Ozkan

2001, Panley 2004, Gaud 2005). Trong bối cảnh của những công ty niêm yết

Whitwell 2007, Galbreath và Gavin 2008 xem xét tài sản vô hình là nguồn tăng

trưởng quan trọng của công ty, là biến đại diện cho cơ hội tăng trưởng, được thực

hiện bởi nhiều nghiên cứu sau đó của Fama và French 2002, Lin 2006, Moon và

Tandon 2007, Huang và Ritter 2009. Đo lường quy mô vốn của công ty, chọn

logarite của tổng tài sản (Bhaduri 2002, Chen 2004, Pandey 2004).

Trong bài nghiên cứu ở Bồ Đào nha của hai tác giả Serrasqueiro và Macus

Nunes 2009 đã đề cập tới mối quan hệ phi tuyến giữa cơ hội tăng trưởng và nợ. Kết

quả thực nghiệm tại các Công ty Bồ Đào Nha cho thấy mối quan hệ giữa cơ hội tăng

trưởng và nợ có tác động cùng chiều khi doanh nghiệp có mức tăng trưởng thấp và

cao, mối quan hệ giữa cơ hội tăng trưởng và nợ có tác động ngược chiều khi doanh

nghiệp có mức tăng trưởng trung bình, kết quả thực nghiệm cho thấy mối quan hệ

giữa cơ hội tăng trưởng và nợ là mối quan hệ phi tuyến, bên cạnh đó nghiên cứu cho

thấy mối quan hệ các doanh nghiệp có lợi nhuận thì ít vay nợ, tương quan dương

giữa quy mô và nợ, và giữa tài sản cố định và nợ



8

Hình 2.1 Mối quan hệ giữa cơ hội tăng trưởng GO1 và nợ ở Bồ Đào Nha



(Nguồn: Serrasqueiro and Macas Nunes 2009, p.875)

những chỉ số đo lường ở trên phải được phù hợp với hai cách đo lường của cơ hội

tăng trưởng (tỉ số Tobin’s Q và R&D intensity) và nợ.

Hình 2.2: Mối quan hệ giữa cơ hội tăng trưởng GO2 và nợ ở Bồ Đào Nha



(Nguồn: Serrasqueiro and Macas Nunes 2009, p.875)

Bằng chứng thực nghiệm đạt được trong bài nghiên cứu ở Bồ Đào Nha cho

thấy khi các công ty niêm yết ở Bồ Đào Nha mà có cơ hội tăng trưởng thấp thì tồn

tại mối quan hệ cùng chiều giữa nợ và cơ hội tăng trưởng, làm củng cố vững chắc

hơn tranh luận của Jensen 1986 và Stulz 1990. Liên quan đến vấn đề đại diện giữa

cổ đông và giám đốc. Nợ được sử dụng như là yếu tố để kiểm soát những hành động

sai lầm của ban giám đốc khi mà họ không đầu tư vào dự án mà sẽ mang lại cho

công ty tăng trưởng vượt quá mức nợ tối ưu và làm tổn hại tới tình hình tài chính

của công ty.

Khi cơ hội tăng trưởng của các công ty niêm yết ở Bồ Đào Nha ở mức trung



9

gian thì mối quan hệ giữa nợ và cơ hội tăng trưởng là ngược chiều. Ở khía cạnh

khác thì kết quả này bổ sung cho những tranh luận của học thuyết đánh đổi (tradeoff theory) của Kraus và Litzenberger 1973, scott 1977 đã đề xuất các công ty này

giảm mức nợ để kiểm soát lợi nhuận và giảm nguy cơ phá sản cũng như làm giảm đi

cơ hội tăng trưởng và triển vọng của công ty trong tương lai. Ở một khía cạnh khác

thì mối quan hệ ngược chiều giữa nợ và cơ hội tăng trưởng củng cố thêm những

tranh luận về thuyết đại diện liên quan tới vấn đề đầu tư dưới mức (Jensen và

Meckling 1976, Myer 1977). Đưa ra khả năng của công ty thực hiện đầu tư thấp hơn

mức đầu tư tối ưu như là một quá trình tận dụng cơ hội tăng trưởng. Người cho vay

có thể khó khăn với công ty trong việc cấp khoản cho vay.

Cuối cùng kết quả chỉ ra mối quan hệ thuận chiều giữa nợ và cơ hội tăng

trưởng cho các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Bồ Đào Nha với mức

tăng trưởng cao. Phát hiện này cho thấy công ty mà sở hữu cơ hội tăng trưởng cao

sẽ tạo ra nguồn vốn trong nội bộ hơn là vay nợ từ bên ngoài bổ sung củng cố cho

những tranh luận của lý thuyết trật tự phân hạng của (Myer 1984, Myer và Maijut

1984). Mối quan hệ thuận chiều này cũng củng cố cho những tranh luận của lý

thuyết phát tín hiệu của Ross 1977 rằng các giám đốc và các thành viên nội bộ trong

công ty có những thông tin riêng bí mật, kỳ vọng về lợi nhuận và chất lượng của

những khoản đầu tư tương lại mang lại.

Vấn đề đầu tư dưới mức đã được chỉ ra như là nguyên nhân của kết quả thực

nghiệm, chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa nợ và cơ hội tăng trưởng (Kim và

Sorensen 1986, Barclay 1995, Raijan và Zingales 1995, Hovakimian 2001, Fama và

French 2002 , Moon và Tandon 2007, Huang và Ritter 2009).

Tuy nhiên, bằng chứng thực nghiệm khác đã hướng về mối quan hệ thuận chiều

giữa nợ và cơ hội tăng trưởng (Buhduri 2002, Chen 2004, Gaud 2005) hai yếu tố

này có thể đóng góp vào kết quả đạt được bởi những tác giả này

1) Nợ được sử dụng với mục đích kiểm soát hành động của giám đốc trong trường

hợp đầu tư quá mức (theo Bhaduri 2002, Chen 2004, Gaud 2005).

2) Người cho vay nhận ra cơ hội tăng trưởng của công ty và đồng ý cho vay một



10

khoản tín dụng ưu đãi và dễ dàng hơn (theo Lang 1996).

Trường hợp các công ty niêm yết ở Malaysia (Pandey 2004) phát hiện ra

rằng có mối quan hệ phi tuyến giữa nợ và cơ hội tăng trưởng. Vấn đề đại diện liên

quan tới mối quan hệ giữa cổ đông và giám đốc, giữa người cho vay với cổ đông

và giám đốc có thể làm hạn chế khả năng tài chính ảnh hưởng tới cơ hội tăng

trưởng thông qua nợ và mức độ ảnh hưởng này có thể phụ thuộc vào mức độ của

cơ hội tăng trưởng.

Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu trước đây

Các biến



Kỳ vọng tương quan



Giá trị sổ

sách của nợ



BLEV



Giá trị thị

trường của nợ



MLEV



Cơ hội tăng

trưởng GO1



Cơ hội tăng

trưởng GO2

Quy mô cty

SIZE

Lợi nhuận

PRO

TS cố định

TANG

Các nghiên

cứu



Phi

tuyến



Cách tính



Phi

tuyến



Phi

tuyến



-



-



+



+



+



+



-



-



-



+



+



+



+



Pandey

2004



Gaud

2005



Raijan và

Zingales

1995



Mauricio

Jara

Bertin &

cộng sự

2012



Giá trị sổ sách của nợ / giá

trị sổ sách của tổng tài sản.

Giá trị thị trường của nợ /

(giá trị sổ sách của nợ +

giá trị thị trường của vốn

chủ sở hữu)

(Giá trị thị trường của

vốn chủ sở hữu + giá trị

sổ sách của tổng tài sảngiá trị sổ sách của vốn

chủ sở hữu) / giá trị sổ

sách tổng tài sản

Chi phí nghiên cứu và

phát triển / tổng tài sản

Logarite tổng tài sản

Lợi nhuận trước thuế/

tổng tài sản

Tài sản cố định / tổng tài

sản.



Serrasqu

eiro &

cộng sự

2009



Các nghiên cứu thực nghiệm trước đó trên thế giới về mối quan hệ giữa cơ

hội tăng trưởng và nợ là khá đa dạng, sử dụng nhiều phương pháp khác nhau và sử

dụng cách thức đo lường cho biến giá trị sổ sách và giá trị thị trường của nợ hay

biến cơ hội tăng trưởng rất đa dạng tuy nhiên do đặc điểm của nền kinh tế Bồ Đào

Nha có thị trường chứng khoán và nền kinh tế đang phát triển, khá tương đồng với



11

Việt Nam do đó bài luận văn này sử dụng bài nghiên cứu của Serrasqueiro và

Macus Nunes 2010 sử dụng hồi quy dữ liệu bảng (panel data) để thực hiện cho

nghiên cứu của tác giả



2.3 Giả thuyết nghiên cứu

Từ những nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về mối quan hệ giữa cơ hội

tăng trưởng và nợ cho thấy kết quả khá giống nhau là mối quan hệ giữa cơ hội tăng

trưởng và nợ là mối quan hệ phi tuyến tính. Nghiên cứu này nhằm xác định mối

quan hệ phi tuyến tính giữa cơ hội tăng trưởng và đòn bẩy nợ ở các công ty trên thị

trường chứng khoán Việt Nam. Do đó bài nghiên cứu dựa trên giả thuyết sau:

2.3.1 Giả thuyết 1

H0: Mối tương quan có ý nghĩa giữa cơ hội tăng trưởng và nợ là tuyến tính

H1: Mối tương quan có ý nghĩa giữa cơ hội tăng trưởng và nợ là phi tuyến tính

Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới hầu hết cho thấy kết quả mối quan

hệ giữa cơ hội tăng trưởng và nợ là phi tuyến tính. Cụ thể mối quan hệ giữa cơ hội

tăng trưởng và nợ ở Bồ Đào Nha của tác giả Serrasqueiro và Macus Nunes 2009 là

phi tuyến tính, cụ thể là mối quan hệ hàm lập phương, nghiên cứu của Mauricio Jara

Berlin, Moreno và Warleta, Paolo Saona Hoffman và cộng sự 2012 cho thấy mối

quan hệ “non-monotoic” (hình chữ U). Bài nghiên cứu này tác giả tiến hành xác

định mối quan hệ giữa nợ và cơ hội tăng trưởng là tuyến tính hay phi tuyến tính

Tác giả kỳ vọng có sự tương quan giữa mối quan hệ cơ hội tăng trưởng và

nợ. Mối tương quan này có thể là cùng chiều hoặc ngược chiều tùy thuộc vào mức

độ của cơ hội tăng trưởng là cao hay thấp hay mức trung bình. Khi công ty có cơ

hội tăng trưởng cao thì sẽ có nhu cầu nguốn vốn cao hơn để tài trợ cho các dự án

mang lại thu nhập cho doanh nghiệp hay tạo ra sự tăng trưởng cho công ty. Do đó

cơ hội tăng trưởng cao thì nhu cầu vay nợ càng lơn nên mối quan hệ giữa cơ hội

tăng trưởng và nợ được kỳ vọng là cùng chiều. Ngược lại khi công ty có cơ hội tăng

trưởng ở mức thấp thì công ty không tạo ra khả năng sinh lời và thu nhập cao cho



12

tương lai và do vậy mà nhu cầu sử dụng nguồn nợ vay cũng giảm đi do đó mối quan

hệ giữa cơ hội tăng trưởng và nợ kỳ vọng cũng là thuận chiều.

2.3.2 Giả thuyết 2

Mối quan hệ bậc 3 giữa cơ hội tăng trưởng và nợ là phi tuyến thì đường cong thể

hiện mối quan hệ có dạng như sau:

-



Ho: Đường cong thể hiện mối quan hệ giữa cơ hội tăng trưởng và nợ là tương

quan thuận chiều khi doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng ở mức cao và thấp và

tương quan ngược chiều khi doanh nghiệp có mức tăng trưởng trung bình



LEV



GO

-



H1: Đường cong thể hiện mối quan hệ giữa cơ hội tăng trưởng và nợ là tương

quan ngược chiều khi doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng ở mức cao và thấp và

tương quan thuận chiều khi doanh nghiệp có mức tăng trưởng trung bình



LEV



GO



13



CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Số liệu và lấy mẫu:

Số liệu được lấy từ 105 công ty phi tài chính thuộc các lĩnh vực khác nhau

niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam tại hai sàn giao dịch chứng khoán

HOSE và HNX trong giai đoạn từ 2009 tới 2013 (thời kỳ mẫu là 5 năm)

Dữ liệu được thu thập từ các công ty chứng khoán trên cafef.vn, vietstock.vn,

cophieu68.vn từ năm 2009 tới 2013 sau đó dữ liệu được xử lý qua phần mềm excel

và chạy hồi quy bằng phần mềm Eviews 7



3.2. Phương pháp nghiên cứu

Trong bài luận văn này tác giả kế thừa các nghiên cứu của Seraqueiro và

Macas Nunes 2009, để xây dựng mô hình nghiên cứu và các biến. Thị trường chứng

khoán Bồ Đào Nha cũng đang phát triển nên cũng phù hợp và tương đồng với thị

trường chứng khoán Việt Nam. Do vậy cả hai thị trường chứng khoán Bồ Đào Nha

và Việt Nam đều có hạn chế nhất định trong việc tiếp cận nguồn vốn tài chính từ thị

trường chứng khoán do vậy các doanh nghiệp tiếp cận với nguồn tài chính từ vay nợ

nhiều hơn.

Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng (Panel data)

theo hai biến MLEV và BLEV lần lượt là hai biến phụ thuộc. Đồng thời bài nghiên

cứu còn xem xét mối quan hệ tuyến tính, hàm bình phương, lập phương giữa cơ hội

tăng trưởng và nợ để xác định mối quan hệ mà giải thích tốt nhất, phù hợp nhất cho

mối quan hệ giữa nợ và cơ hội tăng trưởng ở Việt Nam.

Bài nghiên cứu này sử dụng theo ba phương pháp Pooled regression, Fixed

Effect model, Random Effect model và đồng thời tiến hành kiểm định để lựa chọn

phương pháp nào phù hợp nhất cho từng mô hình

Để so sánh phương pháp Pooled Regression và Fixed Effects model tác giả

sử dụng kiểm định Likelihood, giả thuyết Ho: mô hình Pooled regression là phù

hợp. Giả thuyết H1: mô hình fixed effect model là phù hợp. Nếu kết qua hồi quy



14

cho P- value < α thì bác bỏ giả thuyết Ho và ngược lại nếu P-value > α thì chấp nhận

giả thiết Ho

Để so sánh phương pháp Pooled Regression và Random effect model tác

giả sử dụng kiểm định Breusch Pagan Lagrangian Multipier test để kiểm định giữa

hai phương pháp trên, phương pháp nào phù hợp với giả thuyết Ho mô hình Pooled

regression là phù hợp. Giả thuyết H1: mô hình Random effect model là phù hợp.

Nếu kết qua hồi quy cho P-value < α thì bác bỏ giả thuyết Ho và ngược lại nếu Pvalue > α thì chấp nhận giả thiết Ho.

Để so sánh phương pháp Fixed effect model và Random effect model tác giả

sử dụng kiểm định Hausman Test để kiểm định giữa hai phương pháp trên, phương

pháp nào phù hợp với giả thuyết Ho mô hình Random Effect model là phù hợp. Giả

thuyết H1: mô hình Fixed effect model là phù hợp. Nếu kết qua hồi quy cho P- value

< α thì bác bỏ giả thuyết Ho và ngược lại nếu P-value > α thì chấp nhận giả thiết Ho

Trong trường hợp mô hình xảy ra hiện tượng phương sai sai số thay đổi thì ta

dùng FGLS ta dùng Feasible Generalized Least Squares (FGLS) để khắc phục hiện

tượng phương sai sai số thay đổi



3.3. Mô hình nghiên cứu:

Mô hình nghiên cứu của bài luận văn được tác giả kế thừa theo nghiên cứu

thực nghiệm của Serrasqueiro và Macus Nunes 2009 để xây dựng mô hình hồi quy

và các biến trong mô hình. Tác giả sử dụng hai biến GO1 và GO2 để đo lường cho

cơ hội tăng trưởng của doanh nghiệp, biến lợi nhuận được sử dụng theo lý thuyết

trật tự phân hạng để tác động lên biến đòn bẩy nợ khi doanh nghiệp có lợi nhuận giữ

lại. Hai biến quy mô công ty và tài sản cố định là tài sản đảm bảo cho khoản vay nợ

khi doanh nghiệp đối mặt với chi phí kiệt quệ tài chính và chi phí phá sản (theo lý

thuyêt đánh đổi)

Phương trình hồi quy:

LEVi,t = β0 + β1LEVi,t-1 + β2GO1 + β3GO2 + β4PRO + β5SIZE + β6TANG +εt

Trong đó:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Tải bản đầy đủ ngay(72 tr)

×