Tải bản đầy đủ - 119 (trang)
Chương 2. CÁC THÀNH PHẦN CƠ BẢN CỦA MÔI TRƯỜNG

Chương 2. CÁC THÀNH PHẦN CƠ BẢN CỦA MÔI TRƯỜNG

Tải bản đầy đủ - 119trang

trên. Vỏ lục địa thường rất dày, trung bình 35km, có nơi 70-80km như ở vùng núi cao

Hymalaya. Ở vùng thềm lục địa, nơi tiếp xúc giữa đại dương và lục địa, lớp vỏ lục địa

giảm còn 15-20km.

Thành phần hóa học của Trái đất bao gồm các nguyên tố hóa học có số thứ tự từ

1-92 trong bảng hệ thống tuần hoàn Menđeleep.

Bảng 2.2: Các nguyên tố hóa học phổ biến trong vỏ Trái đất

Nguyên tố

O

Si

Al

Fe

Mg

Ca

Na

K



% trọng lượng toàn vỏ

46,60

27,72

8,13

5,0

2,09

3,63

2,83

2,59



% thể tích so với toàn vỏ

93,77

0,86

0,47

0,43

0,29

1,03

1,32

1,83



Vỏ Trái đất



Áp suất



8 nguyên tố hóa học phổ biến trên chiếm 99% trọng lượng thạch quyển.

(K.Bar)

Cấu trúc bên trong của Trái đất 0

được trình bày ở hình sau:

Manti trên

1

36



10

16

0



Đới chuyển tiếp



400

100

0

290

0



Manti dưới



Nhân

Trái đất



627

1



350

0



Tâm Trái đất



Hình 2.1: Cấu tạo bên trong của Trái đất



45

0



1400



2.1.2. Sự hình thành đá và quá trình tạo khoáng tự nhiên

Đất đá và các khoáng vật tự nhiên được tạo ra trên Trái đất nhờ 3 quá trình địa

chất: macma, trầm tích và biến chất . Ba loại đá macma, biến chất và trầm tích có quan hệ

nhân quả chặt chẽ với nhau trong vỏ Trái đất



Nhiệt mặt trời



Đá macma



Đá macma

Phong hóa

tích



Trầm



Đá macma



Đá trầm tích

Biến

chất



Đá biến chất

Hình 2.2: Chu trình biến đổi các loại đá chính trong vỏ Trái đất

Nhiệt phóng xạ

Các tính toán của các nhà Địa chất cho thấy: trọng lượng các đá trong vỏ Trái đất

có tỷ lệ phân bố như sau: macma 65%, biến chất 25% và trầm tích 10%.

Phù hợp với các quá trình địa chất trên, các khoáng vật ở vỏ Trái đất được thành tạo

trong các quá trình trầm tích, biến chất và macma.Hai quá trình sau gọi là quá trình nội sinh.

2.1.3. Sự hình thành đất và biến đổi của địa hình cảnh quan

Đất là lớp ngoài cùng của thạch quyển, bị biến đổi tự nhiên dưới tác động tổng

hợp của nước, không khí, sinh vật. Các thành phần chính của đất là chất khoáng, nước,

không khí, mùn và các loại sinh vật từ vi sinh vật cho đến côn trùng, chân đốt,... Thành

phần chính của đất được trình bày ở hình sau:

Không khí



20%



Humic

5%

Các hạt khoáng

chất

40%



Nước

35%



Hình 2.3: Các thành phần chính của đất

Đất có cấu trúc phân lớp rất đặc trưng, xem xét một phẩu diện đất có thể thấy sự

phân tầng cấu trúc từ trên xuống dưới như sau:





Tầng thảm mục và rễ cỏ được phân hủy ở mức độ khác nhau







Tầng mùn thường có mầu thẩm hơn, tập trung các chất hữu cơ và dinh dưỡng

của đất







Tầng rữa trôi do một phần vật chất bị rửa trôi xuống tầng dưới







Tầng tích tụ chứa các chất hòa tan và hạt sét bị rửa trôi từ tầng trên







Tầng đá mẹ bị biến đổi ít nhiều nhưng vẫn giữ được cấu tạo của đá







Tầng đá gốc chưa bị phong hóa hoặc biến đổi.



Các nguyên tố hóa học trong đất tồn tại dưới dạng hợp chất vô cơ, hữu cơ, có

nguồn gốc chủ yếu từ đá mẹ. Hàm lượng các nguyên tố hóa học của đất không cố định,

biến đổi phụ thuộc vào quá trình hình thành đất. Theo hàm lượng và nhu cầu dinh dưỡng

đối với cây trồng, các nguyên tố hóa học của đất được chia thành 3 nhóm:

- Nguyên tố đa lượng: O, Si, Al, Fe, Ca, Mg, K, P, S, N, C, H.

- Nguyên tố vi lượng: Mn, Zn, Cu, B, Mo, Co,…

- Nguyên tố hiếm và phóng xạ: Br, In, Ra, I, Hf, U, Th,…

Địa hình mặt đất và cảnh quan là kết quả tác động tương hỗ đồng thời, ngược với

nhau và liên tục của hai nhóm quá trình nội sinh và ngoại sinh. Địa hình phát triển qua

nhiều giai đoạn khác nhau trên các cấu trúc địa chất rất khác nhau, nên rất đa dạng. sự

phân loại địa hình theo hình thái và trắc lượng hình thái được thể hiện qua bảng sau:



Bảng 2.3: Phân loại địa hình theo hình thái và trắc lượng hình thái (Alan E. kêhew, 1998)



Tính chất địa hình

Đồng bằng

- Trũng

- Thấp

- Cao

- Trên núi

Đồi

- Đồi ở vùng thấp

- Đồi ở vùng cao

- Đồi ở vùng núi



Núi

- Thấp

- Trung bình thấp

- Trung bình

- Cao vừa

- Cao

- Rất cao



Độ cao tuyệt đối(m)



Đặc điểm hình thái



Dưới mực nước biển

0-200

200-500

500-2500



Gợn sóng, chia cắt yếu, có gò thấp, chỗ trũng

Độ chia cắt sâu hoặc dao động độ cao dưới

10m



0-200

200-500

500-2500



600-900

700(900)-1200

1200-2500

2500-3000

3000-5000

>5000



Dao động độ cao 10-100m

- Đồi thấp, tỷ cao 10-25m

- Đồi trung bình thấp, tỷ cao 25-50m

- Đồi lớn, tỷ cao 50-75m

- Đồi rất lớn, tỷ cao 75-100m

- Có dạng bát úp, dạng nón, dạng vách dốc

Dao động độ cao trên 100m

Giá trị độ chia cắt sâu:

- Nhỏ 100-250

- Trung bình 250-500m

- Lớn 500-750m

- Rất lớn 750-1000m

Sườn dốc, thung lũng sâu, đường sống núi có

thể sắc nét hoặc mềm mại, xếp thành nhóm,

dải hoặc hệ thống các dải núi



2.1.4. Tai biến địa chất, xói mòn, trượt lở đất đá

1. Khái niệm tai biến môi trường.

Tai biến MT là điều kiện, yếu tố, hiện tượng, quá trình xảy ra trong MT sống, gây

nguy hiểm và tổn hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản, hoạt động của con người và các

chức năng của MT. Với cách hiểu này, nhiều khi nói đến khái niệm tai biến người ta ngụ

ý là tai biến MT.

Tai biến MT là quá trình gây hại vận hành trong hệ thống MT. Quá trình tai biến

phản ánh tính nhiễu loạn, tính bất ổn của hệ thống và thường gồm 3 giai đoạn. Với mỗi

giai đoạn của quá trình tai biến sẽ có những chiến lược ứng phó thích hợp và cần phải cân

nhắc trong quá trình ra quyết định:

- Giai đoạn nguy cơ hay hiểm họa: Đã tồn tại các yếu tố gây hại nhưng chưa

gây mất ổn định cho hệ thống.

- Giai đoạn phát triển: Tập trung và gia tăng các yếu tố tai biến, xuất

hiện trạng thái mất ổn định, nhưng chưa vượt qua ngưỡng an toàn của

hệ thống MT.



-



Giai đoạn sự cố: Trạng thái mất ổn định đã vượt qua ngưỡng an toàn của hệ

thống, gây ra các thiệt hại không mong đợi cho con người đwocj gọi là

thiên tai hoặc sự cố MT.

Là thiên tai nếu thiệt hại gây ra do quá trình tự nhiên, là sự cố nếu thiệt hại được

gây ra do cả quá trình tự nhiên hoặc nhân tạo.

2. Nguyên nhân

- Quá trình tự nhiên (hạn hán, lũ lụt, động đất,…)

- Hoạt động nhân sinh (khai thác quá mức, xả thải chất ô nhiễm, can thiệp

thô bạo vào HST,…)

- Hỗn hợp của hoạt động nhân sinh và quá trình tự nhiên – loại tai biến

thường xảy ra.

3. Phân loại tai biến MT.

Dựa vào bản chất có thể phân biệt được 4 nhóm tai biến MT sau đây:





Các tai biến vật lý là tai biến tuân theo quy luật vật lý







Các tai biến hóa học liên quan tới sự phát tán và tập trung các nguyên tố hóa

học vượt ngưỡng sinh thái trong các hợp phần MT







Tai biến sinh học như bệnh dịch nguy hiểm, nổ bom sinh học, nạn côn trùng

phá hoại mùa màng...

• Các tai biến kinh tế - xã hội bao gồm phá sản, tham ô làm thất thoát tài sản,

ma túy, các tệ nạn xã hội khác và do coi thường pháp luật, thiếu việc làm,

khủng hoảng tinh thần, sai sót về điều hành,...

4. Một số tai biến thường gặp.

Tai biến địa chất, xói mòn, trượt lở đất đá là các hiện tượng tự nhiên tham gia tích

cực vào quá trình biến đổi địa hình bề mặt thạch quyển.

Tai biến địa chất là một dạng tai biến MT phát sinh trong thạch quyển. Các dạng

tai biến như là : phun núi lửa, động đất, nứt đất, lún đất. Chúng thường liên quan tới các

quá trình địa chất xảy ra trong lòng Trái đất.

Trên bề mmặt Trái đất, hoạt động của nước và gió gây ra sự xói mòn. Xói mòn

do mưa là dạng xói mòn phổ biến nhất. Lượng đất xói mòn do mưa hằng năm trên một

đơn vị diện tích có thể xác định theo công thức lý thuyết:

A = R.K.L.S.C.P.

R- khả năng xói mòn do mưa

K- tính chất dễ xói mòn của đất

L- chiều dài sườn dốc

S- độ dốc của sườn dốc

C- thảm thực vật



P- hiệu quả của các biện pháp chống xói mòn.

Trượt lở đất là một dạng biến đổi bề mặt Trái đất khác. Tại đây, một khối lượng

đất đá khác theo các bề mặt đặc biệt, bị trọng lực kéo trượt xuống các địa hình thấp. Hiện

tượng trượt lở đất thường xuất hiện một cách tự nhiên trong các vùng núi, vào thời kỳ

mưa nhiều hằng năm.



Hình 2.4: Xói mòn đất đồi núi

2.2. Thủy quyển

2.2.1. Cấu tạo hình thái của thủy quyển

Khoảng 71 % với 361 triệu km2 bề mặt Trái đất được bao phủ bởi mặt nước.Cho

nên đã có nhà khoa học gọi Trái đất là “Trái nước”.Thủy quyển là lớp vỏ lỏng không liên

tục bao quanh Trái đất gồm: nước ngọt, nước mặn ở cả 3 trạng thái cứng, lỏng và hơi.

Thủy quyển bao gồm: Đại dương, biển, ao hồ, sông ngòi, nước ngầm và băng tuyết. Khối

lượng của thủy quyển khoảng 1,4. 1018 tấn, tương đương với 7 % trọng lượng thạch quyển. Hiện

nay người ta chia thủy quyển làm 4 đại dương, 4 vùng biển và 1 vùng vịnh lớn.



Bảng 2.4: Diện tích các Đại dương và các Biển chính

Đại dương, biển



Diện tích(triệu km2)



Phần trăm



Thái Bình Dương

Đại Tây Dương

Ấn Độ Dương

Bắc Băng Dương

Biển Malaixia

Biển Caribbe

Biển Địa Trung Hải

Biển Bering

Vịnh Mexico

Tổng



165,242

82,362

73,556

13,986

8,143

2,756

2,505

2,269

1,544

252,36



46,91

23,38

20,87

3,97

0,80

0,71

0,64

0,58

0,39

100



2.2.2. Sự hình thành đại dương

Sự đông cứng lớp vỏ Trái đất được coi là sự bắt đầu lịch sử địa chất, các dấu hiệu

địa chất thu được cho thấy, sự kiện này xảy ra cách đây khoảng 4,5 tỷ năm. Sự đông cứng

lớp vỏ Trái đất liên quan đến sự nguội đi do sự phát xạ năng lượng lớn vào không gian.

Đồng thời, Trái đất cũng mất một phần các khí bao bọc. Quá trình này diễn ra phức tạp,

song có thể thấy các khí nhẹ như hyđrô, heli bị mất vào không gian vũ trụ, còn các khí

khác nặng hơn như oxy, nitơ vẫn được Trái đất giữ lại. Vào thời kỳ này, núi lửa vẫn hoạt

động rất mạnh, phát thải ra nhiều loại khí hình thành nên khí quyển với thành phần khác

xa với khí quyển hiện tại. Khí quyển lúc này chứa một hàm lượng oxy tự do nhỏ còn

phần lớn là CO2 và hơi nước.Với sự lạnh dần đi của Trái đất làm cho hơi nước ngưng kết

lại rơi xuống bề mặt Trái đất. Trái đất tiếp tục bị lạnh đi làm cho hơi nước tích lũy ngày

một dày tạo nên các đại dương đầu tiên trên Trái đất. Chính sự bốc hơi (mất nhiệt),

ngưng kết (tỏa nhiệt) của hơi nước với nhiệt dung lớn lại làm gia tăng quá trình lạnh

đicủa bề mặt Trái đất qua thoát nhiệt vào các đám mây vũ trụ. Vì vậy, có thể nói hơi nước

tự bản thân nó quyết định sự tồn tại của mình trên bề mặt Trái đất.

Từ khi hình thành, khoảng 3,8 tỷ năm về trước, diện mạo của đại dương đã có

những thay đổi lớn. Sự thay đổi này biểu hiện qua độ mặn của nước biển, mực nước biển,

quá trình hình thành và tạo những khối băng khổng lồ, địa hình đáy biển và đặc biệt là sự

phân bố giữa đại dương và đất liền.

Để có hình dạng lục địa và đại dương như hiện nay, đã có nhiều giả thuyết về sự

hình thành, có thể nêu ra các giả thuyết sau: trôi dạt lục địa, nới rộng đáy biển và kiến

tạo mảng.

2.2.3. Đới ven biển, cửa sông và thềm lục địa

- Đới ven biển là nơi gặp nhau giữa đất liền và biển, được đánh dấu bằng những

nét chung của hệ thống lục địa-đại dương. Là khu vực chịu sự chi phối của 3 quyển

chính: thạch quyển, thủy quyển và khí quyển.



Đây được coi là hệ thống mở, luôn diễn ra các tương tác lý hóa với ảnh hưởng của

văn hóa. Đới ven biển có năng suất sinh học cao. Đới ven biển còn là nơi diễn ra nhiều

hoạt động mạnh mẽ như xói mòn, bão lũ, bất ổn định, ngoài ra còn có tranh chấp lợi

nhuận liên quan tới hoạt động của con người như gây ô nhiễm, khai thác tài nguyên và

phát triển không bền vững.

Vùng ven biển bao gồm nhiều thành phần như :





Vách: là phần lục địa giáp biển, có độ dốc cao







Bãi biển: là phần cát sỏi, bùn do sông đưa ra







Bờ sau: được giới hạn bởi vách và mực nước biển khi thủy triều cao







Bờ trước: là miền giữa 2 đường bờ ứng với mực nước thủy triều cao và thấp







Bờ : bao gồm bờ trước, bờ sau và kéo dài tới rìa nước cuối cùng khi thủy triều thấp



Ở nhiều nơi, bờ trước có khoảng cách lớn, cấu tạo bởi phù sa các sông và là nơi rừng

ngập mặn phát triển tốt, với HST rất đa dạng, phong phú.



Ngoài khơi

Rìa

nước

Mức triều cao thấp



Ven bờ

Đường triều

thấp

Bờ trước



Vách

Bờ sau

Cồn cát



Mức triều thấp



Hình 2.5: Đới ven bờ và các thành phần của nó

- Vùng cửa sông là cửa của một con sông, nơi nước chảy ra biển. Các điều kiện

vùng cửa sông phụ thuộc nhiều vào quá trình xảy ra trong đại dương và biển, đặc biệt là

sự trộn lẫn nước ngọt của sông và nước mặn của biển và ảnh hưởng của thủy triều.

HST vùng của sông là HST nhạy cảm và chịu nhiều ảnh hưởng của độ mặn nước

biển. Phần lớn sinh vật cửa sông là sinh vật biển, năng suất sinh học thuộc diện cao nhất,

tới gần 2.000g/m2/năm. Do đa dạng về MT sống và nhiều chất dinh dưỡng nên vùng cửa

sông khá đa dạng về loài động vật, như loài chim, bò sát, cá, thân mềm,…

Hiện nay việc khai thác vùng ven biển nói chung và vùng cửa sông nói riêng đã

làm nảy sinh nhiều vấn đề MT.



- Thềm lục địa có thể coi là vùng biển nông, gần bờ với đáy biển tương đối bằng

phẳng.Thềm lục địa với phạm vi rộng lớn xuất hiện ở vùng bờ biển ít chấn động địa chất

và hoạt động của núi lửa.Thềm lục địa thường rộng cỡ vài trăm km tới 1.500km. Độ dốc

đáy biển ở đây rất nhỏ chỉ trong vòng vài độ. Thềm lục địa được giới hạn xa bờ có độ dốc

đáy biển tăng đột ngột.

2.2.4. Băng

Băng là một thành phần quan trọng của thủy quyển, tập trung chủ yếu ở 2 cực

Trái đất. Theo các số liệu hiện nay, khối lượng băng trên Trái đất chiếm trên 75% tổng

lượng nước ngọt và gần 2% khối lượng thủy quyển. Khối lượng băng trên Trái đất thay

đổi theo thời gian địa chất, phụ thuộc vào nhiệt độ trung bình của Trái đất.

Trong những năm gần đây, sự gia tăng của nhiệt độ của khí quyển toàn cầu

(khoảng 0,3-0,60C trong 100 năm) bởi hiệu ứng nhà kính, đang làm cho tốc độ tan băng ở

2 cực và mực nước biển tăng lên. Với tốc độ tăng này, vào cuối thế kỷ XXI, sự tan băng

ở vùng cực và núi cao sẽ làm cho mực nước biển dâng cao từ 65-100m.

2.3. Khí quyển

2.3.1. Sự hình thành và cấu trúc khí quyển Trái đất

Khí quyển là lớp vỏ ngoài của Trái đất, với ranh giới dưới là bề mặt thủy

quyển, thạch quyển và ranh giới trên là khoảng không giữa các hành tinh. Khí quyển

Trái đất được hình thành do sự thoát hơi nước, các chất khí từ thủy quyển và thạch

quyển. Thời kỳ đầu, khí quyển chủ yếu gồm hơi nước, amoniac, metan, các loại khí

trơ và hydro. Dưới tác dụng phân hủy của tia mặt trời, hơi nước bị phân hủy thành

oxy và hydro. Oxy tác động với amoniac và metan tạo ra khí N 2 và CO2. Quá trình

tiếp diễn, một lượng H2 nhẹ mất vào khoảng không vũ trụ, khí quyển còn lại chủ yếu

là hơi nước, Nitơ, CO2, một ít Oxy.

Khí quyển Trái đất có cấu trúc phân lớp với các tầng đặc trưng từ dưới lên trên như

sau: tầng đối lưu, tầng bình lưu, tầng trung gian, tầng nhiệt, tầng điện ly.( xem hình 2.3)

- Tầng đối lưu (Troposphere): là tầng thấp nằm ngay trên mặt đất, chiếm khoảng 70%

khối lượng khí, ở tầng này càng lên cao nhiệt độ càng giảm, có nhiệt độ thay đổi giảm dần từ

+400C ở lớp sát mặt đất tới -500C ở trên cao. Tầng đối lưu có chiều cao thay đổi từ 7- 8km ở

các đới cực và khoảng 16-18km ở đới xích đạo. Số lượng các khí ở tầng này khoảng 4,12 x

1015 tấn so với tổng khối lượng khí là 5,15.10 15 tấn. Tầng đối lưu là nơi tập trung nhiều hơi

nước nhất, bụi và các hiện tượng thời tiết chính như mây, mưa, tuyết, mưa đá, bão,…

- Tầng bình lưu (Stratosphere): có một vùng thấp hơn với độ cao trên 25km và có

nhiệt độ gần như không đổi, trong khi đó tầng trên của nó nhiệt độ tăng cùng với tăng độ cao.

Không khí ở tầng bình lưu loãng hơn, ít chứa bụi và các hiện tượng thời tiết. Ở độ cao



khoảng 25km trong tầng bình lưu, tồn tại một lớp không khí giàu khí ôzôn thường được gọi

là tầng ôzôn.

- Tầng trung quyển (Mesosphere): nằm bên trên tầng bình lưu cho đến độ cao 80km.

Nhiệt độ tầng này giảm theo độ cao, từ -20C ở phía dưới giảm xuống -920C ở lớp trên.

- Tầng nhiệt quyển (Thermosphere): có độ cao từ 80km đến 500km, ở đây nhiệt độ

không khí có xu hướng tăng dần theo độ cao, từ -920C đến +12000C. Nhiệt độ không khí ban

ngày rất cao và ban đêm thấp.

- Tầng ngoại quyển (Exosphere): bắt đầu từ độ cao 500km trở lên. Tầng này là nơi

xuất hiện cực quang và phản xạ các sóng ngắn vô tuyến.

Cấu trúc tầng của khí quyển được hình thành do kết quả của lực hấp dẫn và nguồn

phát sinh khí từ bề mặt Trái đất, có tác động to lớn trong việc bảo vệ và duy trì sự sống trên

Trái đất.



Khoảng không giữa các hành tinh



2000 km



Các ion

Tầng ngoại quyển

500 km

Không khí rất loãng

Tầng nhiệt quyển

Không khí loãng

Tầng trung quyển

Tầng bình lưu Khí ôzôn

Tầng đối lưu



80 km

50 km

15 - 18 km

0km



Nhiệt độ không khí

Hình 2.6 : Cấu trúc của khí quyển theo chiều thẳng đứng



2.3.2. Thành phần của khí quyển

Thành phần khí quyển Trái đất khá ổn định theo phương nằm ngang và phân dị

theo phương thẳng đứng. Phần lớn khối lượng 5.1015 tấn của toàn bộ khí quyển tập trung



ở tầng thấp: đối lưu và bình lưu. Mặc dù chỉ chiếm khoảng 0,05% khối lượng thạch

quyển, khí quyển Trái đất có vai trò rất quan trọng đối với đời sống Trái đất. Thành phần

không khí của khí quyển thay đổi theo thời gian địa chất, cho đến nay khá ổn định, bao

gồm chủ yếu là nitơ, ôxy và một sô loại khí trơ.

Bảng 2.5: Hàm lượng trung bình của khí quyển

Chất khí



% thể tích



% trọng lượng



N2

O2

Ar

CO2

Ne

He

CH4

Kr

N2O

H2

O3

Xe



78,08

20,91

0,93

0,035

0,0018

0,0005

0,00017

0,00014

0,00005

0,00005

0,00006

0,000009



75,51

23,15

1,28

0,005

0,00012

0,000007

0,000009

0,000029

0,000008

0,0000035

0,000008

0,00000036



Khối lượng

( n. 1010tấn)

386.480

118.410

6.550

233

6,36

0,37

0,43

1,46

0,4

0,02

0,35

0,18



2.3.3. Ozon khí quyển và chất CFC

Bức xạ mặt trời là nguồn năng lượng chủ yếu để duy trì sự sống trên Trái đất. Bức xạ

đó khi truyền xuống Trái đất với một phổ sóng rất rộng. Bầu khí quyển Trái đất có tác dụng

khuếch tán, hấp thụ và lọc một phần các tia BXMT, không cho chúng chiếu toàn bộ xuống bề

mặt Trái đất. Vì vậy, khí quyển không phải là nơi cung cấp không khí cho hoạt động sống

của sinh vật mà còn là màn chắn đối với các tác động có hại của tia sáng mặt trời. Cấu trúc

của phổ BXMT và độ rộng của các cửa sổ khí quyển được trình bày ở hình sau:



Cửa số ánh sáng nhìn thấy

Cửa số vô tuyến



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 2. CÁC THÀNH PHẦN CƠ BẢN CỦA MÔI TRƯỜNG

Tải bản đầy đủ ngay(119 tr)

×