Tải bản đầy đủ - 106 (trang)
c) Trừu tượng hóa và khái quát hóa

c) Trừu tượng hóa và khái quát hóa

Tải bản đầy đủ - 106trang

Trừu tượng hóa là dùng trí óc gạt khỏi đối tượng những bộ phận, thuộc

tính, quan hệ... không cần thiết và chỉ giữ lại những yếu tố nào cần thiết để

tư duy.

Khái quát hóa là dùng trí óc để hợp nhất nhiều sự vật, hiện tượng khác

nhau nhưng có cùng những thuộc tính bản chất thành một nhóm mà nhóm này

tạo nên một khái niệm nào đó.

Trừu tượng hóa và khái quát hóa là hai thao tác cơ bản, đặc trưng của tư

duy, chúng có quan hệ mật thiết, bổ sung cho nhau tương tự như thao tác phân

tích, tổng hợp.

d) Cụ thể hóa

Là sự vận dụng những khái niệm, định luật hoặc quy tắc khái quát, trừu

tượng đã lĩnh hội được vào hoạt động thực tiễn nhằm giải quyết những nhiệm

vụ nào đó.

Vậy, quá trình tư duy thực chất là một quá trình tiến hành các thao tác tư

duy để giải quyết một vấn đề nào đó nhưng không phải bất cứ quá tình tư duy

nào cũng diễn ra tất cả các thao tác tư duy mà tùy thuộc vào từng nhiệm vụ cụ

thể. Nhờ có đặc điểm này của tư duy mà con người có thể nhìn xa vào tương

lai, không những giải quyết được những nhiệm vụ hiện tại mà cả những

nhiệm vụ mai sau của con người.

1.1.2. Tư duy sáng tạo

1.1.2.1. Khái niệm sáng tạo

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết

mới không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có” [23, tr 1130].

Theo Bách khoa toàn thư Xô-Viết: “Sáng tạo là hoạt động của con người

trên cơ sở các quy luật khách quan của thực tiễn, nhằm biến đổi thế giới tự

nhiên, xã hội phù hợp với mục đích và nhu cầu của con người. Sáng tạo là

hoạt động có tính đặc trưng không lặp lại, tính độc đáo và duy nhất”.

16



Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Sáng tạo là sự vận động của tư

duy từ những hiểu biết đã có đến những hiểu biết mới” [28, tr 17].

Như vậy sáng tạo được xem là hoạt động tạo ra sự thay đổi, sự thay

đổi này không hẳn là đột phá mà đơn thuần là sự thay đổi, thêm bớt trên

nền tảng cái cũ.

Trong Toán học, PGS.TS Trần Thúc Trình cho rằng: “Đối với người học

Toán, có thể quan niệm sự sáng tạo đối với họ, nếu họ đương đầu với những vấn

đề đó để tự mình thu nhận được cái mới mà họ chưa từng biết”[30]. Như vậy,

một bài tập cũng có thể xem như một yếu tố sáng tạo nếu người học tìm ra cách

giải quyết mới dựa trên nền tảng những hiểu biết và cách giải quyết cũ trước đó.

1.1.2.2. Khái niệm tư duy sáng tạo

Theo quan niệm của Tâm lý học: “Tư duy sáng tạo là tư duy vượt ra

ngoài phạm vi giới hạn của hiện thực, của vốn kinh nghiệm và tri thức đã có,

giúp quá trình giải quyết nhiệm vụ của tư duy được linh hoạt và hiệu quả”

[10].

Theo tác giả Tôn Thân: “Tư duy sáng tạo là một dạng tư duy độc lập tạo

ra ý tưởng mới, độc đáo và có hiệu quả giải quyết vấn đề cao”. Cũng theo tác

giả: “Tư duy sáng tạo là tư duy độc lập và nó không bị gò bó phụ thuộc vào

cái đã có. Tính độc lập của nó bộc lộ vừa trong việc đặt mục đích, vừa trong

việc tìm giải pháp. Mỗi sản phẩm của tư duy sáng tạo đều mang rất đậm các

dấu ấn của mỗi cá nhân đã tạo ra nó” [27].

Theo tác giả Vũ Dũng: “Tư duy sáng tạo là một kiểu tư duy, đặc trưng

bởi sự sản sinh ra sản phẩm mới và xác lập các thành phần mới của hoạt động

nhận thức nhằm tạo ra nó. Các thành phần mới này có liên quan đến động cơ,

mục đích, đánh giá, các ý tưởng của chủ thể sáng tạo. Tư duy sáng tạo được

phân biệt với áp dụng các tri thức và kĩ năng sẵn có” [2].



17



Như vậy có thể hiểu tư duy sáng tạo là hình thức tư duy của cá nhân

nhằm tạo ra cái mới, độc đáo mà trước đó chưa có.

Trong bộ môn Toán, theo tác giả G.Polya: “Một tư duy gọi là có hiệu quả

nếu tư duy đó dẫn đến lời giải một bài toán cụ thể nào đó. Có thể coi là sáng

tạo nếu tư duy đó tạo ra những tư liệu, phương tiện giải các bài toán khác.

Các bài toán vận dụng những tư liệu, phương tiện này có số lượng càng lớn,

có dạng muôn màu, muôn vẻ thì mức độ sáng tạo của tư duy càng cao” [6].

Vì vậy, trong quá trình giải toán, tư duy sáng tạo của học sinh được biểu

hiện ở chỗ học sinh tự khám phá, tự tìm tòi cách giải quyết để đưa ra những

phương án mới lạ, độc đáo, khả thi mặc dù trước đó học sinh chưa biết đến

bài toán hoặc đã biết nhưng làm theo phương thức khác.

1.1.2.3. Đặc trưng cơ bản của tư duy sáng tạo

Theo nghiên cứu của các nhà tâm lý học, giáo dục học và các nhà khoa

học giáo dục từ trước tới nay, nói tới cấu trúc của tư duy sáng tạo thì có năm

đặc trưng cơ bản sau đây: Tính mềm dẻo, tính nhuần nhuyễn, tính độc đáo,

tính hoàn thiện và tính nhạy cảm vấn đề. Trong các yếu tố trên, ba yếu tố đầu

tiên (tính mềm dẻo, tính nhuần nhuyễn, tính độc đáo) là ba yếu tố quan trọng

và được sự nhất trí cao trong các công trình nghiên cứu về cấu trúc của tư duy

sáng tạo.

a) Tính mềm dẻo

Tính mềm dẻo của tư duy sáng tạo là năng lực thay đổi dễ dàng, nhanh

chóng các trật tự của hệ thống tri thức, chuyển từ góc độ quan hệ này sang

góc độ quan hệ khác, có khả năng định nghĩa lại sự vật, hiện tượng, xây dựng

phương pháp tư duy mới, tạo ra những đối tượng mới trong những mối liên hệ

mới hoặc chuyển đổi quan hệ và nhận ra bản chất của đối tượng và điều phán

đoán. Tính mềm dẻo của tư duy còn làm thay đổi một cách dễ dàng các thái

độ đã cố hữu trong hoạt động trí tuệ của con người.

18



Tính mềm dẻo của tư duy sáng tạo có các đặc trưng sau:

- Dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác;

vận dụng linh hoạt các thao tác: Phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa,

khái quát hóa, cụ thể hóa và các phương pháp suy luận như: Quy nạp, suy

diễn, tương tự; dễ dàng chuyển từ giải pháp này sang giải pháp khác, điều

chỉnh dễ dàng suy nghĩ nếu gặp trở ngại.

- Suy nghĩ không rập khuôn, không áp dụng một cách máy móc những

kinh nghiệm, những kiến thức, kỹ năng đã có vào hoàn cảnh mới trong đó có

nhiều yếu tố đã thay đổi; có khả năng thoát khỏi ảnh hưởng kìm hãm của

những kinh nghiệm, những cách suy nghĩ, những phương pháp đã có từ trước.

- Nhận ra những vấn đề mới trong điều kiện quen thuộc, nhìn thấy chức

năng mới của đối tượng quen biết.

Như vậy tính mềm dẻo là một trong những đặc trưng cơ bản của tư duy

sáng tạo. Trong quá trình giảng dạy bộ môn Toán, việc đưa ra hệ thống các

bài tập cho học sinh cũng giúp các em có khả năng rèn luyện được tính mềm

dẻo thông qua các thao tác tư duy của bản thân.

b) Tính nhuần nhuyễn

Tính nhuần nhuyễn của tư duy sáng tạo là năng lực tạo ra một cách

nhanh chóng sự tổ hợp giữa các yếu tốriêng lẻ của tình huống, hoàn cảnh, đưa

ra giả thuyết mới và ý tưởng mới. Tính nhuần nhuyễn được đặc trưng bởi khả

năng tạo ra một số lượng nhất định các ý tưởng trong một đơn vị thời gian. Số

ý tưởng nghĩ ra càng nhiều thì có nhiều khả năng xuất hiện ý tưởng độc đáo.

Trong trường hợp này có thể nói số lượng làm nảy sinh chất lượng - một quy

luật của duy vật biện chứng.

Tính nhuần nhuyễn của tư duy sáng tạo có các đặc trưng sau:

- Có tính đa dạng của cách xử lý khi giải toán, khả năng tìm được nhiều

giải pháp trên nhiều góc độ và tình huống khác nhau. Đứng trước một vấn đề

19



cần giải quyết, người có tư duy nhuần nhuyễn nhanh chóng tìm ra và đề xuất

được nhiều phương án khác nhau, từ đó tìm ra được phương án tối ưu.

- Có khả năng xem xét đối tượng dưới nhiều khía cạnh khác nhau, có cái

nhìn sinh động từ nhiều phía đối với sự vật, hiện tượng chứ không phải cái

nhìn bất biến, phiến diện, cứng nhắc.

c) Tính độc đáo

Tính độc đáo của tư duy sáng tạo là khả năngtự mình phát hiện vấn đề, tự

phát hiện phương hướng và tìm ra cách giải quyết vấn đề bằng phương pháp

lạ hoặc duy nhất.

Những đặc trưng của tính độc đáo là:

- Khả năng tìm ra những liên tưởng và những kết hợp mới.

- Khả năng tìm ra những mối liên hệ trong những sự kiện mà bên ngoài

tưởng như không có liên hệ với nhau.

- Khả năng tìm ra những giải pháp lạ mặc dù đã biết những giải pháp khác.

Tính độc đáo trong tư duy sáng tạo của học sinh có thể được phát hiện ở lời

giải của các em trong quá trình các em giải bài tập; trên cơ sở tập hợp nhiều

lời giải của bài toán, học sinh tìm ra lời giải mới hay nhất, ngắn gọn và dễ

hiểu nhất.

d) Tính hoàn thiện

Tính hoàn thiện của tư duy sáng tạo là khả năng lập kế hoạch, phối hợp

các ý nghĩ và hành động, phát triển ý tưởng, kiểm tra và chứng minh ý tưởng.

e) Tính nhạy cảm vấn đề

Tính nhạy cảm vấn đề trong tư duy sáng tạo là năng lực phát hiện ravấn

đề, sự mâu thuẫn, sai lầm, thiếu logic, chưa tối ưu...từ đó đưa ra hướng giải

quyết, tạo ra cái mới.

Tính nhạy cảm vấn đề có những đặc trưng sau:

- Khả năng nhanh chóng phát hiện vấn đề.

20



- Khả năng phát hiện ra sự mâu thuẫn, sai lầm, thiếu logic... từ đócó nhu

cầu đề xuất hướng giải quyết, đưa ra cái mới.

Các yếu tố cơ bản nói trên của tư duy sáng tạo không tách rời nhau mà

có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau. Khả năng dễ dàng

chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác (tính mềm dẻo)

tạo điều kiện cho việc tìm được nhiều giải pháp trên nhiều góc độ và tình

huống khác nhau (tính nhuần nhuyễn), nhờ đó đề xuất được nhiều phương án

khác nhau để tìm được những phương án tối ưu có giải pháp lạ, đặc sắc (tính

độc đáo). Các yếu tố này có quan hệ chặt chẽ với các yếu tố khác như: Tính

hoàn thiện, tính nhạy cảm vấn đề... Góp phần tạo nên tư duy sáng tạo, một

trong những hoạt động trí tuệ bậc nhất của con người.

Trong quá trình học tập môn Toán ở trường phổ thông, các yếu tố cơ bản

của tư duy sáng tạo thường được biểu hiện rõ nét ở các em học sinh khá giỏi

qua khả năng di chuyển nhanh chóng các hoạt động trí tuệ, sử dụng linh hoạt các

thao tác tư duy nhất là tư duy thuận nghịch, có hứng thú tìm hiểu nhiều cách giải

khác nhau của một bài toán, từ đó rút ra cách giải ngắn nhất, hay nhất.

1.1.2.4. Mối liên hệ giữa tư duy sáng tạo với một số loại hình tư duy

khác

a) Với tư duy biện chứng

Trong tư duy biện chứng, khi xem xét sự vật phải xem xét một cách đầy

đủ với tất cả tính phức tạp của nó, tức là phải xem xét sự vật trong tất cả các

mặt, các mối quan hệ trong tổng thể những mối quan hệ phong phú, phức tạp

và muôn vẻ của nó với sự vật khác. Đây là cơ sở để học sinh học toán một

cách sáng tạo, không gò bó, rập khuôn, đi theo con đường mòn đã có sẵn. Bên

cạnh đó chúng ta còn phải xem xét sự vật trong sự mâu thuẫn và thống nhất,

giúp học sinh học toán một cách chủ động và sáng tạo, thể hiện ở khả năng

phát hiện vấn đề và định hướng cho cách giải quyết vấn đề. Do đó, tư duy

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

c) Trừu tượng hóa và khái quát hóa

Tải bản đầy đủ ngay(106 tr)

×