Tải bản đầy đủ - 67 (trang)
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG 79

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG 79

Tải bản đầy đủ - 67trang

đồng quan trọng. Đó là những ghi nhận bước đầu về 1 phương hướng hoạt

động kinh doanh hợp lý của Công ty. Tuy vậy Công ty còn nhiều hạn chế

do là một doanh nghiệp nhà nước trước đây chủ yếu thực hiện các công

trình do Tổng Công ty giao va trực tiếp quản lý tất cả các khâu, thực hiện

theo kế hoạch đã đề sẵn không có tính năng động, sáng tạo, cơ chế giao lưu

vốn vẫn còn chịu sức ép nặng nề của các mệnh lệnh hành chính và chỉ tiêu,

làm mất đi quyền tự chủ về tài chính của doanh nghiệp.

Đối với công ty cổ phần xây dựng 79, nguồn vốn kinh doanh được

hình thành chủ yếu từ vốn ngân sách nhà nước, vốn tự bổ xung và vốn vay

qua hệ thống ngân hàng, còn vốn huy động từ các nguồn khác như huy

động cán bộ cộng nhân viên đóng góp, các khoản tiền nhàn rỗi trong và

ngoài doanh nghiệp thì còn rất ít và không đáng kể. Với thị trường vốn

thiếu hụt như hiện nay nó đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiêu quả hoạt động

tài chính của công ty khi xác định một cơ cấu vốn tối ưu và lựa chọn nguồn

tài chính thích hợp.

Việc cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước đã biến tài sản trong doanh

nghiệp trở thành sở hữu hỗn hợp của nhiều chủ thể, trong đó bao gồm sở hữu

Nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu của nhiều cá nhân. trên cơ sở chế độ góp

vốn như vậy, đòi hỏi tổ chức bộ máy quản lý của Công ty phải được thiết kế

một cách tối ưu nhất để bảo toàn và phát triển nguồn vốn này.

2. Cơ cấu bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Xây dựng 79



22



MÔ HÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY ĐƯỢC TỔ CHỨC

THEO SƠ ĐỒ SAU:



Ban giám đốc

Ban quản lý dự án

(Đ/D chủ đầu tư)



Cán bộ giám sát

của ban QLDA

Chỉ huy trưởng công

trường



Phòng Tài chính

– Kế toán



Đội xây dựng

số 1,2…



Kỹ sư trưởng công

trường



Phòng kỹ thuật và

quản lý công trình



Đội thi công

cơ giới



Đội cung ứng

vật tư



* Giám đốc công ty hoặc phó giám đốc công ty phụ trách XDCB:

- Bổ nhiệm các chức danh Ban chỉ huy công trường

- Chỉ đạo các Chỉ huy trưởng công trường

* Phòng kỹ thuật và quản lý công trình: Thực hiện và triển khai

các chức năng nhiệm vụ:

- Tổ chức theo dõi, giám sát công trường.

- Báo cáo giám đốc phụ trách về: Tiến độ, chất lượng và các vấn đề

liên quan công trình.

- Quản lý thống kê các dữ liệu công trình (hồ sơ kỹ thuật,

kinh tế).

- Cùng với Ban chỉ huy công trường làm thủ tục nghiệm thu bàn

giao công trình.

23



- Theo dõi các chế độ lao động, khen thưởng, kỷ luật và an toàn lao

động công trường.

* Phòng tài chính - kế toán

- Báo cáo Giám đốc phụ trách kế hoạch vốn cho công trường.

- Kiểm tra quản lý các chứng từ thanh toán công trình.

- Làm thủ tục đăng ký thuế của công trường với chi cục thuế tại địa

phận thi công.

- Thanh quyết toán công trình đã được nghiệm thu bàn giao.

* Ban chỉ huy công trường

Chỉ huy trưởng công trường:

- Báo cáo Giám đốc quản lý, các phòng chức năng về :

+ Tiến độ thi công.

+ Biện pháp thi công.

+ Tổ chức nhân sự, lao động .

+ Kế hoạch vốn thi công.

- Làm việc, quan hệ với Chủ đầu tư và các cơ quan liên quan đến

công trình .

- Chịu trách nhiệm và giải quyết các vấn đề liên quan đến công trình

ngay cả khi công trình đã hoàn thành như:

+ Bảo hành.

+ Thanh quyết toán.

+ Thanh tra, kiểm tra của các cơ quan có thẩm quyền.

* Các đội thi công

- Các đội thi công trực thuộc ban chỉ huy công trường chịu sự quản

lý, giám sát trực tiếp của Ban chỉ huy.

* Bộ máy kế toán của Công ty Cổ phần xây dựng 79



24



BỘ MÁY KẾ TOÁN CỦA CÔNG TY



Kế toán trưởng



Tài vụ



Chế độ

chính

sách



Thanh

toán và

vốn



Kế toán



Kế

toán

TSCĐ

và vật





Thủ

quỹ



Kế

K. toán

toán

tập hợp

các

CPSX và

khoản tính giá

T.toán

thành



Kế

toán

tổng

hợp



- Bộ phận tài vụ: Thực hiện chức năng duyệt chi tiêu, xem xét các

chế độ chính sách được thực hiện tại các đơn vị, lo tiền vốn đảm bảo cho

quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, lập các báo cáo, kế hoạch

về tài chính và thực hiện các chế độ đối với ngân sách nhà nước, cấp trên,

với người lao động, người mua, người bán, ngân hàng và các cơ quan hữu

quan khác, tham gia và giup đỡ giám đốc công ty trong khâu quản lý và

chấp hành pháp luật, kinh doanh sao cho có lãi.

- Bộ phận kế toán: Là bộ phận theo dõi ghi chép phản ánh mọi hoạt

động sản xuát kinh doanh bằng tiền thông qua sổ sách kế toán từ khâu dự

trữ, sản xuất, thanh toán, tieu thụ và kết quả. Qua đó để căn cứ so sánh với

mục tieu đề ra với năm trước…Qua những số liệu kế toán đó mà ban giam

đốc nắm được tình hình tại các khâu ra sao để có biện pháp phù hợp nhằm

kinh doanh tót hơn.

Bộ phận này cũng là bộ phận quản lý tài sản tiền vốn của đơn vị,

thông qua công tác ghi chép, số liệu từ bộ phận này là căn cứ để trích nộp



25



cho ngân sách nhà nước cấp trên và chấp hành các chỉ tiêu trong quá trình

sản xuất kinh doanh của đơn vị thông qua báo cáo niên độ hàng năm.

II- ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT CỦA NGÀNH XÂY DỰNG



1. Những đặc điểm của ngành xây dựng

1.1. Khái quát về sản phẩm của ngành xây dựng

Sản phẩm của ngành xây dựng với tư cách là công trình xây dựng đã

hoàn chỉnh theo nghĩa rộng là tổng hợp và kết tinh sản phẩm cuả nhiều

ngành sản xuất như các ngành chế tạo máy, ngành công nghiệp vật liệu xây

dựng, ngành năng lượng, hoá chất, luyện kim… và lẽ dĩ nhiên là của ngành

xây dựng, ngành đóng vai trò tổ chức cấu tạo công trình ở khâu cuối cùng

để đưa chúng vào hoạt động.

Sản phẩm trực tiếp của ngành công nghiệp xây dựng chỉ bao gồm

các công việc kiến tạo các kết cấu xây dựng làm chức năng bao che và

nâng đỡ các công việc lắp đặt các thiết bị, máy móc cần thiết vào công

trình xây dựng để đưa chúng vào hoạt động.

Vì các sản phẩm công trình xây dựng thường rất lớn và phải xây

dựng trong nhiều năm, nên để phù hợp với yêu cầu của công việc thanh

quyết toán về tài chính, cần phân biệt sản phẩm trung gian với sản phẩm

cuối cùng của xây dựng. sản phẩm trung gian có thể là các công việc xây

dựng, các giai đoạn và đợt xây dựng đã hoàn thành và bàn giao. sản phẩm

cuối cùng ở đây là công trình hay hạng mục công trình xây dựng hoàn

chỉnh có thể bàn giao đưa vào sử dụng.

Công trình xây dựng bao gồm một hay nhiều hạng mục công trình

nằm trong dây chuyền công nghệ đồng bộ và hoàn chỉnh để làm ra sản

phẩm cuối cùng được nêu ra trong bản luận chứng kinh tế - kỹ thuật, liên

hợp công trình xây dựng bao gồm nhiều công trình xây dựng tập trung tại

một địa điểm hay một khu vực, hình thành các giai đoạn sản xuất rõ rệt và

có liên quan hữu cơ với nhau về mặt công nghệ sản xuất, để làm ra sản

phẩm cuối cùng.

26



1.2. Các đặc điểm của sản phẩm xây dựng

Đặc điểm của sản phẩm xây dựng có ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức

sản xuất và quản lý sử dụng vốn của doanh nghiệp. Sản phẩm xây dựng với

tư cách là một công trình xây dựng hoàn chỉnh thường có các tính chất sau:

Sản phẩm của xây dựng là những công trình nhà cửa được xây dựng

và sử dụng tại chỗ, đứng cố định tại địa điểm xây dựng và phân bố tản mạn

ở nhiều nơi trên lãnh thổ. Đặc điểm này làm cho sản xuất xây dựng có tính

chất lưu động cao và thiếu ổn định.

Sản phẩm xây dựng phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện địa phương,

mang nhiều tính đa dạng và cá biệt cao về công dụng, về cách cấu tạo và

phương pháp chế tạo.

Sản phẩm xây dựng có kích thước lớn, chi phí lớn, thời gian xây

dựng và sử dụng lâu dài. Do đó, những sai lầm về xây dựng có thể gây nên

lãng phí lớn, tồn tại lâu dài và khó sửa chữa. Sản phẩm xây dựng chủ yếu

đóng vai trò nâng đỡ và bao che, không tác động trực tiếp lên đối tượng lao

động trong quá trình sản xuất (trừ một số loại công trình đặc biệt như

đường ống, công trình thuỷ lực, lò luyện gang thép…).

Sản phẩm xây dựng có liên quan đến nhiều ngành cả về phương diện

cung cấp nguyên vật liệu cả về phương diện sử dụng sản phẩm của ngành

xây dựng làm ra. Sản phẩm xây dựng mang tính chất tổng hợp về kỹ thuật,

kinh tế, xã hội, văn hoá, nghệ thuật và quốc phòng.

2. Những đặc điểm của sản xuất trong xây dựng

Từ những đặc điểm của sản phẩm xây dựng có thể thấy được đặc

điểm của sản xuất trong xây dựng như sau:

Thứ nhất, tình hình và điều kiện sản xuất trong xây dựng thiếu tính

ổn định, luôn biến đổi theo địa điểm xây dựng và giai đoạn xây dựng. Cụ

thể là trong xây dựng, con người và công cụ lao động luôn luôn phải di

chuyển từ công trường này đến công trường khác, còn sản phẩm xây dựng

(tức là công trình xây dựng) thì hình thành và đứng yên tại chỗ, một đặc

27



điểm hiếm thấy ở các ngành khác. Các phương án xây dựng về mặt kỹ

thuật và tổ chức sản xuất cũng luôn luôn phải thay đổi theo từng địa điểm

và giai đoạn xây dựng. Đặc điểm này gây ra những khó khăn cho việc tổ

chức sản xuất, khó cải thiện điều kiện cho người lao động, làm nảy sinh

nhiều chi phí cho khâu di chuyển lực lượng sản xuất và cho công trình tạm

phục vụ sản xuất. Đặc điểm này cũng đòi hỏi các tổ chức xây dựng phải

chú ý tăng cường tính cơ động, linh hoạt và gọn nhẹ về mặt trang bị tài sản

cố định sản xuất, lựa chọn các hình thức tổ chức sản xuất linh hoạt, tăng

cường điều hành tác nghiệp, phấn đấu giảm chi phí liên quan đến vận

chuyển, lựa chọn vùng hoạt động thích hợp, lợi dụng tối đa lực lượng xây

dựng tại chỗ và liên kết tại chỗ để tranh thầu xây dựng, chú ý đến nhân tố

chi phí vận chuyển khi lập giá tranh thầu. Đặc điểm này cũng đòi hỏi phải

phát triển rộng khắp trên lãnh thổ, các loại hình dịch vụ sản xuất phục vụ

xây dựng, như các dịch vụ cho thuê máy xây dựng, cung ứng và vận tải,

sản xuất vật liệu xây dựng…

Thứ hai, chu kỳ sản xuất (thời gian xây dựng công trình) thường dài.

Đặc điểm này làm cho vốn đầu tư xây dựng công trình và vốn sản xuất của

tổ chức xây dựng thường bị ứ đọng lâu tại công trình đang còn xây dựng,

các tổ chức xây dựng dễ gặp phải các rủi ro ngẫu nhiên theo thời gian, công

trình xây dựng xong dễ bị hao mòn vô hình, do tiến bộ của khoa học và

công nghệ, nếu thời gian xây dựng quá dài. Đặc điểm này đòi hỏi các tổ

chức xây dựng phải chú ý đến nhân tố thời gian khi lựa chọn phương án,

phải lựa chọn phương án có thời gian hợp lý, phải có chế độ thanh toán và

kiểm tra chất lượng trung gian thích hợp, dự trữ hợp lý…

Thứ ba, sản xuất xây dựng phải tiến hành theo đơn đặt hàng cho từng

trường hợp cụ thể, vì sản xuất xây dựng rất đa dạng, có tính cá biệt cao và

chi phí lớn.

Sản phẩm xây dựng được sản xuất ra theo những yêu cầu về giá trị

sử dụng, chất lượng đã định trước của người giao thầu. Do đó tiêu thụ sản

28



phẩm xây dựng tức là bàn giao công trình đã hoàn thành cho đơn vị giao

thầu và thu tiền về. Việc tiêu thụ sản phẩm chịu ảnh hưởng khách quan của

chế độ thanh toán như có thể áp dụng phương thức thanh toán theo hạng

mục công trình và khối lượng hoàn thành theo giai đoạn quy ước hoặc

thanh toán theo đơn vị hạng mục công trình đã hoàn thành. Do đó doanh

thu cũng phụ thuộc vào thời gian và tiến độ hoàn thành công việc. Mặt

khác, khi thi công các công trình, công ty phải bỏ ra một lượng vốn ban đầu

khá lớn nhưng khi công trình hoàn thành thì thường bên A (khách hàng)

không trả hết ngay mà sau một thời gian mới thu đủ thậm chí việc thu cũng

rất khó khăn qua nhiều khâu thủ tục. Vì vậy, nó đã làm cho vòng quay của

vốn chậm và gây không ít rủi ro cho công ty xây dựng. Do đặc điểm đòi

hỏi các tổ chức xây dựng phải có nhiều kinh nghiệm cho các trường hợp

xây dựng cụ thể và phải tính toán cẩn thận khi nhận thầu.

Thứ tư, quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp, các đơn vị tham gia

xây dựng công trình phải cùng nhau kéo đến hiện trường thi công với một

diện tích có hạn để thực hiện phần việc của mình, theo một trình tự nhất

định về thời gian và không gian. Đặc điểm này đòi hỏi các tổ chức xây

dựng phải có trình độ tổ chức phối hợp cao trong sản xuất, coi trọng công

tác chuẩn bị xây dựng và thiết kế tổ chức thi công, phối hợp chặt chẽ giữa

tổ chức xây dựng tổng thầu, hay thầu chính và các tổ chức thầu phụ.

Thứ năm, sản xuất xây dựng phải tiến hành ngoài trời nên phải chịu

nhiều ảnh hưởng của thời tiết, điều kiện làm việc nặng nhọc, ảnh hưởng

của thời tiết làm gián đoạn quá trình thi công, năng lực sản xuất của tổ chức

xây dựng không được sử dụng điều hoà theo bốn quý, gây khó khăn cho

việc lựa chọn cho trình tự thi công, đòi hỏi dự trữ vật tư nhiều hơn ảnh

hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp ... đặc điểm này đòi hỏi

các tổ chức xây dựng phải lập tiến độ thi công hợp lý để tránh thời tiết xấu,

phấn đấu tìm cách hoạt động trong năm, áp dụng kết cấu lắp ghép làm sẵn

trong xưởng một cách hợp lý để giảm bớt thời gian thi công tại hiện trường

29



áp dụng cơ giới hoá hợp lý, chú ý độ bền chắc của máy móc, đặc biệt quan

tâm đến việc cải thiện điều kiện làm việc của công nhân, chú ý đến nhân tố

rủi ro về thời tiết khi tính toán tranh thầu, quan tâm phát triển phương pháp

xây dựng trong điều kiện nhiệt đới...

Thứ sáu, sản xuất xây dựng chịu ảnh hưởng của lợi nhuận chênh lệch

do điều kiện của địa điểm xây dựng đem lại. Cùng một loại công trình xây

dựng nhưng nếu nó được đặt ở nơi có sẵn nguồn nguyên vật liệu xây dựng,

nguồn máy móc xây dựng cho thuê và sẵn nhân công thì người nhận thầu

xây dựng ở trường hợp này có nhiều cơ hội hạ thấp chi phí sản xuất và thu

được lợi nhuận cao hơn.

Tất cả các đặc điểm kể trên đã ảnh hưởng đến mọi khâu của sản xuất

kinh doanh xây dựng, kể từ khâu tổ chức dây chuyền công nghệ sản xuất,

lập phương hướng phát triển khoa học - kỹ thuật xây dựng, xác định trình

tự của quá trình sản xuất kinh doanh, tổ chức cung ứng vật tư, cấu tạo vốn

và trang bị vốn cố định, quy định chế độ thanh toán, lập chế độ kiểm tra

chất lượng sản phẩm đến khâu hạch toán sản xuất kinh doanh trong xây

dựng nói chung và quản lý sử dụng tài sản nói riêng. Vì vậy, để nâng cao

hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp xây dựng cần có những giải pháp

phù hợp với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành.

III. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ

PHẦN XÂY DỰNG 79



1. Đánh giá chung tình hình sản xuất kinh doanh của công ty

trong vài năm gần đây

Trong những năm vừa qua, được sự chỉ đạo thường xuyên, trực tiếp

của Tổng Công ty Xây dựng Công trình giao thông 1 cùng với sự giúp đỡ rất

lớn của Tổng Công ty về giải quyết việc làm, nâng cao năng lực quản lý, tổ

chức sản xuất đổi mới phương hướng kinh doanh và mua sắm thêm thiết bị

tiên tiến nên công ty đã đứng vững được trên thị trường và từng bước làm ăn

có lãi.

30



Ta có thể thấy rõ hơn thông qua các chỉ tiêu dưới đây:



31



BẢNG 1: KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG 3 NĂM 2003, 2004, 2005

Chỉ tiêu

Số tiền (đ)



2003

Tỷ suất trong



2004

Số tiền (đ)



doanh thu



Tỷ suất trong

doanh thu



Số tiền (đ)



2005

Tỷ suất trong

doanh thu



1. Kết quả sản xuất kinh doanh

- Doanh thu

- Chi phí

- Lãi

2. Nộp ngân sách

3. TSCĐ

- Nguyên giá

- Giá trị hao màn luỹ kế

4. Nguồn vốn kinh doanh

- Vốn lưu động

- Vốn cố định

5. Các khoản phải thu

6. Các khoản phải trả



11.614.771.700 100%

15.255.189.648 100%

11.433.311.779 98,44%

15.023.127.006 98,48%

181.459.921

1,56%

232.062.642

1,56%

839.000.000

1.223.000.000

1.422.174.470

1.334.104.754

1.686.761.354

1.726.434.238

264.586.884

392.392.484

737.615.041

6,35%

1.575.515.041

10,33%

318.380.286

738.380.286

419.234.755

837.134.755

6.890.519.964

10.017.028.666

7.435.927.756

10.385.086.436

Nguồn: Báo cáo tài chính công ty cổ phần xây dựng 79



32



20.000.000.000

19.700.000.000

300.000.000

1.498.000.000

1.187.811.554

1.726.434.238

538.622.684

1.750.000.000

750.000.000

1.000.000.000

12.409.536.887

12.779.702.471



100%

98,5%

1,5%



8,75%



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG 79

Tải bản đầy đủ ngay(67 tr)

×