Tải bản đầy đủ - 119 (trang)
Chương 1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

Chương 1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

Tải bản đầy đủ - 119trang

qua lại với các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, đất, sinh

vật, xã hội loài người...





MT sống của con người thường được phân chia thành các loại sau:

-



MT tự nhiên: Bao gồm các yếu tố tự nhiên như vật lý, hóa học, sinh học,

tồn tại ngoài ý muốn của con người nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của

con người.

- MT xã hội: Là tổng thể các quan hệ giữa người và người tạo nên sự thuận

lợi hoặc khó khăn cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân và cộng đồng

loài người.

- MT nhân tạo : Là tất cả các yếu tố tự nhiên, xã hội do con người tạo nên và

chịu sự chi phối của con người.

Như vậy, MT sống của con người theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên

và xã hội cần thiết cho sự sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên,

không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội,… Theo nghĩa hẹp, thì MT

sống của con người chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và nhân tố xã hội trực tiếp liên

quan tới chất lượng cuộc sống của con người.

1.1.2. Đối tượng và nhiệm vụ của Khoa học môi trường.

MT là đối tượng nghiên cứu của một ngành khoa học liên ngành có mục đích chủ

yếu là BVMT sống lâu dài của con người trên Trái đất. Vậy Khoa học MT là gì ?

Khoa học MT là ngành khoa học nghiên cứu mối quan hệ và tương tác qua lại

giữa con người và môi trường chung quanh.

Khoa học MT là một ngành khoa học ứng dụng, một dạng của các phương án giải

quyết vấn đề là sự tìm kiếm những thay thế cấu trúc đối với tổn thất MT. Khoa học MT là

khoa học tổng hợp, liên ngành, nó sử dụng và phối hợp thông tin từ nhiều lĩnh vực như :

sinh học, hóa học, địa chất, thổ nhưỡng, vật lý, kinh tế, xã hội học, khoa học quản lý và

chính trị... để tập trung vào các nhiệm vụ sau:





Nghiên cứu đặc điểm của các thành phần MT có ảnh hưởng hoặc chịu ảnh

hưởng bởi con người, nước, không khí, đất, sinh vật, hệ sinh thái, KCN, đô

thị, nông thôn...







Nghiên cứu công nghệ , kỹ thuật xử lý ô nhiễm, bảo vệ chất lượng MT sống

của con người.







Nghiên cứu tổng hợp các biện pháp quản lý về khoa học kinh tế, luật pháp, xã

hội nhằm BVMT và PTBV.







Nghiên cứu về phương pháp mô hình hóa, phương pháp phân tích hóa học,vật

lý, sinh học phục vụ cho 3 nội dung trên.



Về phương pháp nghiên cứu:

• Các phương pháp thu thập và xử lý số liệu thực tế, các thực nghiệm

• Các phương pháp phân tích thành phần MT





Các phương pháp phân tích, đánh giá xã hội, quản lý xã hội, kinh tế.







Các phương pháp tính toán, dự báo, mô hình hóa







Các giải pháp kỹ thuật, tiến bộ kỹ thuật







Các phương pháp phân tích hệ thống



1.2.Phân loại môi trường

Theo chức năng, MT được chia thành 3 loại:

• MT tự nhiên, bao gồm các yếu tố thiên nhiên, vật lý, hóa học, sinh học tồn tại

khách quan bao quanh con người. Nó còn chia nhỏ hơn theo các thành phần:

MT sinh thái, ở đó yếu tố sinh thái học chiếm vai trò chủ đạo là MT đất,

không khí, nước, địa chất...

• MT xã hội, là tổng thể các quan hệ giữa con người với con người, tạo nên sự

thuận lợi hay khó khăn cho sự phát triển của cá nhân hay cộng đồng dân cư.

• MT nhân tạo, là tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội do con người tạo nên và

chịu sự chi phối bởi con người.

 Như vậy, các nội dung nghiên cứu của khoa học MT theo các hướng sau đây:







Nghiên cứu các thành phần của MT sống tự nhiên và xã hội đang tồn tại trên

Trái đất trong mối quan hệ với các hoạt động của con người.



Nghiên cứu kỹ thuật và công nghệ MT, nguyên nhân và biện pháp xử lý ô

nhiễm MT, các công nghệ xử lý nước thải, khí thải, rác thải, xử lý tiếng ồn...

• Quản lý MT, nghiên cứu các biện pháp, giải pháp kỹ thuật, kinh tế, luật pháp,

chính sách để ngăn ngừa hoặc giảm thiểu ô nhiễm.

1.3.Quan hệ giữa môi trường và phát triển

Có thể trình bày một cách cô đọng MT là tổng hợp các điều kiện sống của con

người, phát triển là quá trình cải tạo và cải thiện các điều kiện đó. Giữa MT và phát triển

có mối quan hệ rất chặt chẽ. MT là địa bàn và đối tượng của phát triển.

Trong phạm vi một quốc gia, một châu lục hay trên toàn thế giới, người ta cho

rằng, tồn tại hai hệ thống: “hệ thống KTXH và hệ thống MT”. Hệ thống KTXH cấu thành

bởi các thành phần sản xuất, lưu thông- phân phối, tiêu dùng và tích lũy, tạo nên một

dòng nguyên liệu, năng lượng, chế phẩm hàng hóa, phế thải lưu thông giữa các phần tử

cấu thành hệ. Hệ thống môi trường với các thành phần MT thiên nhiên và MT xã hội.

Khu vực giao giữa hai hệ tạo thành “MT nhân tạo”, có thể xem như là kết quả tích lũy

mọi hoạt động tích cực hoặc tiêu cực của con người trong quá trình phát triển trên địa bàn

MT. Khu vực giao này thể hiện tất cả các mối quan hệ giữa phát triển và MT. MT thiên



nhiên cung cấp tài nguyên cho hệ kinh tế, đồng thời tiếp nhận chất thải từ hệ kinh tế. Chất

thải này có thể ở lại hẳn trong MT thiên nhiên, hoặc qua chế biến rồi trở về hệ kinh tế.

Mọi hoạt động sản xuất mà chất phế thải không thể sử dụng trở lại được vào hệ kinh tế

được xem như là hoạt động gây tổn hại đến MT. Lãng phí tài nguyên không tái tạo được,

sử dụng tài nguyên tái tạo được một cách quá mức khiến cho nó không thể hồi phục

được, hoặc phục hồi sau một thời gian quá dài, tạo ra những chất độc hại đối với con

người và MT sống là những hoạt động tổn hại tới MT. Những hành động gây nên những

tác động như vậy là hành động tiêu cực về MT. Các hoạt động phát triển luôn luôn có hai

mặt lợi và hại. Bản thân thiên nhiên cũng có hai mặt. Thiên nhiên là nguồn tài nguyên

và phúc lợi đối với con người, nhưng đồng thời cũng là nguồn thiên tai, thảm họa đối với

đời sống và sản xuất của con người.

Trong khoa học kinh tế cổ điển không thể giải quyết thành công mối quan hệ

phức tạp giữa phát triển và MT. Từ đó nảy sinh lý thuyết không tưởng về “đình chỉ phát

triển” ( Zero or negative growth), cụ thể là cho tốc độ phát triển bằng không hoặc âm để

bảo vệ nguồn tài nguyên không tái tạo vốn hữu hạn của Trái đất. Đối với tài nguyên sinh

học cũng có “ chủ nghĩa bảo vệ”, chủ trương không can thiệp, đụng chạm vào thiên

nhiên, nhất là tại các địa bàn chưa được điều tra nghiên cứu đầy đủ. Chủ nghĩa bảo vệ

cũng là một điều không tưởng, nhất là trong điều kiện các nước đang phát triển, nơi mà

tài nguyên thiên nhiên là nguồn vốn cơ bản cho mọi hoạt động phát triển của con người.

Trong phát triển kinh tế một phần đáng kể của nguồn nguyên liệu và năng lượng

được tiêu thụ một cách quá mức tại các nước phát triển vốn được khai thác tại các nước

đang phát triển. Bên cạnh hiện tượng “ô nhiễm do thừa thải” xảy ra tại các nước công

nghiệp phát triển, gần đây tại hầu hết các nuớc đang phát triển có thu nhập thấp đã xảy ra

hiện tượng “ ô nhiễm nghèo đói”. Thiếu lương thực, nước uống, nhà ở, thuốc men, vệ

sinh, mù chữ, bất lực trước thiên tai là nguồn gốc cơ bản của những vấn đề MT nghiêm

trọng đang đặt ra cho nhân dân các nước đang phát triển. Cần nói thêm rằng sự tiêu thụ

quá mức nguyên liệu và năng lượng của các nước phát triển cũng đã làm cho các vấn đề

MT ở các nước đang phát triển trầm trọng hơn.

Tại Hội nghị LHQ về MT con người họp năm 1972 tại Stockholm- Thụy Điển,

các nhà khoa học đã đi đến kết luận rằng, nguyên nhân của nhiều vấn đề quan trọng về

MT không phải là do phát triển mà chính là hậu quả của sự kém phát triển. Tư tưởng đó

đã được thể hiện trong chiến lược phát triển 10 năm lần thứ nhất của LHQ. Chiến lược đã

đề cập tới mối quan hệ giữa phát triển với MT, dân số, tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đất,

bảo vệ rừng,...



Các mục tiêu phát triển KTXH và BVMT phải được gắn bó với nhau trong việc

xây dựng mục tiêu, xác định chiến lược kế hoạch hóa, cũng như điều hành và quản lý

việc thực hiện các mục tiêu đó.

1.4.



Các chức năng chủ yếu của môi trường





MT là không gian sống của con người và các loài sinh vật



Mỗi một người đều cần một không gian nhất định để phục vụ cho các hoạt động

sống như: nhà ở, nơi nghĩ, đất để sản xuất nông nghiệp,... Mỗi người mỗi ngày cần trung

bình 4 m3 không khí sạch để hít thở; 2,5 lít nước để uống, một lượng lương thực, thực

phẩm tương ứng 2000-2500 calo. Tuy nhiên, hiện nay không gian này ngày càng bị thu

hẹp (xem bảng 1.1)

Bảng 1.1: Suy giảm diện tích đất bình quan đầu người trên thế giới(ha/người)

Năm



- 106



Dânsố(tr.ng)

DT(ha/ng)



120.000



0,125



-105



-104



1,0

5,0

15.000 3.000



O(CN)



1650



1840



1930



200

75



545

27,5



1994



1.000 2.000

15

7,5



2010



5.000

3,0



7.000

1,88



Bảng 1.2: Diện tích đất canh tác trên đầu người ở Việt Nam

Năm

Bình quân đầu người(ha/ ng)



1940

0,2



1960

0,16



1970

0,13



1992

0,11



2000

0,10



Yêu cầu về không gian sống của con người thay đổi theo trình độ khoa học và

công nghệ. Trình độ phát triển càng cao thì nhu cầu về không gian sản xuất sẽ càng giảm.

Tuy nhiên, con người luôn cần một khoảng không gian riêng cho nhà ở, sản xuất lương

thực và tái tạo chất lượng MT. Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết nhất

cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại không gian

khác như: khai hoang, phá rừng,...

Có thể phân loại chức năng không gian sống của con người thành các dạng cụ thể

sau đây:

+ Chức năng xây dựng: cung cấp mặt bằng và nền móng cho các đô thị, khu công

nghiệp, kiến trúc hạ tầng và nông thôn.

+ Chức năng vận tải: cung cấp mặt bằng, khoảng không gian và nền móng cho

giao thông đường thủy, đường bộ và đường không.

+ Chức năng cung cấp mặt bằng cho sự phân hủy chất thải

+ Chức năng giải trí của con người

+ Chức năng cung cấp mặt bằng và không gian xây dựng các hồ chứa

+ Chức năng cung cấp mặt bằng, không gian cho việc xây dựng các nhà máy, xí nghiệp



+ Chức năng cung cấp mặt bằng và các yếu tố cần thiết khác cho hoạt động canh

tác nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản...



Không gian sống của

con người và các loài

sinh vật



Nơi chứa đựng các

nguồn tài nguyên



MÔI

TRƯỜNG



Nơi chứa đựng các

phế thải do con người

tạo ra trong cuộc sống



Nơi lưu trữ và cung cấp

các nguồn thông tin



Hình1.1: Các chức năng chủ yếu của môi trường (KHMT)

MT là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho đời sống và hoạt động sản xuất

của con người

Trong lịch sử phát triển, loài người đã trãi qua nhiều giai đoạn. Bắt đầu từ khi con

người biết canh tác cách đây khoảng 14-15 nghìn năm, vào thời kỳ đồ đá giữa cho đến khi

phát minh ra máy hơi nước vào thế kỷ thứ XVIII. Xét về bản chất, mọi hoạt động của con

người đều nhằm vào việc khai thác các hệ thống sinh thái của tự nhiên theo sơ đồ sau:





Trí tuệ



Con người



Vật tư công cụ



Tự nhiên

(Các hệ thống sinh

thái)



Lao động cơ bắp



Hình1.2: Hệ thống sinh thái của tự nhiên và nhân tạo. (KHMT)

Mọi sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp,... của con người đều bắt

nguồn từ các dạng vật chất tồn tại trên Trái đất và không gian bao quanh Trái đất.



Nhu cầu của con người về các nguồn tài nguyên không ngừng tăng lên cả về số

lượng, chất lượng và mức độ phức tạp theo trình độ phát triển của xã hội. Chức năng này

của MT còn gọi là nhóm chức năng sản xuất tự nhiên gồm:

- Rừng tự nhiên: có chức năng cung cấp nước, bảo tồn tính ĐDSH và độ phì

nhiêu của đất, nguồn gỗ củi, dược liệu và cải thiện điều kiện sinh thái.

- Các thủy vực: có chức năng cung cấp nước, dinh dưỡng, nơi vui chơi giải

trí và ácc nguồn thủy hải sản.

- Động thực vật: cung cấp lương thực và thực phẩm và các nguồn gen quý hiếm.

- Không khí, nhiệt độ, năng lượng mặt trời, gió, nước: để chúng ta hít thở,

cây cối ra hoa và kết trái.

- Các loại quặng, dầu mở: cung cấp năng lượng và nguyên liệu cho các hoạt

động sản xuất nông nghiệp,…

• MT là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và

hoạt động sản xuất của mình. Có thể phân loại chi tiết chức năng này thành

các loại sau:

- Chức năng biến đổi lý – hóa học

- Chức năng biến đổi sinh hóa

- Chức năng biến đổi sinh học

• MT là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật

trên Trái đất.

Trái đất là nơi sinh sống của con người và các sinh vật nhờ các điều kiện môi trường

đặc biệt như: nhiệt độ không khí không quá cao, nồng độ ôxy và các khí khác tương đối ổn

định,…Sự phát sinh và phát triển sự sống xảy ra trên Trái đất nhờ hoạt động của hệ thống các

thành phần của MT Trái đất như khí quyển, thủy quyển, sinh quyển và thạch quyển.

- Khí quyển giữ cho nhiệt độ Trái đất tránh được các bức xạ quá cao, chênh lệch

nhiệt độ lớn, ổn định nhiệt độ trong khả năng chịu đựng của con người,…

- Thủy quyển thực hiện chu trình tuần hoàn nước, giữ cân bằng nhiệt độ, các chất

khí, giảm nhẹ tác động có hại của thiên nhiên đến con người và các sinh vật.

- Thạch quyển liên tục cung cấp năng lượng, vật chất cho các quyển khác của

Trái đất, giảm tác động tiệu cực của thiên tai tới con người và sinh vật.





MT là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người

-



Cung cấp sự ghi chép lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiến hóa của vật chất

và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hóa của loài người.

Cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tính chất tín hiệu và báo

động sớm các hiểm họa.

Lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gen.



 Như vậy, có thể có các dạng vi phạm chức năng của môi trường sống như:

Làm cạn kiệt nguyên liệu và năng lượng cần cho sự tồn tại và phát triển của các cơ thể

sống. Làm ứ thừa phế thải trong không gian sống, Làm mất cân bằng sinh thái giữa các

loài sinh vật với nhau và giữa chúng với các thành phần môi trường. Vi phạm chức năng

giảm nhẹ tác động của thiên tai. Vi phạm chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho

con người.

1.5. Những vấn đề môi trường thách thức hiện nay trên thế giới

Báo cáo tổng quan MT toàn cầu năm 2000 của Chương trình MT LHQ(UNEP) đã

phân tích 2 xu hướng bao trùm khi loài người bước vào thiên niên kỷ thứ ba:

- Thứ nhất, đó là các HST và sinh thái nhân văn toàn cầu bị đe dọa bởi sự

mất cân bằng sâu sắc trong năng suất và trong phân bố hàng hóa và dịch

vụ, sự phồn thịnh và sự cùng cực đang đe dọa sự ổn định của toàn bộ hệ

thống nhân văn và cùng với nó là MT toàn cầu.

- Thứ hai, thế giới đang ngày càng biến đổi, trong đó sự phối hợp quản lý MT ở

quy mô quốc tế luôn bị tụt hậu so với sự phát triển kinh tế - xã hội. Những

thành quả về MT thu được nhờ công nghệ và những chính sách mới đang

không theo kịp nhịp độ và quy mô gia tăng dân số và phát triển kinh tế.

Hiện nay thế giới đang đứng trước những thách thức MT sau:

1.5.1. Khí hậu toàn cầu biến đổi và tần suất thiên tai gia tăng

Theo đánh giá của Ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu toàn cầu thì có bằng

chứng cho thấy về ảnh hưởng rất rõ rệt của con người đến khí hậu toàn cầu. Các nhà khoa

học cho biết trong vòng 100 năm trở lại đây, Trái đất đã nóng lên khoảng 0,50C và trong

thế kỷ này sẽ tăng từ 1,50C - 4,50C so với nhiệt độ ở thế kỷ XX. Hậu quả của sự nóng lên

toàn cầu là:

- Mực nước biển dâng cao từ 25 đến 140cm, băng tan sẽ nhấn chìm một

vùng đất liền rộng lớn, theo dự báo nếu tình trạng như hiện nay thì đến giữa

thế kỷ này biển sẽ tiến vào đất liền từ 5-7m độ cao.

- Thời tiết thay đổi dẫn đến gia tăng tần suất thiên tai như gió, bão, hỏa hoạn

và lũ lụt. Ví dụ, các trận hỏa hoạn tự nhiên không kiểm soát được vào các

năm từ 1996-1998 đã thiêu hủy nhiều khu rừng ở Braxin, Canada, khu tự

trị Nội Mông ở Đông Bắc Trung Quốc, Inđônêxia, Italia, Mêhicô, Liên

bang Nga và Mỹ.

Việt Nam tuy chưa phải là nước công nghiệp phát triển, tuy nhiên xu thế đóng

góp khí gây hiệu ứng nhà kính cũng thể hiện khá rõ nét.

Bảng 1.3: Kết quả kiểm kê khí nhà kính năm 1990-1993 (Tg-triệu tấn)

Năm



1990



1993



Nguồn phát thải

- Khu vực năng lượng thương mại (Tg CO2)

- Khu vực năng lượng phi thương mại (Tg CO2)

- Sản xuất ximăng (Tg CO2)

- Chăn nuôi (Tg CH4)

- Trồng lúa nước (Tg CH4)

- Lâm nghiệp (Tg CO2)



19,280

43,660

0,347

1,135

0,950

33,90



24,045

52,565

2,417

0,394

3,192

34,516



"Cửa



sổ khí quyển"



"Cửa



Nhìn thấy



Tia tử ngoại



Với những nguyên nhân trên, thiên tai không chỉ xuất hiện với tần suất ngày càng

gia tăng mà quy mô tác động gây thiệt hại cho con người cũng ngày càng lớn.

1.5.2. Sự suy giảm tầng ôzôn.

Ôzôn (O3) là loại khí hiếm trong không khí gần bề mặt đất và tập trung thành lớp

dày ở những độ cao khác nhau trong tầng đối lưu từ 16km đến khoảng 40km ở các vĩ độ.

Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, ôzôn độc hại và sự ô nhiễm ôzôn sẽ có tác động xấu

đến năng suất cây trồng.



Tia

Hồng

ngoại



Tia

Tia

Giới hạn trên khí quyển

Gamma

Rơnghen



sổ khí quyển"



Bức xạ Radio

µm



-7



-6



-5



10 10 10

1.000km



-4



10



10



-3



10



-2



-1



10



1



10



10



2



10



3



4



10



10



Bức xạ mặt trời chiếu xạ

Hình 1.3: Phổ sóng điện từ của bức tới Mặt trời

(từ tia gamma đến tia sóng điện



80km

Tầng điện ly

40km

Tầng bình lưu

Tầng đối lưu

12 -18km

Bề mặt trái đất



5



Bức xạ mặt trời lọt qua hai "cửa sổ"



Hấp thụ tia tử ngoại λ = 0,.99 µm

Hấp thụ tia tử ngoại λ = 0,13 -0,18 µm



10



6



10



7



108



Hình 1.4: Tầng ôzôn - "ô bảo vệ" sự sống trên trái đất

Tầng ôzôn có vai trò bảo vệ, chặn đứng các tia cực tím có ảnh hưởng trực tiếp đến

đời sống của con người và các loài sinh vật trên Trái đất. Bức xạ tia cực tím có nhiều tác

động, hầu hết mang tính chất phá hủy đối với con người và sinh vật cũng như các vật liệu

khác, khi tầng ôzôn tiếp tục bị suy thoái, các tác động này càng trở nên tồi tệ.

Bảng 1.4: Tác động của O3 đối với thực vật

Loại cây

- Củ cải

- Thuốc lá

- Đậu tương

- Yến mạch



Nồng độ

O3(ppm)

0,050

0,100

0,050

0,075



Thời gian tác động



Biểu hiện gây hại



20 ngày (8h/ngày)

5,5h

19h



50% lá chuyển sang màu vàng

Giảm 50% phát triển phấn hoa

Giảm sinh trưởng từ 14,4-17%

Giảm cường độ quang hợp



1.5.3. Hiệu ứng nhà kính đang gia tăng

Vậy hiệu ứng nhà kính là gì? Như chúng ta đã biết, nhiệt độ bề mặt Trái đất được tạo

thành bởi sự cân bằng giữa năng lượng Mặt Trời chiếu xuống Trái đất và năng lượng bức xạ

nhiệt của mặt đất phản xạ vào khí quyển. Bức xạ Mặt trời là bức xạ sóng ngắn nên nó dễ

dàng xuyên qua các lớp khí CO2 và tầng Ôzôn rồi xuống mặt đất, ngược lại, bức xạ nhiệt từ



mặt đất phản xạ vào khí quyển là bức xạ sóng dài, nó không có khả năng xuyên qua lớp khí

CO2 và lại bị khí CO2 và hơi nước trong không khí hấp thụ, do đó nhiệt độ của khí quyển bao

quanh Trái đất sẽ tăng lên tăng nhiệt độ bề mặt Trái đất (xem hình 1.), hiện tượng này được

gọi là “hiệu ứng nhà kính”(green house effect), vì lớp cacbon đioxit ở đây có tác dụng tương

tự như lớp kính giữ nhiệt của nhà kính trồng rau xanh trong mùa đông.



T

Bức xạ từ nhiệt

từ mặt đất (sóng dài)



M



Bức xạ

mặt

trời

(sóng

ngắn)



Bức xạ nhiệt

từ mặt đất (sóng dài)



Khí quyển



A



Bề mặt trái đất



B



A. Khi trong khí quyển có nồng độ khí CO2 bình thường

B. Khi trong khí quyển có nồng độ khí CO2 lớn



Hình1.5: Hiệu ứng nhà kính của CO2

Tính chất nguy hại của hiệu ứng nhà kính hiện nay là làm tăng nồng độ các khí

này trong khí quyển sẽ có tác dụng làm tăng mức nhiệt độ từ ấm tới nóng, do đó gây nên

những vấn đề MT của thời đại. các khí nhà kính bao gồm: CO2, CFC, CH4, N2O.

Hoffman và Wells (1987) cho biết, một số loại khí hiếm có khả năng làm tăng

nhiệt độ của Trái đất. Trong số 16 loại khí hiếm thì NH4 có khả năng lớn nhất, sau đó là

N2O, CF3Cl, CF3Br, CF2Cl2 và cuối cùng là SO2.

1.5.4. Tài nguyên bị suy thoái.

- Rừng, đất rừng và đồng cỏ hiện vẫn đang bị suy thoái hoặc bị triệt phá mạnh mẽ,

đất hoang bị biến thành sa mạc. Một bằng chứng mới cho thấy sự biến đổi khí hậu cũng

là nguyên nhân gây thêm tình trạng xói mòn đất ở nhiều khu vực. Theo FAO, trong vòng

20 năm tới, hơn 140 triệu ha đất sẽ bị mất đi giá trị trồng trọt và chăn nuôi.Đất đai ở hơn



100 nước trên thế giới đang chuyển chậm sang dạng hoang mạc, có nghĩa là 900 triệu

người đang bị đe dọa. Trên phạm vi toàn cầu, khoảng 25 tỷ tấn đất đang bị cuốn trôi hằng

năm vào các sông ngòi và biển cả.

- Diện tích rừng của thế giới còn khoảng 40 triệu km2, song cho đến nay, diện tích

này đã bị mất đi một nửa, trong số đó, rừng ôn đới chiếm khoảng 1/3 và rừng nhiệt đới

chiếm 2/3.Sự phá hủy rừng xảy ra mạnh chủ yếu ở các nước đang phát triển.

- Với tổng lượng nước là 1386.106km3, bao phủ gần ¾ diện tích bề mặt Trái đất,

nhưng loài người vẫn “khát”giữa đại dương mênh mông, bởi vì lượng nước ngọt chỉ

chiếm 2,5% tổng lượng nước mà hầu hết tồn tại dưới dạng đóng băng và tập trung ở hai

cực (chiếm 2,24%), còn lượng nước ngọt mà con người có thể sử dụng trực tiếp là 0,26%.

Gần 20% dân số thế giới không được dùng nước sạch và 50% thiếu các hệ thống vệ sinh

an toàn.

1.5.5. Ô nhiễm môi trường đang xảy ra ở quy mô rộng

Trước tốc độ phát triển nhanh chóng của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là quá

trình đô thị hóa và công nghiệp hóa. Nhiều vấn đề MT tác động ở các khu vực nhỏ, mật

độ dân số cao. Ô nhiễm không khí, rác thải, chất thải nguy hại, ô nhiễm tiếng ồn và nước

đang biến những khu vực này thành các điểm nóng về MT.

Bước sang thế kỷ XX, dân số thế giới chủ yếu sống ở nông thôn, số người sống

tại các đô thị chiếm 1/7 dân số thế giới. Đến cuối thế kỷ XX, dân số sống ở đô thị đã tăng

lên nhiều và chiếm tới 1/2 dân số thế giới.

Năm 1950, có 3 trong số 10 thành phố lớn nhất trên thế giới là ở các nước đang

phát triển như: Thượng Hải (Trung Quốc), Buenos Aires (Achentina) và Calcuta (Ấn

Độ).Năm 1990, 7 thành phố lớn nhất thế giới là ở các nước đang phát triển. Năm 1995 và

2000 đã tăng lên 17 siêu đô thị (xem bảng 1.5)

Bảng 1.5: Dân số các siêu đô thị



1.

2.

3.

4.

5.

6.

7.

8.

9.



Thành phố

Tokyo, Nhật Bản

Sao Paulo, Braxin

New York, Mỹ

Mexico City, Mexico

Thượng Hải, Trung Quốc

Bombay, Ấn Độ

Los Angeles, Mỹ

Bắc Kinh, Trung Quốc

Calcuta, Ấn Độ



1995

26,8

16,4

16,3

15,6

15,1

15,1

12,4

12,4

11,7



2000

27,9

17,8

16,6

16,4

17,2

18,1

13,1

14,2

12,7



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

Tải bản đầy đủ ngay(119 tr)

×