Tải bản đầy đủ - 83 (trang)
3 Đánh giá chung về tình hình hoạt động kinh doanh của Vietcombank.

3 Đánh giá chung về tình hình hoạt động kinh doanh của Vietcombank.

Tải bản đầy đủ - 83trang

60



- Công tác kiểm tra, kiểm toán, kiểm soát nội bộ đã được tăng cường trong năm qua

cùng với việc phối hợp tốt với Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra giám sát ngân hàng, kiểm

toán độc lập, … trong việc kiểm tra, soát xét nhằm đảm bảo tính tuân thủ cũng như khả

năng dự báo, phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của Vietcombank.

 Hoạt động bán lẻ và dịch vụ khách hàng có sự phát triển mạnh với sự hỗ trợ của

công nghệ.

- Từ năm 2009, Vietcombank đã đưa vào hoạt động Trung tâm dịch vụ khách hàng

(Contact Center) với hệ thống công nghệ được trang bị hiện đại góp phần cải thiện đáng

kể chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

- Trên nền tảng công nghệ hiện đại, nhiều sản phẩm ngân hàng hiện đại của

Vietcombank đã được giới thiệu và nhanh chóng thu hút khách hàng: VCB-etopup, Vcash, SMSB@nking,...

- Nâng cấp dịch vụ internet banking với tính năng mới như: cho phép khách hàng

chuyển khoản (sử dụng phương thức định danh OPT bằng SMS hoặc EMV card); Đăng

ký thay đổi thông tin khách hàng sử dụng Internet banking. Thanh toán hóa đơn thanh

toán Billing trên dịch vụ này.

- Phát triển các tiện ích nhằm mục đích giảm thiểu các thao tác, tác nghiệp và nâng

cao khả năng kiểm soát rủi ro của các bộ phận nghiệp vụ như: Chức năng quản trị quyền

lập giao dịch liên quan tới tài khoản trung gian, chức năng in điện báo nợ/báo có IBTOnline theo hình thức bảng kê, chương trình đối chiếu tự động tài khoản tiền gửi chi

nhánh tại Hội sở chính.

- Hoàn thành việc kiểm tra rà soát lỗ hổng bảo mật, đây là một trong những cơ sở để

ngân hàng đưa ra các dịch vụ ngân hàng mới tiên tiến (dịch vụ thương mại điện tử) như:

Đề án thẻ chuẩn EMV (chíp) cũng đã được hoàn thành giúp tăng cường tính năng bảo

mật cho khách hàng sử dụng thẻ; Dịch vụ internet banking được nâng cấp mang lại cho

khách hàng nhiều tiện ích mới,…

- Niêm yết thành công trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, đảm

bảo công bố thông tin kịp thời, đúng quy định, chú trọng công tác quan hệ với nhà đầu tư

nước ngoài.

2.3.2 Một số tồn tại.

 Hầu hết các chỉ tiêu hoạt động kinh doanh ở mức tăng trưởng tốt so với chỉ tiêu

của Vietcombank song sức cạnh tranh và thị phần năm 2010 giảm sút:



61



- Tăng trưởng huy động vốn từ nền kinh tế trong năm 2009 chỉ tăng 7,45%. Thị phần

huy động vốn từ nền kinh tế của Vietcombank giảm rõ rệt từ 9% năm 2009 xuống còn

8,4% năm 2010 và đứng ở vị trí thứ 4 trong hệ thống. Đặc biệt, huy động ngoại tệ giảm

mạnh ở khu vực tổ chức, giảm 8%.

- Vốn của ngân hàng còn thấp so với qui mô hoạt động, đến 31/12/2010 vốn tự có

của ngân hàng là 20.384 tỷ đồng, đứng thứ 4 trong hệ thống các NHTM. Với qui mô hoạt

động như hiện tại chỉ số an toàn CAR của Vietcombank chỉ đáp ứng gần xấp xỉ mức yêu

cầu tối thiểu của NHNN.

- Danh mục khách hàng vẫn tập trung vào một số khách hàng hoặc một nhóm khách

hàng tại một số lĩnh vực như dầu khí, điện lực, điện thoại, xăng dầu, sắt thép, bất động sản

nên nguy cơ rủ ro cao do rủi ro ngành.

- Chăm sóc khách hàng ở nhiều khâu chưa được toàn diện: Sản phẩm, dịch vụ chưa

đáp ứng; thiếu và yếu về kỹ năng tư vấn sản phẩm và chăm sóc khách hàng. Các sản phẩm

bán chéo hoặc phân đoạn khách hàng để chăm sóc khách cho phù hợp vẫn chưa được chú

trọng. Vấn đề quảng bá hình ảnh, thương hiệu còn hạn chế, đặc biệt vấn đề đồng phục của

CBCNV, các cách trình bày mặt tiền các trụ sở chi nhánh… chưa thống nhất trong toàn hệ

thống, mỗi nơi làm một kiểu, không tạo được phong cách hay ấn tượng riêng có của

Vietcombank.

- Công tác quản lý rủi ro và dự báo vẫn chưa phát huy hiệu quả. Công nghệ chưa

theo kịp để hỗ trợ cho công tác quản trị, điều hành.

- Về nguồn nhân lực: Số cán bộ mới tăng nhanh nên kinh nghiệm còn thiếu. Mặt

khác ý thức trách nhiệm và tính tuân thủ còn chưa cao, chưa có sự phối hợp tốt trong xử lý

công việc, gây ách tắc và chậm trễ trong việc ra quyết định, ảnh hưởng đến hoạt động kinh

doanh. Xuất phát từ NHTM Nhà nước cổ phần hóa, một bộ phận CBCNV có sức ỳ lớn,

không năng động, không chịu học hỏi. Công tác tuyển dụng còn mang nặng tính gia đình,

hiện tượng con ông cháu cha vẫn còn tồn tại nên không thực sự thu hút được nhân tố giỏi.

- Cơ sở hạ tầng còn yếu, hầu hết các trụ sở của chi nhánh phải đi thuê chưa xứng tầm

với một thương hiệu có thể được coi là có tiếng. Hạ tầng công nghệ thông tin còn nhiều

khuyết điểm, chưa đạt được trình độ tiên tiến để phát triển lâu dài và ổn định cho quá trình

phát triển và hiện đại hóa các sản phẩm.

- Việc lựa chọn đối tác chiến lược trong năm 2010 chưa đạt kết quả như mong đợi.

Điều này xuất phát từ lý do khách quan do bối cảnh kinh tế thế giới, đặc biệt trong lĩnh



62



vực tài chính ngân hàng chưa có sự phục hồi mạnh mẽ như các ngành khác. Mặt khác việc

lựa chọn đối tác chiến lược cũng xuất phát từ mong muốn chủ quan của Vietcombank:

chọn đối tác chiến lược thực sự (đáp ứng được các tiêu chí đã định), không phải chỉ để có

cái gọi là đối tác chiến lược.

2.3.3 Nguyên nhân.

Năm 2010 là năm đầy khó khăn, thách thức đối với ngành ngân hàng do một số lý do

khách quan sau:

- Kinh tế toàn cầu dè dặt phục hồi trong năm 2010 với những bước đi ngập ngừng

và những triển vọng không mấy lạc quan: Khủng hoảng nợ công ở các quốc gia châu Âu,

những vấn đề về định giá đồng tiền hay như giới truyền thông đưa tin hơi quá về “chiến

tranh tiền tệ”, lạm phát ở Trung Quốc và các nền kinh tế mới nổi.

- Kinh tế Việt Nam đạt mức tăng trưởng cao (6,78%) được đánh đổi bởi tỷ lệ lạm

phát vượt quá 2 con số. Tỷ giá, giá vàng liên tiếp leo thang, dự trữ ngoại tệ “mỏng”, thị

trường lãi suất nóng bỏng vào những tháng cuối năm, hiệu quả và tính an toàn hoạt động

của các doanh nghiệp trong nền kinh tế chịu nhiều tổn thương.

-



Môi trường pháp lý cho hoạt động của các NHTM năm qua có nhiều thay đổi



theo hướng “xiết chặt” hơn, áp lực lớn hơn với sự ra đời của các thông tư 13, 19 của

NHNN, luật TCTD mới và hạn chót thực hiện Nghị định 141 của Chính phủ về danh mục

mức vốn pháp định của các NHTM…và những ý kiến trái chiều trong việc thực hiện các

văn bản này.

- Kinh tế tiếp tục khó khăn và những khoản tín dụng được hỗ trợ lãi suất năm 2009

là những tác nhân góp phần đưa tỷ lệ nợ xấu tăng cao vào năm 2010, Vietcombank đã bị

tụt hạng về qui mô tổng TS, huy động vốn, tín dụng và mạng lưới hoạt động, thị phần

giảm sút.

- Sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng đang ngày càng trở nên gay gắt. Với sự ra

đời của hàng loạt ngân hàng mới, với quy mô nhỏ hơn nhưng có chính sách linh hoạt, đặc

biệt tập trung vào lĩnh vực ngân hàng bán lẻ nhằm chiếm lĩnh thị phần về huy động vốn và

cho vay khu vực dân cư. Trong khi, Vietcombank chủ yếu tập trung vào các khách hàng

truyền thống là các tổ chức, tập đoàn kinh tế lớn, nay họ cũng đã rút phần lớn vốn về tại

các ngân hàng là thành viên của tập đoàn hoặc là ngân hàng mà tập đoàn đó có góp vốn.

Mặc dù đã cố gắng chuyển hướng sang thị trường bán lẻ, nhưng sự chậm trễ về thời gian,



63



cũng như sự kém linh hoạt trong chính sách lãi suất cũng làm cho Vietcombank trở nên

khó khăn hơn để thu hút khách hàng là dân cư, hộ gia đình, công ty vừa và nhỏ,…

- Bộ máy nhân sự toàn hệ thống còn khá cồng kềnh, chưa hợp lý. Đội ngũ nhân

viên ở một số lĩnh vực mới còn chưa chuyên nghiệp (công ty chứng khoán, cho thuê tài

chính v.v…), hoạt động chưa hiệu quả, gây nhiều phản hồi xấu từ khách hàng. Tỷ lệ nợ đủ

tiêu chuẩn của ngân hàng đang giảm cũng là một trong những dấu hiệu cần phải xem xét

lại hệ thống quản lý chất lượng tín dụng, quy trình cho vay cũng như cán bộ thực hiện.

- Mặc dù đã thực hiện cổ phần hoá, nhưng phần vốn góp của Nhà nước vẫn chiếm

đại đa số với tỷ lệ (90,72%) do đó mà quá trình hoạt động chủ yếu vẫn tuân thủ các các

quy định của Nhà nước về chế độ tiền lương, thưởng, phúc lợi, công tác tiếp thị, phát triển

khách hàng,v.v…Điều này làm cho hoạt động kinh doanh phần nào kém linh hoạt và chưa

phát huy được yếu tố nguồn lực con người trong quá trình hoạt động.



KẾT LUẬN CHƯƠNG 2



Từ cơ sở lý thuyết về các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của

NHTM trong chương 1, chương 2 đã đưa ra được bức tranh tổng thể về Vietcombank từ

lịch sử ra đời, các hoạt động chính tới kết quả hoạt động kinh doanh của Vietcombank

trong năm 2008, 2009 và năm 2010, đồng thời cũng xác định vị trí của Vietcombank so

với các NHTM khác thông qua việc so sánh các chỉ tiêu hoạt động kinh doanh của

Vietcombank và các NHTM khác. Từ đó rút ra được những mặt được, những tồn tại của

Vietcombank trong giai đoạn hội nhập quốc tế và nêu ra những nguyên nhân của những

tồn tại đó. Dựa trên đó, đưa ra được những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh

doanh của Vietcombank trong giai đoạn tiếp theo. Những giải pháp này được trình bày

trong chương 3.



64



CHƯƠNG 3

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN

HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM.



3.1 Nhận định chung về môi trường kinh doanh của ngành ngân hàng đến 2015.

3.1.1 Đánh giá cơ hội và thách thức đối với Vietcombank đến năm 2015.

3.1.1.1 Cơ hội.

Sau gần 4 năm gia nhập WTO, Việt Nam lúc này ngày càng mở rộng cánh cửa hội

nhập về tài chính ngân hàng như cam kết, Vietcombank cũng như các NHTM khác mặc

dù đã phải trải qua những khó khăn khi hội nhập, nhưng cũng sẽ có những cơ hội mới

như:

- Khi các NHNNg được tham gia tất cả các dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam buộc

Vietcombank phải chuyên môn hóa và hiện đại hóa các sản phẩm dịch vụ truyền thống

của ngân hàng, mở rộng và phát triển thêm nhiều sản phẩm mới khác mà các NHNNg sẽ

mở tại Việt Nam nhằm tăng tính tiện ích cho khách hàng. Đồng thời nó là cơ hội buộc

Vietcombank phải chú trọng và nâng cao chất lượng quản trị ngân hàng, quản trị tài sản

Nợ, Có, quản trị rủi ro, cải thiện chất lượng tín dụng, nâng cao chất lượng quản trị nguồn

vốn…

- Vietcombank có điều kiện tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và đào

tạo đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp thông qua việc trao đổi, hợp tác quốc tế giữa

Vietcombank và NHNNg trong hoạt động kinh doanh tiền tệ.

- Việc mở cửa cho thị trường hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam là cơ hội tốt cho

Vietcombank mở rộng các sản phẩm dịch vụ phục vụ cho nhu cầu phát triển của các

doanh nghiệp ( đa dạng các sản phẩm thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại, bao thanh

toán, chuyển tiền, kinh doanh ngoại tệ, các sản phẩm phái sinh khác thông qua mở các

sàn giao dịch hàng hóa quốc tế….).

- Thúc đẩy Vietcombank phải cải tổ lại hệ thống của mình từ tổ chức tới các qui

trình, nghiệp vụ cho phù hợp. Đồng thời tăng cường khả năng tổng hợp, khả năng tư

duy, ứng xử với các tình huống đa dạng do hội nhập mang lại.

- Vietcombank có điều kiện mở rộng hoạt động của mình ra các nước thành viên

của WTO khi năng lực đủ mạnh để phục vụ cho khách hàng trong và ngoài nước. Đồng

thời mở ra cơ hội cho Vietcombank phải cố gắng đủ điều kiện quốc tế để được niêm yết



65



cổ phiếu của mình trên thị trường quốc tế, từ đây có thể tranh thủ được nguồn vốn rẻ từ

việc phát hành trái phiếu và cổ phiếu.

3.1.1.2 Thách thức.

Hội nhập tài chính gần như tạo ra sự liên thông giữa thị trường tài chính Việt Nam

với nước ngoài, cho nên tất cả các biến động về tài chính trên thế giới đều ảnh hưởng tới

thị trường tài chính trong nước. Vietcombank không thể nằm ngoài sự biến động đó, nếu

có sự liên thông về tiền gửi, tiền vay, quan hệ thanh toán thì thời gian vừa qua khủng

hoảng tài chính đã dẫn đến hàng loạt các tập đoàn tài chính lớn sụp đổ, sẽ ảnh hưởng lớn

tới Vietcombank. Hay việc cắt giảm lãi suất của FED cũng ảnh hưởng tới các nguồn thu

từ lãi tiền gửi của Vietcombank.

Hội nhập dẫn đến việc cạnh tranh ngày càng gay gắt trong việc cung cấp các sản

phẩm dịch vụ. Đặc biệt là việc huy động vốn, theo lộ trình cam kết thì các NHNNg được

phép huy động được huy động vốn VND bằng 100% vốn pháp định từ 1/1/2010 và được

đối xử quốc gia đầy đủ vào đầu năm 2011.

Kinh tế Việt Nam năm 2011 dự báo có nguy cơ lạm phát cao trở lại, kinh tế bất ổn

sức ép tăng tỷ giá lớn, nguy cơ tỷ giá tăng vẫn đuổi theo tỷ giá thị trường chợ đen nếu

tăng tỷ giá không kèm theo các chính sách quản lý khác để thu hút các nguồn ngoại tệ

vào ngân hàng. Ngoài ra, tăng tỷ giá là nguy cơ làm tăng nợ nước ngoài của Việt Nam.

3.1.2 Nhận định về các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cần phát triển.

Về sản phẩm dịch vụ ngân hàng và các sản phẩm tài chính mà Việt Nam đã cam kết

mở cửa khi gia WTO, đó là:

- Dịch vụ nhận tiền gửi (nhận tiền gửi và các khoản phải trả khác từ công chúng);

- Dịch vụ cho vay (cho vay dưới tất cả các hình thức, bao gồm tín dụng tiêu dùng,

tín dụng cầm cố thế chấp, bao thanh toán và tài trợ giao dịch thương mại);

- Dịch vụ thuê mua tài chính;

- Dịch vụ thanh toán (tất cả các dịch vụ thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thẻ tín

dụng, thẻ thanh toán và thẻ nợ, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng);

- Bảo lãnh và cam kết;

- Kinh doanh trên tài khoản của mình hoặc của khách hàng, tại sở giao dịch, trên thị

trường giao dịch thỏa thuận hoặc bằng cách khác, các loại: i) Công cụ thị trường tiền tệ (

bao gồm séc, hối phiếu, chứng chỉ tiền gửi); ii) Ngoại hối; iii) Các công cụ tỷ giá và lãi

suất, bao gồm các sản phẩm như hợp đồng hoán đổi, hợp đồng kỳ hạn; iv) Vàng khối;



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Đánh giá chung về tình hình hoạt động kinh doanh của Vietcombank.

Tải bản đầy đủ ngay(83 tr)

×