Tải bản đầy đủ - 101 (trang)
1 Tổng quan về hệ thống thu thập dữ liệu, điều khiển và giám sát

1 Tổng quan về hệ thống thu thập dữ liệu, điều khiển và giám sát

Tải bản đầy đủ - 101trang

CHƯƠNG 1

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

- Việc cấu hình hệ thống, lập trình, tham số hóa, chỉnh định thiết bị đưa vào vận

hành có thể thực hiện từ xa qua một trạm kỹ thuật trung tâm



1.1.1.2 Đặc trưng của mạng truyền thông công nghiệp

PC: Personal Computer

HIS: Human interface station

FCS: Field Control Station

S: Sensor

A: Actuator

PC

PC



P



Fast ethernet



Quản lý kinh tế

PC

PC



PC

PC



PC

PC



Ethernet



Quản lý kỹ thuật

HIS

HI

HIS

HI

SS



HIS

HIS



HIS

HIS



System bus



Điều khiển & giám sát

FCS

FCS



FCS

FCS



FCS

FCS



Fielbus



Điều khiển

Cấp hiện

trường



FCS

FCS



A



S



A



S



Hình 1.1 Mô hình phân cấp chức năng công ty sản xuất xí nghiệp

Tương ứng với năm cấp chức năng là bốn cấp của hệ thống truyền thông. Từ

cấp điều khiển giám sát trở xuống thuật ngữ “bus” thường được dùng thay cho

“mạng”, với lý do phần lớn các hệ thống mạng phía dưới đều có cấu trúc vật lý hoặc

logic kiểu bus

-



Bus trường, bus thiết bị: Bus trường (fieldbus) thực ra là một khái niệm chung



được dùng trong các ngành công nghiệp để chỉ các hệ thống bus nối tiếp, sử dụng kỹ

thuật truyền tin số để kết nối các thiết bị thuộc cấp điều khiển (PC, PLC) với nhau và

với các thiết bị ở cấp chấp hành, hay các thiết bị trường. Các chức năng chính của cấp

chấp hành là đo lường, truyền động và chuyển đổi tín hiệu trong trường hợp cần thiết.



3



CHƯƠNG 1

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

Các thiết bị có khả năng nối mạng là các vào/ra phân tán (distributed I/O), các thiết bị

đo lường (sensor, transducer, transmitter) hoặc cơ cấu chấp hành (actuator, valve) có

tích hợp khả năng xử lý truyền thông. Một số kiểu bus trường chỉ thích hợp nối mạng

các thiết bị cảm biến và cơ cấu chấp hành với các bộ điều khiển, cũng được gọi là bus

chấp hành/cảm biến.

Trong công nghiệp chế tạo (tự động hóa dây chuyền sản xuất, gia công, lắp ráp)

hoặc ở một số lĩnh vực ứng dụng khác như tự động hóa tòa nhà, sản xuất xe hơi, khái

niệm bus thiết bị lại được sử dụng phổ biến. Có thể nói, bus thiết bị và bus trường có

chức năng tương đương, nhưng do những đặc trưng riêng biệt của hai ngành công

nghiệp, nên một số tính năng cũng khác nhau. Tuy nhiên, sự khác nhau này ngày càng

trở nên không rõ rệt, khi mà phạm vi ứng dụng của cả hai loại đều được mở rộng và

đan chéo sang nhau. Trong thực tế, người ta cũng dùng chung một khái niệm là bus

trường.

Do nhiệm vụ của bus trường là chuyển dữ liệu quá trình lên cấp điều khiển để

xử lý và chuyển quyết định điều khiển xuống các cơ cấu chấp hành, vì vậy yêu cầu về

tính năng thời gian thực được đặt lên hàng đầu. Thời gian phản ứng tiêu biểu nằm

trong phạm vi từ 0,1 tới vài miligiây. Trong khi đó, yêu cầu về lượng thông tin trong

một bức điện thường chỉ hạn chế trong khoảng một vài byte, vì vậy tốc độ truyền

thông thường chỉ cần ở phạm vi Mbit/s hoặc thấp hơn. Việc trao đổi thông tin về các

biến quá trình chủ yếu mang tính chất định kỳ, tuần hoàn, bên cạnh các thông tin tham

số hóa hoặc cảnh báo có tính chất bất thường.

Các hệ thống bus trường được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay là

PROFIBUS,ControlNet, INTERBUS, CAN, WorldFIP, P-NET, Modbus và gần đây

phải kể tới Foundation Fieldbus. DeviceNet, AS-i, EIB và Bitbus là một vài hệ thống

bus cảm biến/chấp hành tiêu biểu có thể nêu ra ở đây.

-



Bus hệ thống, bus điều khiển: Các hệ thống mạng công nghiệp được dùng để



kết nối các máy tính điều khiển và các máy tính trên cấp điều khiển giám sát với nhau

được gọi là bus hệ thống (System bus) hay bus quá trình (Process bus). Khái niệm sau

thường chỉ được dùng trong lĩnh vực điều khiển quá trình. Qua bus hệ thống mà các

máy tính điều khiển có thể phối hợp hoạt động, cung cấp dữ liệu quá trình cho các



4



CHƯƠNG 1

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

trạm kỹ thuật và trạm quan sát (có thể gián tiếp thông qua hệ thống quản lý cơ sở dữ

liệu trên các trạm chủ) cũng như nhận mệnh lệnh, tham số điều khiển từ các trạm phía

trên. Thông tin không những được trao đổi theo chiều dọc, mà còn theo chiều ngang.

Các trạm kỹ thuật, trạm vận hành và các trạm chủ cũng trao đổi dữ liệu qua bus hệ

thống. Ngoài ra các máy in báo cáo và lưu trữ dữ liệu cũng có thể được kết nối qua

mạng này. Đối với bus hệ thống, tùy theo lĩnh vực ứng dụng mà đòi hỏi về tính năng

thời gian thực có được đặt ra một cách ngặt nghèo hay không. Thời gian phản ứng tiêu

biểu nằm trong khoảng một vài trăm mili giây, trong khi lưu lượng thông tin cần trao

đổi lớn hơn nhiều so với bus trường. Tốc độ truyền thông tiêu biểu của bus hệ thống

nằm trong phạm vi từ vài trăm kbit/s đến vài Mbit/s. Khi bus hệ thống được sử dụng

chỉ để ghép nối theo chiều ngang giữa các máy tính điều khiển, người ta thường dùng

khái niệm bus điều khiển. Vai trò của bus điều khiển là phục vụ trao đổi dữ liệu thời

gian thực giữa các trạm điều khiển trong một hệ thống có cấu trúc phân tán. Bus điều

khiển thông thường có tốc độ truyền không cao, nhưng yêu cầu về tính năng thời gian

thực thường rất khắt khe. Do các yêu cầu về tốc độ truyền thông và khả năng kết nối

dễ dàng nhiều loại máy tính, hầu hết các kiểu bus hệ thống thông dụng đều dựa trên

nền Ethernet, ví dụ Industrial Ethernet, Fieldbus Foundation’s High Speed Ethernet

(HSE), Ethernet/IP.

- Mạng xí nghiệp: Mạng xí nghiệp thực ra là một mạng LAN bình thường, có

chức năng kết nối các máy tính văn phòng thuộc cấp điều hành sản xuất với cấp điều

khiển giám sát. Thông tin được đưa lên trên bao gồm trạng thái làm việc của các quá

trình kỹ thuật, các giàn máy cũng như của hệ thống điều khiển tự động, các số liệu tính

toán, thống kê về diễn biến quá trình sản xuất và chất lượng sản phẩm. Thông tin theo

chiều ngược lại là các thông số thiết kế, công thức điều khiển và mệnh lệnh điều hành.

Ngoài ra, thông tin cũng được trao đổi mạnh theo chiều ngang giữa các máy tính thuộc

cấp điều hành sản xuất, ví dụ hỗ trợ kiểu làm việc theo nhóm, cộng tác trong dự án, sử

dụng chung các tài nguyên nối mạng (máy in, máy chủ...). Khác với các hệ thống bus

cấp dưới, mạng xí nghiệp không yêu cầu nghiêm ngặt về tính năng thời gian thực.

Việc trao đổi dữ liệu thường diễn ra không định kỳ, nhưng có khi với số lượng lớn tới



5



CHƯƠNG 1

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

hàng Mbyte. Hai loại mạng được dùng phổ biến cho mục đích này là Ethernet và

Token-Ring, trên cơ sở các giao thức chuẩn như TCP/IP và IPX/SPX.

- Mạng công ty: Mạng công ty nằm trên cùng trong mô hình phân cấp hệ thống

truyền thông của một công ty sản xuất công nghiệp. Đặc trưng của mạng công ty gần

với một mạng viễn thông hoặc một mạng máy tính diện rộng nhiều hơn trên các

phương diện phạm vi và hình thức dịch vụ, phương pháp truyền thông và các yêu cầu

về kỹ thuật. Chức năng của mạng công ty là kết nối các máy tính văn phòng của các xí

nghiệp, cung cấp các dịch vụ trao đổi thông tin nội bộ và với các khách hàng như thư

viện điện tử, thư điện tử, hội thảo từ xa qua điện thoại, hình ảnh, cung cấp dịch vụ truy

cập Internet và thương mại điện tử, v.v... Hình thức tổ chức ghép nối mạng, cũng như

các công nghệ được áp dụng rất đa dạng, tùy thuộc vào đầu tư của công ty. Trong

nhiều trường hợp, mạng công ty và mạng xí nghiệp được thực hiện bằng một hệ thống

mạng duy nhất về mặt vật lý, nhưng chia thành nhiều phạm vi và nhóm mạng làm việc

riêng biệt. Mạng công ty có vai trò như một đường cao tốc trong hệ thống hạ tầng cơ

sở truyền thông của một công ty, vì vậy đòi hỏi về tốc độ truyền thông và độ an toàn,

tin cậy đặc biệt cao. Fast Ethernet, FDDI, ATM là một vài ví dụ công nghệ tiên tiến

được áp dụng ở đây trong hiện tại và tương lai.



1.1.2 Hệ điều khiển giám sát và thu thập dữ liệu SCADA

1.1.2.1 Định nghĩa và phân loại hệ thống SCADA

SCADA (Supervisory Control And Data Acquisition) là một hệ thống điều

khiển giám sát và thu thập dữ liệu, nói cách khác là một hệ thống hỗ trợ con người

trong giám sát và điều khiển từ xa, ở cấp cao hơn hệ điều khiển tự động thông thường.

Để có thể điều khiển và giám sát từ xa thì hệ SCADA phải có hệ thống truy cập,

truyền tải dữ liệu cũng như hệ thống giao diện người máy HMI

Trong hệ thống điều khiển giám sát thì HMI là một thành phần quan trọng

không chỉ ở cấp điều khiển giám sát mà ở các cấp thấp hơn người ta cũng cần giao

diện HMI để phục vụ cho việc quan sát và thao tác vận hành ở cấp điều khiển cục bộ.

Nếu nhìn nhận SCADA theo quan điểm truyền thống thì nó là một hệ thống

mạng và thiết bị có nhiệm vụ thuần túy là thu thập dữ liệu từ các trạm ở xa và truyền

tải về khu trung tâm để xử lý. Trong các hệ truyền thống như vậy thì hệ truyền thông



6



CHƯƠNG 1

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

và phần cứng đặt lên hàng đầu và cần sự quan tâm nhiều hơn. Trong những năm gần

đây sự tiến bộ vượt bậc của công nghệ truyền thông công nghiệp và công nghệ phần

mềm trong công nghiệp đã đem lại nhiều khả năng và giải pháp mới nên trọng tâm của

công việc thiêt kế xây dựng hệ thống SCADA là lựa chọn công cụ phần mềm thiết kế

giao diện và các giải pháp tích hợp hệ thống

Phân loại hệ thống SCADA

Các hệ thống SCADA được phân bố theo chức năng:

- Hệ thống SCADA mờ (Blind): Đây là hệ thống đơn giản, nó không có bộ phận

giám sát. Nhiệm vụ chủ yếu của hệ thống này là thu thập và xử lý dữ liệu bằng đồ thị.

Do tính đơn giản nên giá thành thấp.

- Hệ thống SCADA xử lý đồ họa thông tin thời gian thực: hệ thống SCADA có

khả năng giám sát và thu thập dữ liệu. Nhờ tập tin cấu hình của máy khai báo trước

đấy mà hệ có khả năng mô phỏng tiến trình hoạt động của hệ thống sản xuất. Tập tin

cấu hình ghi lại trạng thái hoạt động của hệ thống. Khi xảy ra sự cố thì hệ thống có thể

báo cho người vận hành để xử lý kịp thời. Cũng có thể hệ sẽ phát ra tín hiệu điều khiển

dừng hoạt động của tất cả máy móc.

- Hệ thống SCADA độc lập: hệ thống có khả năng giám sát và thu thập dữ liệu

với một bộ xử lý. Hệ này chỉ có thể điều khiển được một hoặc hai máy móc. Vì vậy hệ

này chỉ phù hợp với những sản xuất nhỏ, sản xuất chi tiết.

- Hệ thống SCADA mạng: hệ thống có khả năng giám sát và thu thập dữ liệu với

nhiều bộ vi xử lý. Các máy tính được nối mạng với nhau. Hệ này có khả năng điều

khiển được nhiều nhóm máy móc tạo nên dây chuyền sản xuất. Qua mạng truyền

thông, hệ thống được nối với phòng quản lý, phòng điều khiển, có thể nhận quyết định

điều khiển trực tiếp từ phòng quản lý hoặc từ phòng thiết kế. Từ phòng điều khiển có

thể điều khiển hoạt động của các thiết bị ở xa.



1.1.2.2 Cấu trúc chung của hệ SCADA



7



CHƯƠNG 1

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP



Hình 1.2 Cấu trúc chung của 1 hệ SCADA

Trong hệ thống điều khiển giám sát, các cảm biến và cơ cấu chấp hành đóng vai

trò là giao diện giữa thiết bị điều khiển với quá trình kỹ thuật. Còn hệ thống điều khiển

giám sát đóng vai trò là giao diện giữa người và máy. Các thiêt bị và các bộ phận của

hệ thống được ghép nối với nhau theo kiểu điểm- điểm (point to point) hoặc qua mạng

truyền thông…

 Các thành phần chính của hệ thống SCADA bao gồm:

- Giao diện quá trình: gồm các cảm biến, thiết đo, thiết bị chuyển đổi, cơ cấu

-



chấp hành, ghép nối vào/ra và chuyển đổi tín hiệu

Thiết bị điều khiển tự động: gồm các bộ điều khiển chuyên dụng (PID), các bộ

điều khiển PLC, các thiết bị điều chỉnh số đơn lẻ CDC (Compact Digital



-



Controller) và máy tính PC với các phần mềm tương ứng

Hệ thống điều khiển giám sát: gồm các thiết bị, phần mềm giao diện HMI, các



-



trạm kỹ thuật, trạm vận hành, giám sát và điều khiển cao cấp

Hệ thống truyền thông: ghép nối điểm- điểm, bus cảm biến/chấp hành, bus



-



trường, bus hệ thống

Hệ thống bảo vệ, cơ chế thực hiện chức năng an toàn



1.1.2.3 Cấu trúc phần mềm điều khiển giám sát của hệ thống SCADA



8



CHƯƠNG 1

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP



Hình 1.3 Cấu trúc phần mềm điều khiển giám sát của SCADA

Cơ sở dữ liệu quá trình có chức năng quản lý và lưu trữ :

- Dữ liệu quá trình

- Dữ liệu tình trạng hệ thống

- Dữ liệu quá khứ

- Dữ liệu cảnh báo

- Dữ liệu vận hành

Giao diện người máy (HMI) có chức năng :

- Hiển thị các thiết bị, máy móc

- Hiển thị các giá trị quá trình, các hình ảnh động minh họa, các phím điều khiển

- Hiển thị và can thiệp chi tiết vào quá trình điều khiển các tham số, tình trạng

báo động

- Hiển thị các quá trình theo thời gian thực

Chức năng cảnh báo báo động

- Phát hiện tình trạng cảnh báo, báo động tại các trạm vận hành hoặc trạm chủ

- Gửi cảnh báo, báo động theo phạm vi hệ thống, trạm được quyền can thiệp hoặc

tính ưu tiên cấp thiết

- Lưu trữ cảnh báo, báo động

- Hiển thị cảnh báo /báo động theo:

+ Sắp xếp theo mức ưu tiên, tính cấp thiết

+ Sắp xếp theo thời gian xảy ra

+ Sắp xếp theo loại cảnh báo/báo động

+ Sử dụng màu sắc và hiệu ứng nhâp nháy

Xác nhận cảnh báo/báo động: theo quyền người sử dụng hoặc xác nhận theo nhóm

Xóa cảnh báo/báo động



1.1.2.4 Mô hình phân cấp chức năng

Toàn bộ hệ thống điều khiển giám sát được phân chia thành các cấp chức năng

như hình vẽ minh họa dưới đây:



9



CHƯƠNG 1

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP



Hình 1.4 Mô hình phân cấp chức năng của hệ thống điều khiển và giám sát

Để sắp xếp, phân loại các chức năng tự động hóa của hệ thống điều khiển và

giám sát người ta thường sử dụng mô hình như trên. Với loại mô hình này các chức

năng được phân thành nhiều cấp khác nhau, từ dưới lên trên. Càng ở những cấp dưới

thì các chức năng càng mang tính chất cơ bản hơn, đòi hỏi yêu cầu cao hơn về độ

nhanh nhạy, thời gian phản ứng. Một chức năng ở cấp trên được thực hiện dựa trên các

chức năng ở cấp dưới nhưng ngược lại lượng thông tin cần trao đổi và xử lý lại lớn

hơn nhiều

Việc phân cấp chức năng sẽ thuận lợi cho việc thiết kế hệ thống và lựa chọn

thiết bị. Tùy thuộc vào mức độ tự động hóa và cấu trúc hệ thống cụ thể mà ta có mô

hình phân cấp chức năng:

- Cấp trường: các chức năng chính của cấp chấp hành là đo lường, dẫn động và

chuyển đổi tín hiệu trong trường hợp cần thiết. Thực tế, đa số các thiết bị cảm biến hay

chấp hành cũng có phần điều khiển riêng cho việc thực hiện đo lường/ truyền động

được chính xác và nhanh nhạy. Các thiết bị thông minh (có bộ vi xử lý riêng) cũng có

thể đảm nhận việc xử lý và chuẩn bị thông tin trước khi đưa lên cấp trên điều khiển.

- Cấp điều khiển: nhiệm vụ chính của cấp điều khiển là nhận thông tin từ các bộ

cảm biến, xử lý các thông tin đó theo một thuật toán nhất định và truyền đạt lại kết quả



10



CHƯƠNG 1

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

xuống các bộ chấp hành. Máy tính đảm nhận việc theo dõi các công cụ đo lường, tự

thực hiện các thao tác như ấn nút mở/ đóng van, điều chỉnh cần gạt, núm xoay... Đặc

tính nổi bật của cấp điều khiển là xử lý thông tin. Cấp điều khiển và cấp chấp hành hay

gọi chung là cấp trường (Fieid level) chính vì các bộ điều khiển, cảm biến và chấp

hành được cài đặt trực tiếp tại hiện trường gần kề với hệ thống kỹ thuật.

- Cấp điều khiển giám sát: có chức năng giám sát và vận hành một quá trình kỹ

thuật, có nhiệm hỗ trợ người sử dụng trong việc cài đặt ứng dụng, thao tác theo dõi,

giám sát vận hành và xử lý những tình huống bất thường. Ngoài ra trong một số

trường hợp, cấp này còn thực hiện các bài toán điều khiển cao cấp như điều khiển phối

hợp, điều khiển trình tự và điều khiển theo công thức. Việc thực hiện các chức năng ở

cấp điều khiển và giám sát thường không đòi hỏi phương tiện, thiết bị phần cứng đặc

biệt ngoài máy tính thông thường.



1.1.3 Mạng Ethernet

1.1.3.1 Khái niệm về Ethernet

Ethernet là kiểu mạng cục bộ (LAN) được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Thực

chất, Ethernet chỉ là mạng cấp dưới (lớp vật lý và một phần lớp liên kết dữ liệu), vì

vậy có thể sử dụng các giao thức khác nhau ở phía trên, trong đó TCP/IP là tập giao

thức được sử dụng phổ biến nhất. Tuy vậy, mỗi nhà cung cấp sản phẩm có thể thực

hiện giao thức riêng hoặc theo một chuẩn quốc tế cho giải pháp của mình trên cơ sở

Ethernet. High Speed Ethernet (HSE) của Fieldbus Foundation chính là một trong tám

hệ bus trường được chuẩn hóa quốc tế theo IEC 61158.



1.1.3.2 Các thành phần và đặc tính kỹ thuật của Ethernet

-



Một mạng Ethernet gồm 3 thành phần :

+ Data terminal equiment(DTE): các thiết bị truyền và nhận dữ liệu DTEs



thường là PC, file sever, Print sever,…

+ Data Communication Equipment(DCE): các thiết bị kết nối mạng cho phép

nhận và chuyển khung trên mạng. DCE có thể là các thiết bị độc lập như

Repeter( không quá 4 Repeter), Switch, router hoặc các khối giao tiếp thông tin như

card mạng, Modem,…

+ Interconnecting media: Cáp có thể dài nhất là 500m và ngắn nhất là 2,5m. Có

thể sử dụng cáp xoắn đôi, cáp đồng trục mỏng, cáp đồng trục dày, cáp sợi quang



11



CHƯƠNG 1

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

-



Các đặc tính kĩ thuật của mạng Ethernet:

+ Cấu hình truyền thông: có cấu trúc dạng tuyến phân đoạn, đường truyền dùng



cáp đồng trục, tuy nhiên mỗi thành phần của nó có thể là cấu trúc start (star-wired

bus). Tín hiệu truyền trên mạng được mã hóa theo kiểu đồng bộ.

+ Quy cách kỹ thuật 802.3

+ Vận tốc truyền : 10Mbps, 100Mbps,…10Gbps

+ Loại cáp: cáp đồng trục mảnh, cáp đồng trục dày, cáp xoắn đôi, cáp sợi quang

+ Chiều dài tối đa của một cáp tuyến là 500m, các đoạn tuyến này có thể được

kết nối lại bằng cách dùng các bộ chuyển tiếp và khoảng cách lớn nhất cho phép giữa

2 nút là 2.8km

+ Sử dụng tín hiệu băng tần cơ bản, truy xuất tuyến hoặc tuyến token(token

bus), giao thức là CSMA/CD)

- Ngày nay khái niệm ethernet thường được sử dụng để chỉ một mạng LAN

CSMA/CD, phù hợp với tiêu chuẩn 802.3, đặc điểm:

+ Hoạt động ở mức liên kết dữ liệu

+ Theo nguyên tắc CSMA/CD cảm biến sóng mang có phát hiện đụng độ

+ Thành phần chính:

• Phần cứng mạng: các thiết bị nối mạng

• Giao thức điều khiển truy xuất đường truyền

• Khung Ethernet: đơn vị truyền dữ liệu trên mạng



1.1.3.3 Chuẩn IEEE 802

IEEE 802 là họ các chuẩn IEEE dành cho các mạng LAN và mạng MAN

(Metropolitan Area Network). Cụ thể hơn, các chuẩn IEEE 802 được giới hạn cho các

mạng mang các gói tin có kích thước đa dạng. (Khác với các mạng này, dữ liệu trong

các mạng cell-based được truyền theo các đơn vị nhỏ có cùng kích thước được gọi là

cell. Các mạng Isochronous, nơi dữ liệu được truyền theo một dòng liên tục các octet,

hoặc nhóm các octet, tại các khoảng thời gian đều đặn, cũng nằm ngoài phạm vi của

chuẩn này). Con số 802 chỉ đơn giản là con số còn trống tiếp theo mà IEEE có thể

dùng, đôi khi "802" còn được liên hệ với ngày mà cuộc họp đầu tiên được tổ chức –

tháng 2 năm 1980.

Các dịch vụ và giao thức được đặc tả trong IEEE 802 ánh xạ tới hai tầng thấp

(tầng liên kết dữ liệu và tầng vật lý của mô hình 7 tầng OSI. Thực tế, IEEE 802 chia

tầng liên kết dữ liệu OSI thành hai tầng con LLC (điều khiển liên kết lôgic) và MAC



12



CHƯƠNG 1

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

(điều khiển truy nhập môi trường truyền), do đó các tầng này có thể được liệt kê như

sau:

-



Tầng liên kết dữ liệu

Tầng con LLC

Tầng con MAC

Tầng vật lý

Họ chuẩn IEEE 802 được bảo trì bởi Ban Tiêu chuẩn LAN/MAN IEEE 802



(IEEE 802 LAN/MAN Standards Committee (LMSC)). Các chuẩn được dùng rộng rãi

nhất là dành cho họ Ethernet, Token Ring, mạng LAN không dây, các mạng LAN

dùng bridge và bridge ảo (Bridging and Virtual Bridged LANs). Mỗi lĩnh vực có một

Working Group tập trung nghiên cứu.



1.1.3.4 Họ giao thức TCP/IP

TCP/IP (Transmission Control Protocol/Internet Protocol) là kết quả nghiên

cứu và triển giao thức trong mạng chuyển mạch gói thử nghiệm mang tên Arpanet do

ARPA (Advanced Reseach Projecs Agency). Khái niệm TCP/IP dùng để chỉ cả một

lớp tập giao thức và dịch vụ truyền thông được công nhận thành chuẩn cho Internet.

Cho tới nay TCP/IP đã xâm nhập tới rất nhiều phạm vi ứng dụng khác nhau, trong đó

có các máy tính cục bộ và mạng truyền thông công nghiệp.

TCP/IP bao gồm 5 lớp độc lập: lớp ứng dụng, lớp vận chuyển, lớp Internet, lớp

truy nhập và mạng vật lí.

Lớp ứng dụng

TELNET

SNMP



FTP

SMTP

DNS



Lớp vận chuyển

TCP



UDP

Lớp Internet



ICMP



IP



ARP



RARP



Lớp truy nhập mạng

Lớp vật lí



Hình 1.5 Kiến trúc giao thức TCP/IP

Lớp ứng dụng: thực hiện các chức năng hỗ trợ cần thiết cho nhiều ứng dụng

khác nhau: SMTP (Simple Mail Transfer Protocol) cho chuyển thư điện từ, FTP (File

13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Tổng quan về hệ thống thu thập dữ liệu, điều khiển và giám sát

Tải bản đầy đủ ngay(101 tr)

×