Tải bản đầy đủ - 119 (trang)
Chương 4 . TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Chương 4 . TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Tải bản đầy đủ - 119trang

TÀI NGUYÊN



Tài nguyên thiên nhiên



Tài nguyên quy mô

hành tinh: không

khí nước



Tài nguyên xã hội



Tài nguyên



Tài nguyên



tái tạo



không tái tạo



- Di sản văn hoá



- Cơ sở pháp luật xã

hội, làng xóm, nhà

nước



Năng lượng

tái sinh (gió ,

thuỷ triều,

khí hậu



Sinh vật



Nước

Khoáng

ngọt

Hình 4.1: Sơ đồ phân loại tài nguyên sản

Đất



Gien di

truyền



4.1.2. Khái niệm về tài nguyên thiên nhiên.

Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai được hình thành và

tồn tại trong tự nhiên mà con người có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu trong cuộc

sống. Mỗi loại tài nguyên có đặc điểm riêng, nhưng có 2 thuộc tính chung :





Tài nguyên phân bố không đồng đều giữa các vùng trên Trái đất và trên cùng

một lãnh thổ có thể tồn tại nhiều loại tài nguyên, tạo ra sự ưu đãi của tự nhiên

với từng vùng lãnh thổ, từng Quốc gia.







Đại bộ phận các nguồn tài nguyên thiên nhiên có giá trị kinh tế cao được hình

thành qua quá trình lâu dài của tự nhiên và lịch sử.



4.1.3. Con người với tài nguyên và môi trường.

Con người khi sinh ra là có nhu cầu về tiêu thụ tài nguyên, tuy nhiên dân số ngày

càng tăng và chất lượng cuộc sống con người luôn cải thiện, do đó, các công cụ và



phương thức sản xuất được cải tiến để khai thác và sử dụng TNTN được nhiều hơn tất

yếu dẫn đến suy thoái MT lớn hơn.

Giữa con người, tài nguyên và môi trường có mối quan hệ với nhau theo hình sau

Nhu cầu tiêu dùng và

phát triển



Công cụ và phương thức

sản xuất



Con

người



Sinh thái và

môi trường



Tài nguyên

thiên nhiên



Hình 4.2: Mối quan hệ giữa con người, TNTN và MT

4.2. Tài nguyên đất

Con người được sinh ra trên mặt đất , sống và lớn lên nhờ vào đất và khi chết lại

trở về với đất . Tuy nhiên không ít người có thái độ thờ ơ với thiên nhiên nên không biết

đất là gì, đất sinh ra từ đâu, đất quý giá thế nào và vì sao chúng ta cần bảo vệ nguồn tài

nguyên đất.

Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về đất. Vào1897, nhà thổ nhưỡng

học người Nga Docutraep định nghĩa: “ Đất là một vật thể tự nhiên, cấu tạo độc lập, lâu

đời do kết quả của quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất gồm có : đá

địa hình, khí hậu, nước, sinh vật và thời gian “.

Đây là định nghĩa đầu tiên khá hoàn chỉnh về đất. Sau này một số nhà nghiên cứu

cho rằng cần bổ sung thêm nột số yếu tố khác, đặc biệt là vai trò của con người, chính

con người khi tác động vào đất đã làm thay đổi khá nhiều khi đã tạo ra hẳn một loại đất

mới chưa hề có trong tự nhiên, đó là đất lúa nước .

Nếu biểu thị định nghĩa trên dưới dạng một công thức toán học thì ta có thể coi

đất là hàm của một số yếu tố hình thành đất theo thời gian:

Đ = f ( Đa , Đh, Kh, N, SV, CN) t

Trong đó :

Đ : đất

Đa : đá

Đh : địa hình

Kh : khí hậu

N : nước



SV : sinh vật

CN : hoạt động của con người

t

: thời gian

Thành phần cấu tạo của đất gồm: các hạt khoáng 40%, hợp chất humic 5%, không

khí 20% và nước 35%. Thành phần hóa học trung bình của đất được thể hiện trong bảng 4.1.

Bảng 4.1: Hàm lượng trung bình của các nguyên tố hóa học trong đá và đất tính theo %

trọng lượng ( Nguồn Vinograđôp, 1950)

Nguyên tố

O

Si

Al

Fe

Ca

Na

K

Mg

Ti

H

C

S

P

N



Đá

47,2

27,6

8,8

5,1

3,6

2,64

2,6

2,1

0,6

0,15

0,10

0,09

0,08

0,00



Đất

49,0

33,0

7,13

3,8

1,37

0,63

1,36

0,46

0,46

2,0

0,08

0,09

0,10

[Nguồn: 10]



DT đất toàn cầu và quy mô sử dụng đất trên Trái đất như bảng 4.2 và 4.3



Bảng 4.2: Diện tích và sử dụng đất trên Trái đất

TT

1

2



Hệ sinh thái

Rừng mưa nhiệt đới

Rừng nhiệt đới theo mùa



Diện tích ( x 106 km2)

7,11

7,105



3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16



Rừng thường xanh vùng khí hậu ôn hòa

Rừng rụng lá vùng khí hậu ôn hòa

Rừng Taiga

Rừng cây gỗ, cây bụi

Savan

Đồng cỏ nhiệt đới

Đồng cỏ vùng khí hậu ôn hòa

Sa mạc, bán sa mạc

Sa mạc khắc nghiệt

Đất canh tác

Đất lúa

Đầm lầy, đầm phá

Tundra

Pha tạp

Tổng số



7,306

6,834

7,013

7,173

10,695

2,115

10,467

12,001

12,575

15,776

1,45

2,101

6,947

15,210

130.428

Nguồn : Bouwman,1988

Bảng 4.3: Tỷ lệ % diện tích các loại đất trên thế giới (FAO,1990)



Loại đất

Tỷ lệ%

- Tuyết, băng, hồ

11,5

- Đất hoang mạc

8,7

- Đất núi

16,3

- Đất đài nguyên

4,0

- Đất podzon

9,2

- Đất nâu rừng

3,5

- Đất đỏ

17,1

- Đất đen

5,2

- Đất màu hạt dẻ

8,9

- Đất xám

9,4

- Đất phù sa

3,9

- Các loại đất khác

3,2

Qua bảng trên cho thấy, những loại đất quá xấu (4 loại đầu) chiếm tới 40,5%.

Hiện trạng sử dụng đất của thế giới theo FAO như sau:

- 20% diện tích đất ở vùng quá lạnh, không sản xuất được

- 20% diện tích đất ở vùng quá khô, hoang mạc cũng không sản xuất được

- 20% diện tích đất ở vùng quá dốc không canh tác nông nghiệp được

- 20% diện tích đất đang làm đồng cỏ

- 10% diện tích đất ở vùng có tầng đất mỏng (núi đá, đất bị xói mòn mạnh)

- 10% diện tích đang trồng trọt



Tài nguyên đất thế giới như sau: Tổng diện tích : 14.777 triệu ha; Đất đóng băng :

1.527 triệu ha; Đất không phủ băng : 13.251 triệu ha. Trong đó : 12 % DT đất canh tác,

24% DT đất đồng cỏ, 32% DT đất rừng và 32% DT đất cư trú, đầm lầy. DT đất có khả

năng canh tác là 3.200 triệu ha, hiện mới khai thác 1.500 triệu ha.

Hiện nay tài nguyên đất thế giới đang bị suy thoái nghiêm trọng do xói mòn, rửa

trôi, bạc màu, nhiễm mặn, nhiễm phèn và ô nhiễm đất, biến đổi khí hậu. Trong đó, 10%

đất có tiềm năng nông nghiệp đang bị sa mạc hóa.

Bảng 4.4: Tỷ lệ % của các yếu tố đóng góp vào việc làm suy thoái đất trên TG

Những nguyên



Châu



Bắc



Trung



Nam



Châu



Châu



Châu



Toàn



nhân gây thoái



Âu



Mỹ



Mỹ



Mỹ



Phi



Á



Đại



Thế



Dương



hóa đất

- Do mất rừng



39



4



22



41



14



40



12



giơí

30



- Do khai thác



-



-



18



5



13



7



-



7



23



30



15



28



49



26



80



34



29



66



45



26



24



27



8



28



9



-



-



-



-



-



-



-



rừng quá mức

- Do gặm cỏ quá

mức

- Do hoạt động

nông nghiệp

- Do hoạt động

công nghiệp

Nguồn : Viện Tài nguyên thế giới, 1995

Bảng 4.5: Sự suy giảm diện tích đất bình quân đầu người ở Việt Nam

Năm



Dân số ( tr người)



Diện tích đất NN (tr.ha )



Bình quân/ng ( ha/ng )



1940

1955

1975



20,2

25,1

47,6



5,2

4,7

5,6



0,26

0,19

0,12



1980



53,7



7,0



0,13



1985



59,7



6,8



0,11



1990



65,7



7,1



0,105



1995



74,0



7,0



0,095

Nguồn : Lê



Thạc Cán

Bảng 4.6: Hiện trạng sử dụng đất đến hết năm 1998

Vùng



Đất đang sử dụng

% so với

Diện tích

% so với

đất đang



nhiên của



đất tự



đất đang sử



sử dụng



nhiên của



dụng của



vùng



(ha)



đất tự



Đất chưa sử dụng

% so với

Diện tích

% so với



của cả



vùng



cả nước



(ha)



nước



Toàn



22.226.830



68,83



100,0



10.667.577



33,04



48



quốc

Trung du



5.017.720



48,62



22,58



5.301.838



51,38



23,85



MNPB

Đồng bằng



1.076.464



85,01



4,84



198.790



15,00



0,85



BB

Khu IV cũ

DHMT

Tây



3.069.138

2.923.147

4.437.714



59,82

66,11

81,57



13,81

13,15

19,97



2.061.316

1.498.563

1.002.908



40,18

33,89

18,43



9,27

6,74

4,51



Nguyên

ĐNB

ĐBSCL



2.174.720

3.528.818



92,49

88,99



9,87

15,88



176.666

7,51

0,80

436.496

11,69

1,96

Nguồn : Tổng cục Địa chính, 1999



4.3. Tài nguyên rừng

4.3.1. Khái niệm.

Rừng là thành phần quan trọng nhất của sinh quyển và có ý nghĩa lớn trong sự

phát triển KTXH, sinh thái và MT. Theo quan điểm học thuyết sinh thái học, rừng được

xem là HST điển hình trong sinh quyển (Tenslay,1935; Vili, 1957; Odum, 1966). Rừng

là sự thống nhất trong mối quan hệ biện chứng giữa sinh vật - trong đó thực vật với các

loại cây gỗ giữ vai trò chủ đạo, đất và môi trường.

Việc hình thành các kiểu rừng có liên quan chặt chẽ giữa sự hình thành các thảm

thực vật tự nhiên với vùng địa lý và điều kiện khí hậu. Sự phân bố của thảm thực vật rừng

là sự đồng nhất tương đối về địa lý, sinh thái và được hiểu như là một đơn vị địa lý thực

vật độc lập, chúng kết hợp với nhau theo vĩ độ và theo độ cao thành nhũng đai rừng lớn

trên Trái đất.



Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, rừng được phân thành các loại: rừng

phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất.

• Rừng phòng hộ: được sử dụng để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói

mòn, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, bảo vệ MT.

• Rừng đặc dụng: để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn HST VQG, nghiên cứu

khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh, phục vụ

nghĩ ngơi, du lịch. Rừng đặc dụng bao gồm các Vườn Quốc gia, các khu bảo

tồn thiên nhiên, các khu văn hóa – lịch sử và môi trường.





Rừng sản xuất: sử dụng để sản xuất, kinh doanh gỗ, các loại lâm sản khác,

động vật rừng kết hợp phòng hộ, BVMT.

4.3.2. Tầm quan trọng của rừng đối với môi trường.

Rừng là một hợp phần quan trọng nhất cấu thành nên sinh quyển. Ngoài ý nghĩa

về tài nguyên động thực vật, rừng còn là một yếu tố địa lý không thể thiếu được trong tự

nhiên; nó có vai trò cực kỳ quan trọng tạo cảnh quan và có tác dụng mạnh mẽ đến các

yếu tố khí hậu, đất đai.Vì vậy, rừng không chỉ có chức năng trong phát triển KTXH mà

còn có ý nghĩa đặc biệt trong BVMT.

Rừng có ảnh hưởng đến nhiệt độ, độ ẩm không khí, thành phần khí quyển và có ý

nghĩa điều hòa khí hậu. Rừng không chỉ chắn gió mà nó còn làm sạch không khí và có

ảnh hưởng lớn đến vòng tuần hoàn cacbon trong tự nhiên. Là máy lọc bụi khổng lồ, trung

bình trong 1 năm,1 ha rừng thông có khả năng hút 36,4 tấn bụi từ không khí.

Rừng còn tạo ra một hoàn cảnh tiểu khí hậu có tác dụng tốt đến sức khỏe con

người. Rừng làm giảm nhiệt độ và tăng độ ẩm không khí. Rừng có vai trò bảo vệ nguồn

nước, bảo vệ đất, chống xói mòn. Là kho chứa các chất dinh dưỡng khoáng, mùn và ảnh

hưởng lớn đến độ phì nhiêu của đất.

4.3.3. Hiện trạng tài nguyên rừng.

Tài nguyên rừng trên Trái đất ngày càng bị thu hẹp về diện tích và trữ lượng. Số

liệu thống kê cho thấy, diện tích rừng của Trái đất thay đổi theo thời gian như sau :

- Đầu thế kỷ XX 6 tỷ ha

- Năm 1958

4,4 tỷ ha

- Năm 1973

3,8 tỷ ha

- Năm 1995

2,3 tỷ ha

Tốc độ mất rừng hằng năm của Thế giới là 20 triệu ha, trong đó rừng nhiệt đới bị

suy giảm nhiều nhất. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến làm mất rừng trên thế giới, tập

trung chủ yếu vào các nhóm nguyên nhân sau: mở rộng diện tích đất nông nghiệp, nhu

cầu lấy củi, chăn thả gia súc, khai thác gỗ và các sản phẩm rừng, phá rừng để trồng cây

đặc sản và cây công nghiệp, cháy rừng.



Ở VN, năm 1943, có khoảng 14 triệu ha rừng, chiếm 43% DTTN, năm 1976

giảm xuống còn 11 triệu ha với tỷ lệ che phủ còn khoảng 34%, năm 1985 còn 9,3 triệu ha

và tỷ lệ che phủ là 30%, năm 1995 còn 8 triệu ha và tỷ lệ che phủ là 28% ( Jyrki Salmi và

cộng sự, 1999).

Bảng 4.7: Biến động diện tích rừng qua các năm

(đơn vi:1.000ha)

Năm

Diện tích rừng

Trong đó:

- Rừng trồng

- Độ che phủ



1943

14.300



1976

11.169



1980

10.608



0

43,0



92

33,8



422

32,1



1985

9.892



1990

9.175



1995

9.302



584

745

1.050

30,0

27,8

28,9

Nguồn: Nguyễn Ngọc Lung, 1998



Hình 4.3: Hình ảnh minh chứng về sự suy thoái tài nguyên rừng

4.4. Tài nguyên nước

4.4.1. Khái niệm và tầm quan trọng của nước.

Nước là yếu tố chủ yếu của HST, là nhu cầu cơ bản của mọi sự sống trên Trái đất

và cần thiết cho mọi hoạt động KTXH của con người.

Nước là tài nguyên tái tạo được, là một trong các nhân tố quyết định chất lượng

MT sống của con người. Viện sĩ Xiđorenko khẳng định: ”Nước là khoáng sản quý hơn

tất cả các loại khoáng sản”. Nhà Bác học Lê Quý Đôn khẳng định: ”Vạn vật không có

nước không thể sống được, mọi việc không có nước không thành được…”

4.4.2. Đặc điểm các nguồn nước.





Nguồn nước mưa. Nguồn nước mưa được sử dụng rộng rãi ở các vùng khan

hiếm nước ngọt. Lượng nước mưa phân bố không đều trên bề mặt Trái đất

theo thời gian và không gian







Nguồn nước mặt. Chất lượng nước mặt thay đổi nhiều từ vùng này sang vùng

khác, từ mùa này sang mùa khác







Nguồn nước dưới đất. Nước dưới đất tồn tại trong các khoảng trống dưới đất,

trong các khe nứt, các mao quản, thấm trong các lớp đất đá. Nước dưới đất

được coi là một hệ thống phức tạp, thay đổi theo thành phần và hoạt độ của

các phân tử có mặt và theo điều kiện nhiệt động học.



Hộp 4.1.

Phá Tam Giang – Cầu Hai hình thành trên 2.000 năm, lớn nhất ĐNÁ, Dài 68 km,

rộng gần 22.000ha. Có sự đa dạng sinh học cao, có 34 loài chim di cư, 36 loài chim định

cư, trong đó có 1 loài được ghi vào sách đỏ của VN và 21 loài trong danh mục bảo vệ

nghiêm ngặt của Cộng đồng Châu Âu.

Hiện nay có 2.500 thuyền đang xuôi ngược khai thác thủy sản trên đầm phá với nhiều

phương thức như: nò, sáo, đáy, rớ giàn, chuôm,…

(Theo Tuổi trẻ, ngày 27.8.2006)

4.4.3. Các vấn đề về MT nước hiện nay.

Các vấn đề về MT nước hiện nay liên quan đến tài nguyên nước quy mô toàn cầu

có thể phân ra như sau:





Nước phân bố không đều trên bề mặt Trái đất







Con người ngày càng khai thác và sử dụng nhiều tài nguyên nước hơn







Các nguồn nước trên Trái đất đang bị ô nhiễm bởi các hoạt động của con người







Các tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước rất đa dạng



Hộp 4.2.

Nhân tuần lễ nước thế giới ( bắt đầu từ ngày 20/8), Qũi Bảo tồn thiên nhiên

thế giới (WWF) đưa ra cảnh báo rằng tình trạng thiếu nước gia tăng là “ vấn đề

toàn cầu” và không loại trừ cả các nước giàu. Nguyên nhân của vấn đề này được

lý giải là sự kết hợp của hiện tượng thay đổi khí hậu thế giới và yếu kém trong

quản lý nguồn nước. WWF kêu gọi bảo tồn nguồn nước ở quy mô toàn cầu và

các nước giàu nên làm gương trong việc sửa chữa hệ thống cấp nước bị thất thoát

và giải quyết ô nhiễm.

Trước đó, các nhà khoa học Anh cho rằng nhiệt độ Trái đất tăng lên sẽ làm

phát sinh thêm rủi ro cháy rừng, hạn hán và lụt lội trong vòng hai thế kỷ tới.

Nhóm nghiên cứu của Đại học Bristol đưa ra kết luận trên dựa vào dữ liệu của

hơn 50 hình mẫu khí hậu về tác động của hiệu ứng nhà kính. Họ chia ra các mốc

gia tăng của nhiệt độ toàn cầu: ít hơn 20C, từ 2-30C và trên 30C. Trong từng tầm



mức này, các nhà nghiên cứu đánh giá khả năng thay đổi về diện tích rừng bao

phủ, tần suất xảy ra cháy rừng và sự thay đổi nguồn nước ngọt.

Theo trưởng nhóm nghiên cứu Marko Scholze, những phát hiện cho thấy có

mối liên hệ trực tiếp giữa nhiệt độ Trái đất tăng với sự hủy hoại của HST. Giới

khoa học cho rằng công trình nghiên cứu này giúp gạt bỏ những nhận thức mơ hồ

về tác động của hiệu ứng nhà kính lên khí hậu Trái đất.

( Theo BBC, Reuters)( Báo Tuổi trẻ ngày 17.8.2006).



Hình 4.4: Tài nguyên nước bị suy thoái

4.5. Tài nguyên khoáng sản

4.5.1. Khái niệm

Tài nguyên khoáng sản là tích tụ vật chất dưới dạng hợp chất hoặc đơn chất trong

vỏ Trái đất. Là các thành tạo hóa lý tự nhiên được sử dụng trực tiếp trong công nghiệp

hoặc có thể lấy chúng từ kim loại và khoáng vật dùng cho các ngành công nghiệp

Tài nguyên khoáng sản được phân ra :





Theo dạng tồn tại: rắn, lỏng, khí







Theo nguồn gốc: nội sinh và ngoại sinh







Theo thành phần hoá học: khoáng sản kim loại, phi kim loại và khoáng sản cháy

Bảng 4.7: Dự trữ các loại khoáng sản thế giới



Loại khoáng sản



Dầu



Dự trữ thế giới(năm )



55



Loại khoáng sản



Niken



Dự trữ thế giới(năm )



60



Khí đốt

Than

Đống

Molipđen

Chì

Kẽm



47

216-393

47

53

24

25



Quặng sắt

Quặng mangan

Quặng crôm

Bauxit

Thiếc



85

100

270

290

20



Tính bằng năm theo số liệu tới 1989

4.5.2. Các đặc trưng của khoáng sản

1. Phân bố: Diện phân bố khoáng sản được phân chia ra làm nhiều loại (đai, bể),

khu vực, trường, mỏ, thân khoáng sản





Mỏ khoáng sản là những phần vỏ Trái đất có cấu trúc đặc trưng, trong đó

khoáng sản tập trung trong các thân quặng, về mặt số lượng đủ để khai thác, về

mặt chất lượng đảm bảo các yêu cầu sử dụng cho một hoặc nhiều ngành công

nghiệp. Khái niệm mỏ khoáng sản thay đổi theo thời gian lịch sử và theo các

nền kinh tế xã hội khác nhau







Tỉnh khoáng sản là phần vỏ Trái đất liên quan với một vùng nền, một đai uốn nếp

địa máng hoặc một đáy đại dương chứa các mỏ khoáng sản đặc trưng cho chúng







Vùng khoáng sản ( đai, bể khoáng sản) chiếm một phần tỉnh khoáng sản và được

đặc trưng bằng một tập hợp các mỏ khoáng sản xác định về thành phần và nguồn

gốc, cùng thuộc về một hoặc nhóm yếu tố kiến tạo quan trọng của khu vực







Bể khoáng sản đặc trưng cho các kiến trúc chứa dầu khí, than, khoáng sản phi

quặng, quặng sắt và mangan, trầm tích biến chất







Khu vực khoáng sản là một phần của vùng khoáng sản có sự tập trung cục bộ

các mỏ khoáng sản đôi khi còn gọi là nút khoáng sản







Trường khoáng sản là nhóm các mỏ khoáng sản có chung nguồn gốc và giống

nhau về cấu tạo địa chất







Thân khoáng sản là các tích tụ cục bộ tự nhiên của khoáng sản liên quan tới một

yếu tố hoặc một tập hợp các yếu tố cấu trúc

2. Thành phần hoá học và khoáng vật quặng.

Khoáng sản chia ra 2 loại: loại chứa các khoáng vật hoặc nguyên tố được sử dụng

trực tiếp hoặc dùng làm nguyên liệu cho ngành luyện kim gọi là quặng. Loại chứa các

khoáng vật khác gọi là khoáng vật mạch. Theo thành phần khoáng vật chủ yếu trong

quặng, người ta chia ra làm các loại quặng :





Quặng ôxyt dưới dạng ôxyt và hydrôxyt kim loại Fe, Mn,Sn, U, Cr, Al







Quặng silicat đặc trưng cho khoáng sản phi kim loại ( kaolin, mica, atbet, tan,...)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 4 . TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Tải bản đầy đủ ngay(119 tr)

×