Tải bản đầy đủ - 116 (trang)
3 Sự tác động của chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu tại các công ty niêm yết

3 Sự tác động của chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu tại các công ty niêm yết

Tải bản đầy đủ - 116trang

20



đạt thông tin bất lợi về triển vọng lợi nhuận của công ty. Hai ông còn dựa vào lập

luận hiệu ứng khách hàng đó là các nhà đầu tư ưa thích chính sách cổ tức của một

công ty sẽ không có tác động đến giá cổ phiếu. Khi công ty thay đổi chính sách cổ

tức có thể mất đi một số cổ đông bởi lẽ họ sẽ bán cổ phiếu đang sở hữu và chuyển

sang mua cổ phiếu của các công ty khác có chính sách cổ tức hấp dẫn hơn. Điều này

lại có thể đưa đến sụt giảm tạm thời giá cổ phiếu của công ty. Tuy nhiên, các nhà

đầu tư khác thích chính sách cổ tức mới sẽ cho rằng cổ phiếu của công ty bị bán

dưới giá và sẽ mua thêm cổ phiếu. Trong thị trường mà MM quan sát, các giao dịch

này diễn ra ngay tức khắc và không có tổn phí cho nhà đầu tư, kết quả là giá trị của

cổ phiếu giữ nguyên không đổi.

Nhưng ngược lại, MM cũng nhận thấy rằng có những chứng cứ thực nghiệm đáng

kể cho thấy các thay đổi trong chính sách cổ tức ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Hai

ông khẳng định các thay đổi quan sát được trong giá trị công ty là do nội dung hàm

chứa thông tin hoặc do tác động phát tín hiệu của chính sách cổ tức, chứ không phải

mô hình chi trả cổ tức. Do vậy mà chính sách cổ tức có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu

công ty. Tuy nhiên quan điểm này chỉ có ý nghĩa khi thoả mãn hai điều kiện: (1) các

nhà đầu tư coi trọng các thông tin này; (2) cổ tức là một tín hiệu về triển vọng phát

triển của công ty và cổ tức là một tín hiệu đáng tin cậy hơn các tín hiệu khác. Các

nhà đầu tư luôn quan tâm đến chính sách cổ tức vì cổ tức là một trong hai nguồn thu

nhập chính. Còn mức độ tin cậy cao của chính sách cổ tức khi đóng vai trò là tín

hiệu về khả năng tăng trưởng của công ty là hoàn toàn có thể lý giải được. Vì thực

tế, nếu công ty tuyên bố tăng cổ tức mà không có đủ thu nhập để trả thì sẽ phải huy

động vốn từ bên ngoài hoặc phải hy sinh các khoản đầu tư trong tương lai. Vì thế,

tăng cổ tức là một tín hiệu có độ tin cậy cao hơn và ràng buộc trách nhiệm của nhà

quản lý công ty nhiều hơn các tín hiệu khác.

- Các lập luận về chính sách cổ tức tác động đến giá cổ phiếu công ty niêm yết.

Các lập luận của MM được công nhận là hợp lý cùng với các giả định. Tuy

nhiên, một khi không tồn tại những giả định hạn chế này, thì giá trị cổ phiếu thực sự



21



chịu ảnh hưởng của việc phân chia lợi nhuận cho cổ tức và giữ lại để tái đầu tư. Các

lập luận đưa ra như sau:

− Không thích rủi ro: một cách cụ thể Myron J. Gordon - đại diện tiêu biểu cho

trường phái hữu khuynh bảo thủ - khẳng định rằng các cổ đông không thích rủi ro

có thể thích một mức cổ tức nào đó hơn là hứa hẹn lãi vốn trong tương lai vì cổ tức

là thu nhập thường xuyên và chắc chắn, trong khi lãi vốn trong tương lai ít chắc

chắn hơn. Theo Gordon, cổ tức làm giảm tính bất trắc của các cổ đông, cho phép họ

chiết khấu lợi nhuận tương lai của công ty với một tỷ lệ thấp hơn, do đó làm tăng

giá trị của công ty và ngược lại.

− Các chi phí giao dịch: trong thực tế, việc tồn tại chi phí giao dịch khiến cho các

nhà đầu tư phải quan tâm tới việc họ được nhận cổ tức bằng tiền mặt hay lãi vốn.

Các khoản chi phí môi giới và chênh lệch lô lẻ khi số chứng khoán bán ra ít, không

đủ để tạo thành đơn vị mua bán trên thị trường nên khó bán và giá thấp sẽ làm cho

việc bán cổ phiếu bị tốn kém và không thể thay thế một cách hoàn hảo cho các chi

trả cổ tức thường xuyên.

− Thuế: việc bỏ giả định không có thuế cũng sẽ có tác động đến cổ đông, vì lãi vốn

không chịu thuế cho đến khi bán cổ phiếu. Nghiên cứu về chính sách cổ tức từ 1920

đến 1960, John A. Britain đã đi đến kết luận rằng thuế suất tăng làm giảm tỷ lệ chi

trả cổ tức.

− Các chi phí phát hành: Sự hiện diện của chi phí phát hành khi bán cổ phiếu mới

cũng có khuynh hướng làm cho các công ty ưa thích giữ lại lợi nhuận hơn. Vì vậy,

các công ty khi có đủ các cơ hội đầu tư để có thể sử dụng vốn giữ lại một cách có

hiệu quả thì thường thích giữ lại lợi nhuận hơn.

− Các chi phí đại diện: khi công ty chi trả cổ tức làm giảm số lượng lợi nhuận giữ

lại có sẵn để tái đầu tư và đòi hỏi phải sử dụng nhiều vốn cổ phần từ bên ngoài hơn

để tài trợ tăng trưởng. Việc huy động vốn cổ phần từ bên ngoài như phát hành cổ

phiếu trên thị trường vốn làm cho công ty phải chịu sự giám sát kỹ lưỡng của các cơ

quan điều phối như Ủy ban chứng khoán và các nhà đầu tư tương lai, việc này được



22



coi như một chức năng giám sát thành quả của ban điều hành. Do đó có thể nói rằng

chi trả cổ tức sẽ làm giảm chi phí đại diện giữa các cổ đông và ban điều hành.

Do không hoàn hảo của thị trường và sự ảnh hưởng của các yếu tố trên nên

nhiều nhà thực hành tin rằng chính sách cổ tức rất quan trọng. Như vậy, khi xác lập

một chính sách cổ tức tối ưu góp phần làm gia tăng giá trị công ty, hội đồng quản trị

nên xem xét ưu tiên của các cổ đông cùng với các cơ hội đầu tư và chi phí liên quan

của lợi nhuận giữ lại so với vốn cổ phần huy động từ bên ngoài.

1.3.2 Mô hình sự tác động của chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu công ty niêm

yết của John Lintner

Giữa thập niên 1950, John Lintner đã đưa ra bốn mô hình cách điệu hoá về cách

thức chi trả cổ tức như sau:

(1) Các công ty có các tỷ lệ chi trả cổ tức mục tiêu dài hạn. Với thu nhập tương đối

ổn định, các công ty kết quả kinh doanh tốt và bền vững có tỷ lệ chi trả cổ tức cao,

các công ty tăng trưởng thường chi trả cổ tức thấp.

(2) Các giám đốc thường tập trung nhiều vào những thay đổi cổ tức hơn là so với

mức chi trả tuyệt đối.

(3) Cổ tức thay đổi theo sau những thay đổi trong lợi nhuận ổn định và kéo dài.

(4) Các giám đốc tài chính đặc biệt lo lắng về việc phải huỷ bỏ chính sách chi trả cổ

tức cao trước đây.

Lintner đã đưa ra mô hình đơn giản lý giải việc chi trả cổ tức như sau:

DIVt = aT(EPSt) + aT(1-a)(EPSt-1) + aT(1-a)2 (EPSt-2) + … + aT(1-a)n(EPSt-n)

Mô hình này xác nhận rằng cổ tức một phần phụ thuộc vào lợi nhuận hiện tại của

công ty, một phần vào cổ tức năm trước. Đến lượt mình, cổ tức năm trước lại phụ

thuộc vào lợi nhuận của năm đó và cổ tức của năm trước đó. Theo Lintner, có thể

mô tả cổ tức dựa trên bình quân gia quyền của hiện tại và quá khứ. Mô hình đã đưa

ra với ý tưởng cho biết tỷ lệ chi trả cổ tức phụ thuộc tỷ lệ chi trả cổ tức mục tiêu, đó

là chính sách cổ tức công ty hướng đến trong dài hạn. Những nhà quản trị cũng như

nhà đầu tư thường tập trung vào những thay đổi trong cổ tức hơn là mức chi trả cổ



23



tức tuyệt đối. Do đó, những thay đổi trong giá cổ phiếu (P) trên thị trường sẽ chịu

tác động của sự thay đổi trong mức chi trả cổ tức (D). Như vậy, ta có mô hình sau:

% ∆P = a + b*∆DY + u

Với, a và b là các hệ số hồi qui của mô hình, trong đó b < 0 thì mô hình mới có ý

nghĩa kiểm định, vì về bản chất nếu công ty gia tăng chi trả cổ tức thì phải đánh đổi

trong việc giữ lại lợi nhuận để tạo ra các cơ hội tăng trưởng trong tương lai để làm

tăng giá cổ phiếu trên thị trường. Ý nghĩa của mô hình là phần trăm thay đổi trong

giá cổ phiếu sẽ chịu tác động của những thay đổi trong tỷ suất cổ tức.

1.4 Sự cần thiết phải nghiên cứu sự tác động của chính sách cổ tức đến giá cổ

phiếu tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Trong tài chính công ty cổ điển, chính sách cổ tức chỉ liên quan đến việc lựa

chọn giữa chi trả lợi nhuận cho cổ đông dưới hình thức tiền mặt hay là giữ lại lợi

nhuận cho công ty. Nó chỉ quyết định phạm vi ảnh hưởng của việc chi trả cổ tức và

số lượng cổ tức chi trả. Tuy nhiên, trong tài chính công ty hiện đại, chính sách cổ

tức đề cập đến nhiều vấn đề hơn như là cách thức để công ty thu hút những nhà đầu

tư ở những bậc thuế khác nhau và công ty có thể gia tăng giá trị thị trường hay là

việc mua lại cổ phiếu thay vì chi trả cổ tức bằng tiền mặt…Vì vậy, chính sách cổ

tức là một trong những chủ đề gây tranh cãi nhất trong các lĩnh vực nghiên cứu tài

chính công ty, bao gồm các vấn đề quan trọng như chi phí đại diện, hiệu ứng khách

hàng và định giá cổ phiếu. Nhiều nhà nghiên cứu đã tìm hiểu mối quan hệ giữa

chính sách cổ tức và biến động giá cổ phiếu của công ty, tuy nhiên những nghiên

cứu trên thế giới có kết quả trái ngược nhau, cũng như không có sự nhất quán giữa

các nghiên cứu về tác động của chính sách cổ tức đến biến động giá cổ phiếu của

các công ty.

Nghiên cứu về chính sách cổ tức tác động đến giá cổ phiếu thông qua việc

đánh giá tăng, giảm cổ tức trên mỗi cổ phiếu, tỷ lệ chi trả cổ tức, tỷ lệ giữ lại để tái

đầu tư,…tác động đến giá cổ phiếu, cũng như đo lường và dự báo biến động giá cổ

phiếu, để nhà đầu tư có thể có đạt được các mục tiêu tài chính trên TTCK. Bên cạnh

đó, nhằm mục đích tác động đến các nhân tố tích cực của chính sách cổ tức để giá



24



cổ phiếu tăng trưởng bền vững và giúp cho nhà đầu tư hiểu rõ hơn sự biến động giá

cổ phiếu, đặc biệt khả năng được hưởng lợi từ tăng giá cổ phiếu về trung và dài hạn.

1.5 Các nghiên cứu trên thế giới về sự tác động chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu

1.5.1 Nghiên cứu của Sabari Priya. N năm 2008

Nghiên cứu này là nhằm mục đích phân tích tác động của chính sách cổ tức

đến giá cổ phiếu công ty cũng như tài sản của cổ đông đang nắm giữ các cổ phiếu

trong các công ty hóa chất hữu cơ và vô cơ ở Ấn Độ trong suốt giai đoạn từ 1996 1997 đến 2005-2006.

Công cụ sử dụng cho phân tích dữ liệu: Các phương trình và các biến được

sử dụng để nghiên cứu được liệt kê dưới đây:

Mô hình 1: MPSit = a + b DPSit + c REit + eit

Mô hình 2: MPSit = a + b DPSit + c REit + (PE)t-1 + eit

Mô hình 3: MPSit = a + b DPSit + c REit + (MPS)it-1 + eit

Trong đó:

MPSit : Giá thị trường của cổ phiếu tại thời điểm có thông báo chia cổ tức tiền mặt

DPSit : Cổ tức tiền mặt được chia của từng cổ phiếu trong năm xem xét

REit : Thu nhập giữ lại của từng cổ phiếu trong năm xem xét

PEt-1 : Hệ số giá trên thu nhập một cổ phiếu tại thời điểm có thông báo chi trả cổ tức

tiền mặt

MPSit-1 : Giá cổ phiếu trước ngày có thông báo chi trả cổ tức tiền mặt.

Các ký hiệu i biểu thị công ty thứ i trong một mẫu n các công ty được chọn từ một

ngành công nghiệp cụ thể, và tất cả các biến được đo lường trong thời điểm thứ i.

Để đo lường tác động của chính sách cổ tức đối với giá cổ phiếu, phương pháp hồi

quy bội và mô hình hồi quy từng bước được sử dụng bằng cách tính DPSit, REit,

PEt-1 và MPSit-1 được sử dụng để đại diện cho việc đo lường chính sách cổ tức của

các công ty như là các biến độc lập, và MPSit là biến phụ thuộc, để biết liệu chính

sách cổ tức của các công ty hóa chất hữu cơ và vô cơ bị chi phối bởi những yếu tố

này có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu và việc tạo ra tài sản của cổ đông hay không. Để



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Sự tác động của chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu tại các công ty niêm yết

Tải bản đầy đủ ngay(116 tr)

×