Tải bản đầy đủ - 83 (trang)
2 Thực trạng hoạt động kinh doanh của Vietcombank.

2 Thực trạng hoạt động kinh doanh của Vietcombank.

Tải bản đầy đủ - 83trang

38



307.069

255.496



350.000



222.090



300.000



205.487

169.072



157.067



250.000

200.000



Tổng tài sản



150.000



Huy động vốn



100.000

50.000

0

2008



2009



2010



Biểu đồ 2.1: Tổng tài sản và huy động vốn từ nền kinh tế .

2.2.1.2 Sử dụng vốn.

a) Cơ cấu sử dụng vốn.

Bảng 2.2: Cơ cấu sử dụng vốn của Vietcombank.

Chỉ tiêu

1. TM và TG NHNN

2. Thị trường I

3. Thị trường II

4. Sử dụng vốn khác

Tổng sử dụng vốn



2008 Tỷ trọng 2009 Tỷ trọng

33.044

15% 29.659

12%

112.793

51% 141.621

55%

73.093

33% 80.605

32%

3.160

1%

3.611

1%

222.090

100% 255.496

100%



Đơn vị: Tỷ đồng

2010

Tỷ trọng

13.472

5%

175.600

68%

78.115

30%

39.882

3%

307.069

100%



(Nguồn: BCTC Vietcombank năm 2008, 2009 và 2010)

Tiền mặt và tiền gửi NHNN có xu hướng giảm mạnh và chủ yếu là tiền mặt tại quỹ

giảm nhiều, đây cho thấy rõ được hạn chế trong việc thanh toán tiền mặt, giúp ngân hàng

tiết kiệm được nhiều chi phí do vốn tiền mặt nằm tại quỹ. Đồng thời, từ năm 2009 NHNN

cũng giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc xuống nên vốn nằm tại NHNN cũng giảm.

Tỷ trọng sử dụng vốn trên thị trường I trong tổng sử dụng vốn đạt 55% trong năm

2009 và 68% năm 2010. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng tín dụng của Vietcombank trong

năm 2009 còn 25,6% thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng chung của toàn ngành ngân

hàng (37,7%), nhưng vẫn đảm bảo được sự cân bằng giữa an toàn và hiệu quả.



39



175.600



180.000

141.621



160.000

140.000

120.000



112.793



1. TM và TG NHNN



100.000



2. Thị trường I



80.605



73.093



80.000



78.115



60.000

40.000



39.882

33.044



3. Thị trường II

4. Sử dụng vốn khác



29.659

13.472



20.000



3.160



3.611



0

2008



2009



2010



Biểu đồ 2.2: Cơ cấu sử dụng vốn của Vietcombank

b) Hoạt động tín dụng.

Bảng 2.3: Các chỉ tiêu về hoạt động tín dụng.



Đơn vị: Tỷ đồng



Chỉ tiêu

2008 Tỷ trọng 2009 Tỷ trọng 2010 Tỷ trọng

Tổng dư nợ

112.793

141.621

175.600

1) Theo kỳ hạn

- Ngắn hạn

59.344

53% 72.444

51% 94.693

54%

- Trung, dài hạn.

53.449

47% 69.177

49% 80.907

46%

2) Theo TPKT

- DNNN.

52.919

47% 56.229

40% 34.912

20%

- DN ngoài QD

19.455

17% 28.184

20% 45.545

26%

- DN có vốn đầu tư NN

9.640

9% 11.496

8%

9.721

6%

- Cá nhân, hộ gia đình.

10.859

10% 13.677

10% 18.702

11%

- Khác

19.920

17% 32.035

22% 66.720

38%

3) Theo loại ngoại tệ.

- Nội tệ.

77.272

69% 94.339

67% 128.188

73%

- Ngoại tệ qui VND

35.521

31% 47.282

33% 47.412

27%

4) Theo ngành

- Xây dựng

7.552

7% 11.144

8% 10.313

6%

- Sản xuất các ngành

49.566

44% 62.694

44% 77.211

44%

- Thương mại, dịch vụ

35.269

31% 49.388

35% 54.722

31%

- Khai khoáng, NLTHS

10.591

9% 10.776

8% 13.406

8%

- Khác

9.815

9%

7.619

5% 19.948

11%

4,62%

2,5%

2,78%

Tỷ lệ nợ quá hạn

(Nguồn: BCTC Vietcombank năm 2008, 2009 và 2010)



40



Nhìn vào bảng trên cho thấy cơ cấu cho vay DNNN đã giảm mạnh về dư nợ và tỷ

trọng, về số tuyệt đối dư nợ giảm 21.317 tỷ đồng, đây là doanh nghiệp mà hoạt động

không có mấy hiệu quả trong thời gian qua. Cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ có tăng về

tỷ trọng nhưng vẫn không đạt được kỳ vọng, đây là lý do mà trong thời gian tới

Vietcombank cần đẩy mạnh đầu tư vào khối khách hàng này. Tỷ lệ cho vay vào các

ngành sản xuất, thương mại và dịch vụ chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng dư nợ cho vay

cho thấy sự an toàn trong sử dụng vốn.



20%

- DNNN.



38%



- DN ngoài QD

- DN có vốn đầu tư NN

- Cá nhân, hộ gia đình.

26%

11%



- Khác



6%



Biểu đồ 2.3: Dư nợ theo TPKT năm 2010



2.2.1.3 Hoạt động thanh toán.

Thanh toán xuất nhập khẩu: Doanh số thanh toán XNK của Vietcombank đạt 34,15

tỷ USD, tăng 33% so với năm 2009, thị phần thanh toán XNK luôn chiếm ở mức trên

20% tổng kim ngạch XNK của cả nước. Trong đó, doanh số thanh toán xuất khẩu đạt

16,10 tỷ USD tăng 29% so với năm trước, chiếm 27% thị phần cả nước; Doanh số thanh

toán nhập khẩu đạt 18,05 tỷ USD, tăng 14,5% so với năm trước, chiếm 20% thị phần của

cả nước. Mặc dù số lượng khách hàng cũng như số lượng giao dịch thanh toán XNK

không tăng nhiều so với năm trước tương ứng là 4% và 2%, song doanh số thanh toán

XNK tăng nhiều vì:



41



- Tình hình XNK cả nước sau cuộc khủng hoảng kinh tế và suy thoái toàn cầu đã

dần phục hồi, tổng giá trị XK năm 2010 của cả nước tăng khoảng 24% và NK tăng

18,4%.

-



Vietcombank phải tuy phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng



khác và có sự chuyển dịch và phân tán hoạt động của một số khách hàng lớn (đặc biệt là

khối dầu khí) nhưng vẫn là một trong những NHTM có vị thế thanh toán quốc tế và kinh

nghiệm thanh toán tốt nhất cho nên nhiều khách hàng khi đi rồi vẫn thực hiện thanh

toán qua Vietcombank.

- Việc khan hiếm ngoại tệ năm 2010 khiến việc điều hòa nguồn vốn ngoại tệ phục

vụ khách hàng thanh toán XNK của các NHTM gặp khó khăn nhưng Vietcombank vẫn

là ngân hàng cung ứng nguồn ngoại tệ tương đối tốt cho khách hàng thanh toán.

Thanh toán thẻ: Trong năm 2009 và 2010, Vietcombank vẫn giữ vị trí đứng đầu thị

trường về công tác phát triển các sản phẩm, dịch vụ thẻ phục vụ gần năm triệu khách

hàng. Năm 2009 và 2010 đã triển khai các đề án phát triển thẻ sau:

- Phát hành và thanh toán thẻ EMV cho 2 thương hiệu thẻ lớn là Visa và

Mastercard nhằm gia tăng tính tiện ích và tính bảo mật.

- Triển khai dịch vụ thanh toán thương mại điện tử (Ecommerce) đã góp phần gia

tăng tính năng tiện ích cho các chủ thẻ nội địa Vietcombank, giúp Vietcombank trở

thành ngân hàng duy nhất tại Việt nam triển khai dịch vụ này.

- Dịch vụ thanh toán vé máy bay qua Internet bằng thẻ quốc tế và thẻ nội địa; Hợp

tác với Smartlink và Vietel trong việc cung cấp dịch vụ thanh toán trên ví điện tử và thẻ

trả trước thông qua điện thoại di động.

- Năm 2010, triển khai thêm 154 máy ATM, đưa tổng số máy của Vietcombank lên

tới 1.637 máy, phát triển thêm 1.562 ĐVCNT, đưa tổng số ĐVCNT lên 11.262 đơn vị,

chiếm trên 40% thị phần.

Về thẻ tín dụng quốc tế: Vietcombank phát hành thêm 30.840 thẻ tín dụng các loại.

Doanh số sử dụng thẻ do Vietcombank phát hành đạt 2.120,4 tỷ đồng, bằng 131,8%

doanh số năm 2009. Doanh số thanh toán thẻ tín dụng quốc tế đạt 567 triệu USD, bằng

88,2% so với năm 2009. Trong đó thương hiệu Visa tiếp tục dẫn đầu cả nước về số

lượng phát hành và doanh số thanh toán.

Về thẻ ghi nợ: Năm 2010, tổng số thẻ ghi nợ quốc tế (Master MTV và Visa debit)

phát hành đạt 256.490 thẻ, doanh số sử dụng 11.052 tỷ đồng. Thẻ ATM phát hành trong



42



năm 2009 là 852.913 thẻ, tổng số thẻ tích lũy đạt 4,8 triệu thẻ, doanh số sử dụng

101.652 tỷ đồng. Như vậy, tất cả các thẻ đều vượt kế hoạnh đề ra.

2.2.1.4 Kết quả tài chính.

Bảng 2.4: Kết quả kinh doanh

Đơn vị: Tỷ đồng

Chỉ tiêu

2008

2009

I. Thu nhập lãi thuần

6.622

6.499

1. Thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự

17.233

15.294

2. Chi phí lãi và các khoản chi phí tương tự

(4.005)

(8.795)

II. Lãi thuần từ hoạt động dịch vụ

791

989

1. Thu nhập từ hoạt động dịch vụ

1.140

1.372

2. Chi phí hoạt động dịch vụ

(349)

(383)

III. Lãi thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối

953

918

IV. Lãi thuần từ mua bán chứng khoán kinh doanh

(315)

183

V. Lãi (lỗ) thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư

(50)

173

VI. Lãi thuần từ hoạt động khác

265

128

1. Thu nhập từ hoạt động khác

265

247

2. Chi phí hoạt động khác

0

(119)

VII. Thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần

674

396

Tổng thu từ hoạt động

8.940

9.286

VIII. Chi phí hoạt động

(2.592)

(3.493)

IX. Lợi nhuận thuần trước DPRR

6.348

5.793

X. Chi phí DPRR

(2.758)

(789)

XI. Tổng lợi nhuận trước thuế

3.590

5.004

XII. Thuế TNDN

(862)

(1.059)

XIII. Lợi nhuận sau thuế

2.728

3.945

XIV. Lợ ích của cổ đông thiểu số

(17)

(24)

XV. Lợi nhuận thuần trong kỳ

2.711

3.921

Tổng tài sản

222.090 255.496

Vốn tự có

13.946

16.710

Số lượng CPPT(Triệu CP)

1.210

1.210

Số lượng chi nhánh(CN)

63

70

Tổng CBCNV(người)

9.212

10.401

( Nguồn: BCTC Vietcombank năm 2008, 2009 và 2010)



2010

8.348

20.802

(12.454)

1.018

1.500

(482)

570

0

281

534

677

(143)

556

11.307

(4.410)

6.897

(1.471)

5.426

(1.244)

4.182

0

0

307.069

20.384

1.323

72

10.500



Tổng thu nhập từ hoạt động kinh doanh năm 2009 đạt 9.286 tỷ đồng tăng 346 tỷ

đồng so với năm 2008, năm 2010 đạt 11.307 tỷ tăng 2.021 tỷ đồng. Trong đó, thu nhập

từ lãi là 8.348 tỷ đồng, đóng góp 74% tổng thu nhập từ hoạt động kinh doanh; thu ngoài

lãi là 2.959 tỷ đồng tăng 6% so với năm 2009; thu nhập ròng từ hoạt động kinh doanh

ngoại tệ đạt 570 tỷ đồng, chỉ bằng 62% so với năm 2009. Chi phí hoạt động là 4.410 tỷ

đồng, tăng 26% so với năm 2009. Như vậy, thu nhập trước thuế sau DPRR đạt 5.426 tỷ

đồng, tăng 8,4% so với năm 2009.



43



2.2.2 Đánh giá một số chỉ tiêu hiệu quả hoạt động kinh doanh của Vietcombank.

Theo mô hình CAMELS phân tích ở chương 1 và theo các qui định hiện hành của

NHNN Việt Nam về qui định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD và

qui định xếp loại NHTM cổ phần. Cũng tương tự như mô hình CAMELS, các chỉ tiêu

được đánh giá là vốn tự có, chất lượng tài sản, năng lực quản trị, kết quả hoạt động kinh

doanh và khả năng thanh khoản.

2.2.2.1 Chỉ tiêu đánh giá vốn tự có.

Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu cơ bản đánh giá vốn tự có.

Chỉ tiêu

2008

8,90%

Hệ số an toàn vốn CAR

6,3%

Vốn tự có/Tổng TS

8,9%

Vốn tự có/Vốn huy động

(Nguồn: BCTC của Vietcombank và tính toán của tác giả)



2009

8,11%

6,5%

9,9%



2010

6,6%

9,92%



 Hệ số an toàn vốn được tính theo qui định của NHNN tại quyết định số

457/2005/QĐ-NHNN yêu cầu mức tối thiểu là 8% và tại thông tư số 13/2010/TT-NHNN

ngày 20/5/2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/2010 yêu cầu 9%. Theo qui định, các

giới hạn khi xác định vốn tự có: Đối với vốn cấp 1: Vốn cấp 1 phải trừ đi lợi thế thương

mại; Đối với vốn cấp 2: Tổng giá trị vốn cấp 2 tối đa bằng 100% giá trị vốn cấp 1. Trong

đó, tổng giá trị trái phiếu chuyển đổi hoặc cổ phiếu ưu đãi và các công cụ nợ khác của

TCTD tối đa bằng 50% giá trị vốn cấp 1. Trong thời gian 5 năm cuối cùng trước khi đến

hạn thanh toán, chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông, giá trị các công cụ nợ khác và trái

phiếu chuyển đổi được tính vào vốn cấp 2 sẽ phải khấu trừ mỗi năm 20% giá trị ban đầu.

Mặc dù vốn điều lệ năm 2009 không thay đổi nhưng Vietcombank đã để lại hơn

3.100 tỷ đồng lợi nhuận cho năm 2009 (cao hơn năm 2008, chỉ có hơn 1.000 tỷ đồng)

nên tổng vốn chủ sở hữu năm 2009 đã tăng thêm gần 3.000 tỷ đồng so với năm 2008.

Năm 2010, lợi nhuận để lại chưa phân phối là 5.460 tỷ cao hơn 2009 2.360 tỷ. Đây là

một cách làm khôn ngoan nhằm tăng vốn tự có, vừa nâng cao được năng lực tài chính

vừa đảm bảo hệ số an toàn vốn tối thiểu theo quy định. Năm 2009, hệ số an toàn vốn của

Vietcombank đã lùi về sát mức tối thiểu mà Nhà nước quy định đối với NHTM. Năm

2009 chỉ đạt 8,11%, quy định của NHNN là 8%. Năm 2010, mặc dù Vietcombank đã

thực hiện chốt quyền phát hành thêm cổ phiếu (33%) để tăng vốn điều lệ nhưng báo cáo

đến cuối năm 2010 thì vốn điều lệ chỉ được ghi nhận ở mức 13.224 tỷ đồng, chỉ tăng



44



1.123 tỷ đồng (tăng trên 9%) cho nên hệ số an toàn vốn của Vietcombank cũng không

cải thiện nhiều.

Tuy Vietcombank đang là một trong những NHTM đứng đầu về quy mô vốn chủ sở

hữu song con số 20.384 tỷ đồng vào năm 2010 vẫn chưa đạt kế hoạch đã đề ra khi bắt

đầu triển khai cổ phần hóa tại Vietcombank.

 Tỷ lệ Vốn tự có / Tổng tài sản Có, tỷ lệ này nhằm đánh giá mức độ rủi ro của

tổng tài sản Có của một ngân hàng. Theo qui định của NHNN từ năm 1992 thì tỷ lệ này

phải được duy trì ở mức tối thiểu là 5%. Như vậy, với tỷ lệ 6,3% (năm 2008), 6,5% (năm

2009) và 6,6% (năm 2010) lớn hơn mức 5% cho thấy ngân hàng đảm bảo an toàn trong

kinh doanh.

 Tỷ lệ Vốn tự có / Tổng vốn huy động đưa ra nhằm giới hạn mức huy động vốn

của ngân hàng để tránh tình trạng khi ngân hàng huy động vốn quá nhiều vượt quá mức

bảo vệ của vốn tự có làm ngân hàng mất khả năng chi trả, hệ số này phải lớn hơn 5%

(Huy động nhỏ hơn hoặc bằng 20 lần vốn tự có). Theo bảng tính toán trên thì

Vietcombank duy trì ở mức khá an toàn 9%-10%.

2.2.2.2 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng tài sản Có.

Bảng 2.6: Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tài sản Có.

Chỉ tiêu

2008

2009

50,79%

55,43%

Tổng dư nợ TD/Tổng TS

70,50%

83,57%

Tổng dư nợ TD/Huy động

4,62%

2,47%

Nơ quá hạn

(Nguồn: BCTC của Vietcombank và tính toán của tác giả)



2010

57%

85%

2,78%



Từ bảng trên cho thấy Vietcombank sử dụng nguồn vốn ở mức trung bình, tuy đã tận

dụng tối đa nguồn vốn huy động được để cho vay, hiệu quả sử dụng những đồng vốn huy

động được chưa cao vì nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ mang lại thu nhập lớn nhất cho

ngân hàng, nhưng tỷ lệ Tổng dư nợ cho vay/ Tổng tài sản chỉ ở mức 50%-57%, điều này

cũng cho thấy phù hợp với môi trường kinh doanh ở Việt Nam, sức mạnh hệ thống ngân

hàng còn thấp.

Ngoài ra, việc kinh doanh nguồn vốn huy động được có hiệu quả hay không còn phụ

thuộc vào chất lượng của đồng vốn đưa ra kinh doanh, thông qua các thông số về nợ quá

hạn. Nợ quá hạn tại Vietcombank đã được cải thiện đáng kể từ tỷ lệ nợ quá hạn là 4,62%

năm 2008 thì sang năm 2009 tỷ lệ này chỉ còn ở mức 2,47% nhỏ hơn 3% theo qui định



45



của NHNN. Tuy đến năm 2010, tỷ lệ này tăng lên 2,78% nhưng vẫn được khống chế

dưới mức 3% như kế hoạch.

Bảng 2.7: Dư nợ tín dụng phân theo chất lượng.

Chỉ tiêu

2008 Tỷ trọng 2009 Tỷ trọng 2010 T.trọng

Nợ đủ tiêu chuẩn(Nhóm I)

104.530 92,67% 130.089 91,86% 153.474

87%

Nợ cần chú ý(II)

3.061

2,71%

8.034

5,67% 17.242

10%

Nợ dưới tiêu chuẩn(III)

921

0,82%

441

0,31%

982

1%

Nợ nghi ngờ(IV)

813

0,72%

395

0,28%

292

0%

Nợ có khả năng mất vốn(V)

3.468

3,07%

2.663

1,88%

3.610

2%

Tổng cộng

112.793 100,00% 141.622 100,00% 175.600

100%

( Nguồn: BCTC Vietcombank năm 2008, 2009 và 2010)

Mặc dù tỷ lệ nợ xấu năm 2010 chỉ tăng ít so với năm 2009 và giảm nhiều so với năm

2008 song chi tiết tỷ trọng các khoản nợ quá hạn cho thấy, các khoản nợ quá hạn trên

360 ngày (nợ có khả năng mất vốn) của năm 2010 lại tăng nhiều so với năm 2009 và

tăng hơn cả năm 2008 và các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày (nợ cần chú ý) lại tăng cao,

chiếm 10 % trong tổng dư nợ năm 2010. Như vậy, tỷ lệ nợ quá hạn giảm do dư nợ tăng

cao chứ không phải do chất lượng tín dụng được cải thiện.

2.2.2.3 Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời.

Bảng 2.8: Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời.

Chỉ tiêu

ROA

ROE

NIM

TN thuần từ lãi

TS có sinh lời



NM

TN thuần ngoài lãi



EPS

LN dành cho CĐ



2008



2009



2010



1,22%

19,44%

3,66%



1,53%

23,46%

2,99%



1,36%

20,52%

2,91%



6,622

180,862



6,499

217,095



8.348

286.584



-1,70%



-0,69%



-1,02%



-3,081



-1,494



-2.922



1.931



2.871



3.161



2.336



3.474



(Nguồn: BCTC của Vietcombank và tính toán của tác giả)

 Khả năng sinh lời của tài sản (ROA): ROA là chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý

tài sản của ngân hàng, cho thấy khả năng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng

thành thu nhập ròng. Qua bảng ROA cho chúng ta thấy cứ 100 đồng tài sản của

Vietcombank tạo ra được 1,53 đồng lợi nhuận sau thuế vào năm 2009 và 1,36 đồng lợi

nhuận sau thuế vào năm 2010.

Xét về phương diện tăng trưởng, Vietcombank đã đạt được những kết quả không

nhỏ. Tổng tài sản tăng 24.726 tỷ đồng năm 2008, tăng 33.406 tỷ năm 2009 và đến 2010



46



tăng 51.573 tỷ đồng. Lợi nhuận tăng mạnh năm 2009, tăng thêm hơn 1.250 tỷ đồng và

tăng thêm 237 tỷ đồng vào năm 2010. Như vậy, tốc độ tăng của lợi nhuận quá thấp so

với tốc độ tăng của tổng tài sản.

Tỷ lệ sinh lời của tài sản chỉ lớn hơn 1 không có nghĩa là hiệu quả sử dụng tài sản

không cao. Các ngân hàng đứng đầu về thu nhập thường có tỷ lệ thu nhập trên tài sản

(ROA) nhỏ hơn so với các ngân hàng có quy mô thu nhập trung bình. Tỷ lệ ROA thấp

phản ánh việc Vietcombank đã sử dụng nhiều tài sản Nợ hơn (tiền vay) trong quá trình

tìm kiếm lợi nhuận và phải chịu chi phí lớn trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt. Đây cũng

là đặc trưng của các NHTM, đó là việc sử dụng các nguồn vốn huy động từ nền kinh tế

để thực hiện hoạt động cho vay.

 Khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE): Bảng tính ROE trên cho thấy khả

năng sinh lời của vốn CSH của Vietcombank đã tăng trưởng bền vững trong 2 năm 2008

và 2009, từ 19,74% năm 2008 và đến 25,58% năm 2009. Vốn CSH năm 2009 tăng thêm

2.764 tỷ VND so với năm 2008, tăng khoảng 19,8%, trong khi đó lợi nhuận tăng 45%

tức là tăng hơn nhiều so với tốc độ tăng của vốn CSH. Tuy nhiên, đến 2010 thì tỷ lệ này

giảm còn 20,52% cho thấy khả năng sinh lời của vốn CSH kém, vốn CSH tăng 27%

trong khi đó lợi nhuận chỉ tăng 6%. Khác với tỷ lệ thu nhập trên tài sản (ROA), với các

ngân hàng có mức thu nhập lớn là những ngân hàng có ROE cao. Bởi các ngân hàng này

thường sử dụng mức đòn bẩy tài chính cao hơn (tức là sử dụng ít vốn CSH và sử dụng

nhiều nợ để tài trợ cho tài sản). Nếu tỷ lệ ROE tăng qua các năm chứng tỏ Vietcombank

đã sử dụng hiệu quả đồng vốn của các cổ đông, đã cân đối một cách hài hoà việc sử dụng

vốn cổ đông và vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy

động vốn, mở rộng quy mô. Tuy nhiên, năm 2010 không đạt như kỳ vọng.

 Phân tích các nhân tố cấu thành ROE.

Bảng 2.9: Các nhân tố cấu thành ROE của Vietcombank.

Chỉ tiêu

2008

1. Tỷ lệ sinh lời hoạt động

14%

Lợi nhuận sau thuế(Tỷ đồng)

2.711

Tổng thu từ hoạt động(Tỷ đồng)

19.513

2. Tỷ lệ hiệu quả sử dụng Tài sản.

9%

Tổng Tài sản(Tỷ đồng)

222.090

3. Đòn bẩy tài chính (lần)

16

Vốn CSH(Tỷ đồng)

13.946

( Nguồn: BCTC của Vietcombank và tính toán của tác giả)



2009

22%

3.921

18.082

7%

255.496

15

16.710



2010

17%

4.182

24.386

8%

307.069

15

20.384



47



Tỷ lệ sinh lời hoạt động của Viecombank tương đối cao, đặc biệt là năm 2009, tỷ lệ

này ở mức 22% cho thấy hiệu quả việc quản lý chi phí rất tốt- chi phí dự phòng rủi ro

giảm đáng kể từ 2,758 tỷ đồng còn 789 tỷ đồng năm 2009. Nhưng đến năm 2010 tỷ lệ

này giảm còn 17% do chi phí dự phòng tăng cao, tăng thêm 86% so với năm 2009 làm

cho tốc độ tăng trưởng lợi nhuận thấp; Tỷ lệ sinh lời từ tài sản giảm còn 7% vào năm

2009 cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản chưa cao, tổng tài sản tăng 15%, nhưng tổng thu

từ hoạt động giảm 7,5%, nguyên nhân trực tiếp từ các tác động của khủng hoảng kinh tế

(Năm 2008, kiềm chế lạm phát nên lãi suất tăng lên và đến năm 2009 thì lãi suất giảm

dần do can thiệp của các chính sách của Nhà nước nhằm chống giảm phát), nhưng đến

năm 2010 tỷ lệ này có cải thiện một chút, tăng thêm 1%; Tỷ số đòn bẩy tài chính của

Vietcombank ở mức trung bình và duy trì ổn định ở mức 15 lần.

 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM): NIM được sử dụng để đo lường mức chênh

lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua việc kiểm

soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất.

Năm 2009 và 2010, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên giảm hơn so với năm 2008. Nếu nhìn

kỹ các con số để cho ra tỷ lệ thu nhập cận biên, dễ dàng nhận thấy là mặc dù năm 2009,

tổng tài sản Có sinh lời tăng song thu nhập từ lãi thuần giảm so với năm 2008, từ 6.622

tỷ đồng xuống còn 6.499 tỷ đồng. Như vậy, sử dụng tài sản sinh lời trong năm 2009 chưa

thực sự tốt như năm trước. Tuy nhiên cũng phải xét đến sự tác động mạnh của biến động

lãi suất. Năm 2008, ngay từ đầu năm lãi suất có xu hướng tăng. Nhưng đến năm 2009 lãi

suất lại có xu hướng giảm tác động đến thu lãi vay và chi trả lãi tiền gửi. Còn năm 2010,

thu nhập từ lãi thuần tăng nhưng tăng tỷ lệ thuận với tài sản Có sinh lời cho nên tỷ lệ này

duy trì ở quanh mức 2,9% cho thấy hiệu quả thu lãi kém do trong năm này, cạnh tranh

mạnh về lãi suất huy động dẫn đến chi phí lãi tăng cao.

 Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NM): Khác với tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, tỷ lệ

thu nhập ngoài lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi (chủ yếu

là thu phí từ các dịch vụ) với chi phí ngoài lãi (chi lương CBCNV, chi khấu hao TSCĐ,

chi phí dự phòng rủi ro tín dụng). Đối với hầu hết các ngân hàng, chênh lệch ngoài lãi

thường là âm, do chi phí ngoài lãi nhìn chung thường vượt xa các nguồn thu ngoài lãi.

Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên năm 2009 cũng đã có sự nhích lên so với năm

2008. Đó là do thu nhập ngoài lãi năm 2009 cao hơn 509 tỷ đồng so với năm 2008 trong

khi chi phí ngoài lãi lại giảm đi 1.078 tỷ đồng (chủ yếu là do giảm chi phí dự phòng rủi



48



ro tín dụng), đến 2010 thì chi phí DPRR tăng nên tỷ lệ này giảm so với năm 2009. Tỷ

trọng thu nhập thuần ngoài lãi trong tổng thu nhập của Vietcombank tăng lên từ 25,93%

( 2.318 tỷ đồng) vào năm 2008 lên 30,02% (2.788) vào năm 2009, đến 2010 giảm còn

26% do thu từ kinh doanh ngoại tệ giảm nhiều so với năm 2010.

 Thu nhập trên mỗi cổ phiếu(EPS): EPS năm 2009 cao hơn gấp 1,5 lần so với năm

2008. Tổng khối lượng cổ phiếu phát hành không thay đổi từ năm 2008 là 1.210.086.026

cổ phiếu tương đương 12.100.860 triệu đồng, trong đó phần vốn của Nhà nước là:

10.978.006 triệu đồng và của các cổ đông khác là 1.122.854 triệu đồng. Tuy nhiên chỉ số

này tăng cao vào năm 2010 (trên 3.000)

 Chênh lệch lãi suất bình quân: Chênh lệch lãi suất bình quân dùng để đo lường

hiệu quả hoạt động trung gian của ngân hàng trong hai quá trình huy động vốn và cho

vay. Bên cạnh đó, nó cũng được sử dụng trong việc đánh giá mức độ cạnh tranh ở các

lĩnh vực truyền thống giữa các NHTM. Sự cạnh tranh gay gắt có xu hướng thu hẹp mức

chênh lệch lãi suất bình quân.

Bảng 2.10: Chênh lệch lãi suất bình quân của Vietcombank.

Chỉ tiêu

2008

Lãi suất đầu ra(%/năm)

9,30%

Tổng thu từ lãi

16.824

Tổng tài sản sinh lời

180.862

Lãi suất đầu vào(%/năm)

5,40%

10.611

Tổng chi phí trả lãi

196.507

Tổng nguồn vốn phải trả lãi

Chênh lệch

3,90%

(Nguồn: BCTC của Vietcombank và tính toán của tác giả)



2009

7,21%

15.650

217.095

3,81%

8.795

230.953

3,40%



2010

7,26%

20.802

286.584

4,47%

12.454

278.817

2,79%



Các con số cho thấy chênh lệch lãi suất bình quân của Vietcombank năm 2008 cao

hơn so với năm 2009. Tuy nhiên để phân tích sâu hơn, xem hiệu quả đó đến từ hoạt động

nào của ngân hàng cần phải xem xét đến nhiều yếu tố. Tỷ lệ bình quân lãi suất đầu ra

năm 2009 giảm so với năm 2008 do thu từ lãi giảm mà tổng tài sản sinh lời lại tăng.

Song trong năm 2009 Vietcombank đã sử dụng được nguồn vốn lớn với chi phí trả lãi ở

mức thấp so với các năm trước đó làm cho mức lãi suất đầu vào bình quân thấp hơn

nhiều so với các năm trước. Như vậy, mặc dù thu nhập lãi thuần giảm song tốc độ giảm

của nó lại chậm hơn tốc độ giảm của chi phí nên đã mang lại những con số khả quan

trong đánh giá khả năng sinh lời trong hoạt động kinh doanh của Vietcombank năm

2009. Năm 2010, khoảng cách lãi suất đầu ra, đầu vào thu hẹp lại do chi phí nguồn vốn



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Thực trạng hoạt động kinh doanh của Vietcombank.

Tải bản đầy đủ ngay(83 tr)

×