Tải bản đầy đủ - 87 (trang)
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Tải bản đầy đủ - 87trang

52

Từ kết quả trình bày phần trên, có thể kết luận rằng chính sách đào tạo nghề

cho lao động nông thôn theo quyết định số 1956 có tác động tích cực đến nhận thức

về học nghề, tạo việc làm và tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động

khu vực nông thôn. Đối với mô hình Logit đánh giá khả năng tham gia học nghề

của lao động nông thôn mà nghiên cứu này sử dụng cho thấy chỉ số LR chi2 (8) đạt

tới giá trị 146.88, và đây là chỉ số tương đối thích hợp, khẳng định tính chắc chắn

của mô hình. Hệ số tương quan đạt 0.5297, một lần nữa khẳng định rằng khoảng

53% các biến độc lập trong mô hình được giải thích từ hồi quy Logit, đồng thời tỷ

lệ dự đoán của mô hình là khá cao, đạt 88%, cho ta kết luận rằng mô hình quy tương

quan Logit sử dụng trong nghiên cứu là hoàn toàn hợp lý.

Tuy nhiên, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn có nhiều yếu tố

tác động khá phức tạp. Số lượng và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến các

hình thức chuyển dịch lao động nông thôn không giống nhau và phụ thuộc vào hai

yếu tố không gian và thời gian. Có 2 nhóm yếu tố chính tác động : i) Nhóm các yếu

tố liên quan đến đặc điểm cá nhân người chuyển dịch; ii) Nhóm yếu tố liên quan

đến đặc điểm của hộ gia đình người lao động.

Tác động của một số yếu tố chủ yếu nhất trong hai nhóm yếu tố, được tóm tắt

như sau: Trình độ giáo dục có ảnh hưởng đến khả năng chuyển dịch của lao động, ở

nghiên cứu này cho thấy chất lượng lao động nông thôn có tác động tương đối lớn

đến tốc độ chuyển dịch. Xu hướng chung là trình độ giáo dục của lao động càng cao

thì khả năng tham gia học nghề càng lớn. Giới tính của lao động có xu hướng tham

gia học nghề và chuyển đổi nghề nghiệp cao hơn nam giới, do đặc thù của chính

sách nên các nhóm nghề phi nông nghiệp được đào tạo phù hợp lao động nữ nên

xác suất nữ giới tham gia cao hơn nam giới. Tuổi của lao động chuyển dịch theo xu

hướng tuổi lao đông càng trẻ thì khả năng tham gia đào tạo nghề, tìm kiếm việc làm

và chuyển đổi nghề nghiệp càng cao hơn lao động lớn tuổi. Yếu tố đất đai cho thấy

hộ có nhiều đất nông nghiệp phần lớn là bám ruộng ít chuyển đổi nghề nghiệp và

người lại sức ép chuyển dịch lao động sang phi nông nghiệp tăng lên khi đất đai sản

xuất nông nghiệp quá hạn hẹp.



53

Trong trường hợp đất nông nghiệp là yếu tố ”đẩy” đối với quá trình chuyển

dịch lao động thì chính sách đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động

là một trong những giải pháp chủ yếu làm thay đổi cơ cấu lao động trong nội bộ

ngành nông nghiệp. Yếu tố thu nhập từ sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình và sự

chênh lệch về thu nhập giữa hoạt động sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp là

yếu tố tiếp theo ảnh hưởng đến khả năng chuyển dịch. Thu nhập nông nghiệp càng

cao thì khả năng chuyển dịch sang phi nông nghiệp càng giảm xuống và ngược lại.

Đây là một yếu tố ”kéo” cơ bản đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông

thôn.

Các chính sách về tiền lương, bảo hiểm xã hội và các lợi ích khác từ khu vực

phi nông nghiệp, thậm chí các chính sách thu hút khác từ thành thị cũng có ảnh

hưởng không nhỏ đến chuyển dịch lao động nông thôn. Vì vậy, tất cả các chính sách

nhà nước có tác động thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, các chính sách

khuyến khích đầu tư với tất cả các khu vực theo hình thức sở hữu, chính sách hỗ trợ

các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách thuế, chính sách tài chính v.v...đều có tác

động thúc đẩy chuyển dịch lao động nông thôn do làm tăng mức độ công nghiệp

hóa khu vực nông thôn gắn liền với tốc độ phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn cũng

là một yếu tố có tác động đến chuyển dịch lao động.

Tóm lại, đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956 là một

chủ trương đúng, nhằm thúc nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động khu vực

nông thôn. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện vẫn còn nhiều bất cập cần

điều chỉnh, nhất là những cơ chế chính sách, sự quan tâm của các ngành, các cấp ở

cơ sở, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị chưa thật sự quyết liệt. Cần có nhận

thức đúng về đào tạo nghề cho nông dân nông thôn, thật sự là điều kiện để nâng cao

chất lượng nguồn nhân lực, tăng năng suất lao động, tác phong lao động, kỹ năng

nghiệp để những người nông dân trở thành những người lao động nông nghiệp hiện

đại trong thời kỳ hội nhập.



54

5.2. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

 Hạn chế

Do đặc điểm của bộ số liệu điều tra giai đoạn 2010 – 2014 nên kết quả chỉ

phản ánh thông tin và ước lượng trong quá khứ, có nghĩa là ngay khi cả các ước

lượng được thực hiện một cách tốt nhất thì kết quả đó chỉ phản ánh được các yếu tố

ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn trong quá khứ. Các yếu tố có

thể xảy ra trong tương lai hoàn toàn chưa được dự báo. Ngoài ra, bài viết còn hạn

chế về khả năng nghiên cứu, đề tài chỉ tập trung đánh giá khả năng tham gia đào tạo

nghề có tác động đến việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động khu vực nông thôn,

trong đó tập trung phân tích đánh giá sâu quá trình chuyển đổi nghề nghiệp, việc

làm. Chưa đánh giá được tác động chính sách trước và sau học nghề và những tác

động tương tác bởi các yếu tố ”kéo” và ”đẩy” giữa hai khu vực nông nghiệp và phi

nông nghiệp, làm cho nội dung luận văn chưa mang lại nét nổi bậc trong đánh giá

chính sách đào tạo nghề. Nếu có điều kiện tiếp cận các phương pháp nghiên cứu

mới, tác giả sẽ tập trung phân tích tác động bởi chính sách một cách chi tiết, sâu sắc,

khoa học hơn.

Tiếp đó, là hạn chế của mô hình nghiên cứu khi mô hình sử dụng trong việc

phân tích tác động của các yếu tố đến xác suất quyết định tự tham gia của cá nhân.

Tác giả chỉ sử dụng duy nhất mô hình logit để đánh giá xác suất tác động của các

nhân tố. Một phần cũng do thời gian nghiên cứu có giới hạn, nhưng giới hạn về

trình độ nghiên cứu là hạn chế cơ bản, cụ thể trong quá trình sử lý số liệu và biến số

cho từng lĩnh vực nghiên cứu vẫn còn nhiều biến chưa được đưa vào mô hình để có

ước lượng bao quát.

Tuy nhiên, bài nghiên cứu đã giải thích được chiều hướng tác động của các

biến tới quyết định lựa chọn tham gia của mỗi cá nhân mà trong bài nghiên cứu

chúng tôi đã tập trung vào các nhóm nhân tố: Tuổi tác, thành viên, giới tính, trình

độ học vấn, đất đai, thu nhập mà vẫn làm rõ được các vấn đề cần nghiên cứu. Kết

quả phát hiện phù hợp với mục tiêu nghiên cứu cũng như phản ánh điều kiện thực tế

tại địa phương. Mặt khác, bộ số liệu (điều tra thị trường lao động giai đoạn 2010 –



55

2014) tại địa phương lần đầu tiên được tác giả sử dụng cho mục đích nghiên cứu về

chủ đề này. Trước đó, không có nhiều nghiên cứu về các yếu tố quyết định đến sự

lựa chọn tham gia học nghề, giải quyết việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp của lao

động nông thôn. Bài nghiên cứu này phần nào bổ xung những khiếm khuyết trước

đây.

 Hướng nghiên cứu tiếp theo

Để có được kết quả thuyết phục và có ý nghĩa hơn tác giả có đề xuất nên mở

rộng mô hình và phạm vi nghiên cứu bằng việc sử dụng kết hợp mô hình logit và

probit hay các phương pháp phân tích chuyên sâu để đánh giá tác động của các yếu

tố đến quyết định tham gia học nghề và chuyển dịch cơ cấu lao động hai khu vực

theo số liệu thống kê qua các năm. Đặc biệt là có so sánh giai đoạn trước đó sẽ thấy

được sự khác biệt giữa các nhân tố tác động này. Hơn nữa, trong mô hình mẫu được

giới hạn trong phạm vi nghiên cứu với những cá nhân tham gia học nghề ở địa bàn

12 xã. Chúng ta có thể mở rộng mẫu và thực hiện nghiên cứu trên phạm vi toàn

huyện. Để thấy được sự tác động khác biệt giữa các yếu tố. Các nhân tố này tác

động như thế nào tới việc quyết định tham gia của cá nhân. Sẽ rất tốt nếu có thể mở

một cuộc điều tra riêng phục vụ cho mục đích nghiên cứu về chủ để này.

5.3. Hàm ý chính sách

Theo quan điểm của người nghiên cứu, ý nghĩa thật sự của quá trình chuyển

dịch cơ cấu lao động không nên hiểu một cách cứng nhắc là phải nâng cao tỷ lệ lao

động tham gia vào lĩnh vực phi nông nghiệp, giảm bắt buộc tỷ trọng lao động trong

lĩnh vực nông nghiệp trong khoảng thời gian nhất định nào đó hoặc áp đặt chỉ tiêu

hành chính theo lộ trình hay nhiệm kỳ. Ở đây, dưới gốc độ nghiên cứu tác giả đưa

ra các khuyến nghị chính sách, giải pháp để thúc đẩy phát triển kinh tế, thuận lợi

cho việc chuyển dần lực lượng lao động nông nghiệp sang các hoạt động kinh tế phi

nông nghiệp ở khu vực nông thôn, để đảm bảo cho quá trình chuyển dịch một cách

hiệu quả, cân đối, hài hòa giữa hai khu vực một cách bền vững, người nghiên cứu

ngầm định đưa ra một số đề xuất như sau:



56

 Chuyển dịch cơ cấu lao động là hệ quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu

kinh tế nên cần thiết phải tăng cường các chính sách nhằm khuyến khích, thúc đẩy

chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là kinh tế khu vực nông thôn, để rút dần lực

lượng lao động dư thừa ra khỏi khu vực nông nghiệp sang hoạt động các lĩnh vực

phi nông nghiệp nhưng phải đảm bảo tính cân đối, hài hòa giữa hai khu vực. Không

nên dùng các biện pháp hành chính, phi kinh tế để chuyển dịch nhanh cơ cấu lao

động nông thôn.

 Giáo dục, định hướng nghề nghiệp cho học sinh ngay từ khi còn ngồi trên

ghế nhà trường. Đặc biệt là học sinh cấp tiểu học và trung học cơ sở. Từ đó, học

sinh có thể định hướng rõ cơ hội nghề nghiệp trang bị tốt kiến thức và kỹ năng cho

con đường lập nghiệp của mình. Cung cấp cho cá nhân thông tin về các yếu tố tác

động tới hành vi lựa chọn nghề nghiệp, từ đó cá nhân có thể định hướng tốt hơn

nghề nghiệp trong tương lai. Yếu tố giáo dục có ý nghĩa quyết định tốc độ chuyển

dịch cơ cấu lao động, vì vậy cần quan tâm ban hành chính sách ưu đãi, khuyến

khích học nghề, nâng cao trình độ học vấn, từng bước nâng cao chất lượng nguồn

nhân lực nông thôn, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu lao động hợp lý, chú trọng

phát triển các làng nghề truyền thống, nghề tiểu thủ công nghiệp thu hút nhiều lao

động nông thôn tham gia.

 Do tác động của yếu tố tuổi của lao động và vấn đề giới tính trong chuyển

dịch cơ cấu lao động lao đông nông thôn, cần thiết kế các chính sách trợ giúp đối

với lao động trẻ và lao động nữ ở khu vực nông thôn như các vấn đề về văn hóa,

vấn đề cân bằng về giới. Mặc dù, đây là chính sách xã hội nhưng lại đảm bảo tính

bền vững cho chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông thôn theo giới gắn với mở rộng

hoạt động dịch vụ phục vụ nông nghiệp cũng sẽ giúp cho quá trình chuyển dịch cơ

cấu lao động nông thôn được thúc đẩy.

 Với ý nghĩa tác động quan trọng của cơ sở hạ tầng của địa phương ảnh

hưởng đến khả năng và tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động, cần có các chính sách

tăng cường việc nâng cấp và hoàn thiện hệ thống hạ tầng cơ cở nông thôn trên cơ sở

quy hoạch hợp lý sẽ thúc đẩy quá trình trao đổi, vận chuyển hàng hóa, dịch vụ khu



57

vực nông thôn phát triển nhanh, giảm dần khoảng cách, tạo sự liên kết chặt chẽ gữa

khu vực thành thị và nông thôn.

 Cũng do tác động của yếu tố công nghiệp hóa và đô thị hóa đến chuyển dịch

cơ cấu lao động nông thôn, những nông dân sống trong vùng bị giải tỏa buộc phải

chuyên đổi nghề nghiệp với đa phần sang khu vực phi nông nghiệp. Phần lớn,

những nông dân này thường chưa chuẩn bị sẵn sàng cho quá trình chuyển dịch này,

nếu không có chính sách sinh kế hợp lý về đền bù, về hỗ trợ chuyển đổi nghề

nghiệp, tiếp cận vốn vay cho những hộ không còn đất sản xuất...v.v.sẽ gây cho họ

cú sốc lớn về tâm lý.

 Để tốc độ chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi

nông nghiệp nhanh hơn, cần xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý, tạo cơ hội bình

đẳng giữa người lao động, đặc biệt là lao động nông thôn, cần xây dựng hệ thống

thông tin thị trường lao động một cách có hẹ thống, có qui định cụ thể hơn về tính

minh bạch và công khai hóa qui trình tuyển dụng lao động trong các cơ quan, doanh

nghiệp ở cả thành thị và nông thôn.

 Mặc dù có sự chủ động của các cấp chính quyền địa phương tác động tích

cực đến chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, nhưng không nên xem chuyển dịch

cơ cấu nông thôn là một tiêu chí đánh giá năng lực hoạt động của các cấp chính

quyền hay một mục tiêu cứng nhắc cần thiết phải đạt được trong một thời gian nhất

định do bản thân các yếu tố tác động đến quá trình này còn phụ thuộc vào rất nhiều

yếu tố khác như đã phân tích. Tuy nhiên, chính quyền địa phương có thể ban hành

các chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho lao động có thể dễ dàng chuyển dịch,

chuyển đổi ngành nghề ngay trong địa phương hoặc chuyển đi làm việc ở các địa

phương khác, có các chính sách bình đẳng giữa lao động địa phương và lao động

nhập cư.



58

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tài liệu tiếng Anh

J. Harris và M. Todaro, "Di dân, thất nghiệp và phát triển: phân tích hai khu

vực", American Economic Review, 1970.

Becker, S. Gary (1993), Human Cappital: A theoretical and Empirical

Analysis, With Specical Reference to Education, The University of Chicago Press.

(Becker, 1967; Freeman, 1986). The private internal rates of return to tertiary

education: new estimates for 21 OECD countries.

Mincer, Jacob, Schooling Experience and Earning, Columbia University

Press, 1974.

Borjas, George, Labor Economics, McGraw-Hill, Third Edition, 2005.

Reardon,T. (1997). Using Evidence of Household Income Diversification to

Inform Study of Rural Nonfarm Labour Market in Africa, World Development.

Madalla,G.S.(1983). Limited Dependent and Quantitative Variable in

Econometrics. Cambridge, Mass: Cambridge University Press

Green report, (1994), Annual report on economic development of rural China

in 1993 and the development trends 1994). NXB Khoa học Xã hội Trung Quốc

1994.

Gao Shang và Chi Fulin, (1997), đổi mới và phát triển kinh tế nông thôn

Trung Quốc (Reform and Development of China’s Rural Economy), NXB Ngoại

văn, Bắc Kinh, 1997.

Fauza Ab. Rahman (2005), Phát triển nông nghiệp Malaysia. Bài giảng khóa

tập huấn về kinh tế chính trị quốc tế cho viên chức các nước Việt Nam, Lào, Campu-chia, Myanma lần thứ 3 (Malaysia Agricultural Development. Training

programme on Internatinal politics anh economics for CLMV public officials III).

Kualar-Lumpur, 2005.



59

Hary T.Oshima (1989), Tăng trưởng kinh tế ở các nước Châu Á gió mùa, Viện

nghiên cứu Châu Á – Thái Bình Dương Hà Nội.

2. Tài liệu tiếng Việt

Lê Xuân Bá và các cộng sự, Báo cáo nghiên cứu các yếu tố tác động đến quá

trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn Việt Nam, 2006.

Bùi Quang Bình, Vốn con người và đầu tư vào vốn con người, 2009.

Nguyễn Bá Ngọc (2008) “Đầu tư vào vốn con người và vấn đề thu nhập – việc

làm” Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 359 – tháng 4/2008

Trần Quỳnh (2013) “Cần nâng cao hiệu quả đào tạo nghề trong chuyển dịch

cơcấulaođộng”.http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=

28340744&cn_id=625482

Thái Phúc Thành (2009) “Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động: Một số giải

pháp mang tính đột phá đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn”

http://khucongnghiep.com.vn/nghiencuu/tabid/69/articleType/ArticleView/articleId/

413/Default.aspx

Nguyễn Thúy Hà (2013) “Chính sách việc làm: Thực trạng và giải pháp”

http://vnclp.gov.vn/ct/cms/tintuc/Lists/ChinhSach/View_Detail.aspx?ItemID=178

http://quantri.vn/dict/details/7829-khai-niem-dao-tao-va-phat-trien-nguonnhan-luc (cập nhật lúc 21 h, ngày 16/4/2015).

https://www.google.com.vn/?gws_rd=ssl#q=nghien+cuu+ve+chuyen+dich+c

o+cau+lao+dong (Cập nhật lúc 22 giờ, ngày 15/5/2015).

Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương ( 2005),

https://www.google.com.vn/?gws_rd=ssl#q=cac+nghien+cuu+ve+chuyen+dich+c

o+cau+lao+dong (cập nhật lúc 15 giờ 51 phúc, ngày 13/6/2015)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Tải bản đầy đủ ngay(87 tr)

×