Tải bản đầy đủ - 120 (trang)
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THỰCTẬP SƯ PHẠM

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THỰCTẬP SƯ PHẠM

Tải bản đầy đủ - 120trang

- Hội thảo “Nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên phục vụ sự nghiệp

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (1996).

- Hội thảo “Công tác thực tập sư phạm ở các trường sư phạm”

(4/2008) xoay quanh vấn đề đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao

chất lượng công tác thực tập sư phạm.

- Hội thảo khoa học quốc gia “Sinh viên với đào tạo đáp ứng nhu cầu

xã hội, nhu cầu đất nước” (8/2008) nhấn mạnh việc ngành giáo dục chủ động

xây dựng chương trình chú trọng thực hành, chuẩn bị kỹ năng nghề cho người

học; các cơ sở đào tạo tăng cường tổ chức các hoạt động, các loại hình câu lạc

bộ để sinh viên có điều kiện rèn luyện các kỹ năng liên quan đến nghề, phát huy

được năng lực của bản thân sau khi ra trường.

1.1.2. Đề tài khoa học và một số tài liệu chuyên đề khác



- Tài liệu “Hỏi đáp về thực tập sư phạm” (1993) của tập thể nhà giáo ở

trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh, ĐHSP Huế, ĐHSP Quy Nhơn và ĐHSP Cần

Thơ do PGS. Bùi Ngọc Hồ chủ biên có tính chất là một cẩm nang thực tập sư

phạm cho sinh viên và cũng là tài liệu hữu dụng cho các cán bộ quản lý, giảng

viên sư phạm. Tài liệu khẳng định mục tiêu, ý nghĩa, tầm quan trọng của hoạt

động thực tập sư phạm trong quá trình đào tạo giáo viên. Những nội dung cơ bản

của thực tập sư phạm (giao tiếp sư phạm, thực tập giảng dạy, thực tập công tác

chủ nhiệm lớp) đã được đề cập một cách cụ thể dưới hình thức hỏi – đáp sinh

động, có hệ thống, giúp các sinh viên chuẩn bị đi thực tập hiểu được các yêu cầu

về thái độ, tác phong, nhận thức của một giáo viên. Các tác giả đã trình bày một

số thao tác nghề nghiệp cụ thể như cách thức trình bày “Sổ thực tập sư phạm”;

xây dựng các dạng kế hoạch; thực tập giảng dạy một số môn học cụ thể. Đây là

một tài liệu quý, có thể làm cơ sở cho việc nghiên cứu hoạt động thực tập sư

phạm.

- Chuyên luận “Hình thành kỹ năng sư phạm” (1995) của GS. Nguyễn

Hữu Dũng phân tích đặc điểm của kỹ năng sư phạm, những nguyên tắc có thể áp



9



dụng để định hướng cho việc hình thành các kỹ năng sư phạm cho sinh viên trên

cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của các nước có nền giáo dục tiên tiến. Trong đó,

tác giả đã đặc biệt nhấn mạnh việc hình thành kỹ năng sư phạm cho sinh viên

trong giai đoạn thực tập sư phạm tập trung: các bước để tiến hành thực hiện

những nhiệm vụ sư phạm; hình thành những kỹ năng cụ thể như kỹ năng lập kế

hoạch dạy học, kỹ năng thiết kế và tiến hành bài học…

Luận án Phó tiến sĩ “Xây dựng qui trình luyện tập các kỹ năng giáo

dục cơ bản trong các hình thức thực hành, thực tập sư phạm” (1996) của tác

giả Trần Anh Tuấn đã đưa ra quy trình rèn luyện kỹ năng giáo dục như là một

trong những giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho SV sư

phạm.

Chuyên luận “Thực tập sư phạm” (1997) của Tiến sỹ Nguyễn Đình

Chỉnh đã trình bày những vấn đề cơ bản :Xácđịnh nội hàm khái niệm cơ bản là

năng lực sư phạm; mối quan hệ giữa lý thuyết và thực hành; thực tập sư phạm

đối với những môn học công cụ như: tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy

học bộ môn; các hình thức tổ chức thực tập sư phạm ở các trường sư phạm.

Giáo trình “Kiến tập và thực tập sư phạm” (1999) của TS Nguyễn

Đình Chỉnh và TS Phạm Trung Thanh dùng cho các trường CĐSP. Giáo trình đã

khẳng định vị trí, vai trò và ý nghĩa của kiến tập, thực tập sư phạm trong quá

trình đào tạo giáo viên; những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo việc tổ chức kiến tập

và thực tập sư phạm; nội dung, phương pháp, kết quả kiến tập và thực tập sư

phạm. Nhiều tồn tại của hoạt động thực tập sư phạm cũng được đề cập và đề

xuất các giải pháp để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề. Giáo

trình này là một cẩm nang thiết thực cho sinh viên sư phạm. Tuy nhiên, tác

phẩm được viết chưa sinh động, còn nặng về lý thuyết.

Hội thảo quốc gia về đào tạo nhân lực công nghệ cao theo nhu cầu xã

hội do Bộ Khoa học & Công nghệ, Bộ Giáo dục & Đào tạo tổ chức vào tháng

4/2009 đã chỉ rõ để có nguồn nhân lực công nghệ cao cần phải đảm bảo quan hệ

hợp tác hữu hiệu giữa các trường đại học, viện nghiên cứu; sớm hình thành

10



chuỗi phòng thí nghiệm công nghệ; nhà nước có chính sách khuyến khích hỗ trợ

các doanh nghiệp tham gia làm công tác đào tạo.

Luận văn thạc sĩ “Quản lý hoạt động thực tập sư phạm ở trường Cao

đẳng sư phạm Nha Trang – thực trạng và giải pháp” (2003) của tác giả Phan Phú

– Trường CĐSP Nha Trang. Công trình này đi sâu vào việc phân tích thực trạng

của việc quản lý hoạt động thực tập tại trường CĐSP Nha Trang, các nguyên

nhân dẫn đến thực trạng đó và đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động thực tập

hiệu quả hơn.

Luận văn thạc sĩ “Thực trạng việc quản lý thực tập ở Trường Cao đẳng

bán công Hoa Sen và một số giải pháp” của tác giả Bùi Trân Thúy – Trường

Cao đẳng bán công Hoa Sen. Đây là công trình nghiên cứu phân tích thực trạng

của việc quản lý thực tập của trường Hoa Sen và đề xuất một số giải pháp cụ thể

nhằm giúp cho nhà trường, các bộ phận liên quan có thể quản lý việc thực tập

của sinh viên một cách chặt chẽ, hiệu quả cao.

Luận văn thạc sĩ “Thực trạng quản lý báo chí tại trường Cao đẳng phát

thanh – truyền hình II”, 2009 của tác giả Nguyễn Thị Mai Thu. Công trình này

nghiên cứu thực trạng việc quản lý thực tập của sinh viên báo chí nhằm đề xuất

một số giải pháp cụ thể cho các cấp quản lý có thể nâng cao chất lượng thực tập

của sinh viên hệ cao đẳng và học sinh hệ trung học của trường Cao đẳng phát

thanh – truyền hình II.

Luận văn thạc sĩ “Thực trạng quản lý thực tập tại trường Đại học Y

khoa Phạm Ngọc Thạch”, năm 2009 của tác giả Nguyễn Thị Kim Thoa. Công

trình này đi sâu nghiên cứu thực trạng quản lý thực tập của sinh viên y khoa

nhằm đề xuất một số giải pháp cho các cấp quản lý có thể quản lý hoạt động

thực tập của sinh viên hiệu quả hơn.

Luận văn thạc sĩ “ Thực trạng quản lý hoạt động thực tập ở khoa điều

dưỡng – kỹ thuật y học, Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh”, 2010 của tác giả

Nguyễn Doãn Cường. Luận văn đi sâu phân tích thực trạng quản lý hoạt động



11



thực tập ở khoa điều dưỡng – kỹ thuật y khoa, Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh

nhằm đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động này.

Như vậy, nghiên cứu về hoạt động thực tập sư phạm đã có nhiều công

trình với các góc độ khác nhau. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, dù hình

thức khác nhau, đều có chung một mục tiêu là nâng cao chất lượng đào tạo.

Ngoài ra, các trường sư phạm hàng năm đều tổ chức các hội nghị tổng kết thực

tập sư phạm nhưng chủ yếu dừng lại ở việc tổng kế thành tích, chưa đi sâu vào

rút kinh nghiệm công tác quản lý chỉ đạo thực tập sư phạm. Tại Trường CĐSP

TW Nha Trang, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về

thực trạng quản lý hoạt động thực tập sư phạm. Vì vậy, luận văn cố gắng xây

dựng một hệ thống lý luận cơ bản và phân tích thực trạng công tác quản lý hoạt

động thực tập sư phạm ở một trường CĐSP, rút ra những ưu điểm và hạn chế, từ

đó đề xuất một số biện pháp khả thi để tăng cường hiệu quả công tác quản lý

hoạt động thực tập sư phạm ở Trường CĐSP TW – Nha Trang.

1.2. Hệ thống khái niệm trong đề tài

1.2.1. Quản lý



Hiện nay, có nhiều định nghĩa về quản lý.

Theo Từ điển tiếng Việt do trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội, xuất

bản 1992, quản lý có nghĩa là: Trông coi và gìn giữ theo những yêu cầu nhất

định; Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định.

Theo Từ điển Giáo dục học thì “Quản lý là hoạt động tác động có định

hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý

(người bị quản lý) trong một tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục

đích của tổ chức”.

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo trong cuốn Khoa học tổ chức và quản lý

một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Thống kê, Hà Nội thì thuật ngữ “Quản

lý” tiếng Việt gốc Hán đã lột tả bản chất của hoạt động này trong thực tiễn. Nó

gồm hai quá trình tích hợp vào nhau. Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn,



12



duy trì ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới,

đưa hệ vào thế “phát triển”.

Theo F. Taylor: quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người

khác làm, và sau đó hiểu rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và

rẻ nhất.

Theo Henry Fayol: quản lý nghĩa là dự kiến, tổ chức, lãnh đạo, phối

hợp và kiểm tra.

Theo Các Mác, mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung có

quy mô tương đối lớn hoặc nhiều hoặc ít cần có sự chỉ huy, nhằm điều hòa hoạt

động của các cá nhân và thực hiện các chức năng nói chung sinh ra trong vận

động tổng thể của sản xuất khác với sự vận động của một công cụ độc lập.

Theo Đại học Bách khoa Liên Xô, 1997 thì quản lý là chức năng của

những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật),

nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện

những chương trình, mục đích nhất định

Theo tác giả Trần Kiểm: quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều

người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội

Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách

thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung.

Theo tác giả Nguyễn Bá Sơn: quản lý là tác động có mục đích đến tập

thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình

lao động.

Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý

lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội

của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi

trường.

Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể

quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành

và đạt được mục đích của tổ chức.

13



Nhìn chung, các định nghĩa trên tuy khác nhau về thuật ngữ, cách diễn

đạt nhưng đã cho chúng ta cái nhìn tổng thể về khái niệm quản lý. Hoạt động

quản lý bao gồm các thành phần: chủ thể quản lý và tác động trong quản lý, mục

tiêu quản lý và đối tượng quản lý. Đó là hoạt động hướng đích rất rõ ràng nhằm

giúp tổ chức khai thác triệt để các cơ hội trong các điều kiện biến động không

ngừng của môi trường.

Theo chúng tôi, quản lý là hệ thống tác động có định hướng, có tổ

chức của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý thông qua việc thực hiện một

cách sáng tạo các chức năng quản lý nhằm khai thác triệt để nhất các tiềm năng,

các cơ hội của tổ chức để tối ưu hóa mục tiêu đã xác định.

Như vậy, quản lý có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một

nhóm xã hội;

Thứ hai, hoạt động quản lý là những tác động có mục đích xác định;

Thứ ba, hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của cá

nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức.

Điều đặc biệt cần nhấn mạnh là quản lý trong lĩnh vực xã hội luôn là

hoạt động tác động qua lại, hai chiều. Điều này được V.I. Lênin chỉ ra “Trí tuệ

của hàng chục triệu con người sáng tạo sẽ tạo ra cái cao hơn rất nhiều so với sự

tiên đoán vĩ đại và thiên tài của cá nhân”.

Bản chất của hoạt động quản lý là tổ chức, chỉ huy và điều khiển của

chủ thể quản lý phù hợp quy luật nhằm thực hiện có hiệu quả những mục tiêu

của tổ chức đã đề ra. Hoạt động quản lý mang tính khoa học cao, bởi sự tác động

giữa chủ thể quản lý đến khách thể quản lý thông qua công cụ, phương tiện,

phương pháp phù hợp với quy luật khách quan. Hoạt động quản lý tính nghệ

thuật, thể hiện ở những tác động quản lý hợp quy luật, hợp hoàn cảnh. Hoạt

động quản lý vừa có tính khách quan vừa có tính chủ quan vì được thực hiện bởi

chủ thể quản lý. Quản lý còn có tác dụng định hướng sự phát triển của tổ chức

trên cơ sở xác định mục tiêu và hướng mọi nỗ lực của các cá nhân, của tổ chức

14



vào mục tiêu chung đó; tổ chức, điều hòa, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của

các cá nhân trong tổ chức, giảm độ bất định nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã

xác định; tạo ra động lực lao động bằng cách kích thích, đánh giá, khen thưởng,

trách phạt, tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cá nhân và

tổ chức, đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững.

1.2.2. Quản lý giáo dục



Quản lý giáo dục là một bộ phận hợp thành của hệ thống quản lý xã

hội, thuộc lĩnh vực quản lý văn hóa tinh thần. Quản lý giáo dục là loại hình quản

lý phức tạp do hệ thống giáo dục có mục tiêu tổng hợp cao, mang tính nhất thể

hóa, trải rộng trong phạm vi không gian và thời gian. Chính điều này đòi hỏi

hoạt động quản lý giáo dục phải huy động được lực lượng toàn xã hội tham gia

vào quán trình giáo dục thể hệ trẻ nhằm đáp ứng các mục tiêu kinh tế - xã hội

của đất nước.

Theo M.M. Meechti – Zade, quản lý giáo dục là tập hợp những biện

pháp (tổ chức, phương pháp cán bộ, kế hoạch hóa, tài chính, cung tiêu…) nhằm

đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo

đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như

chất lượng.

Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục (và nói riêng,

quản lý trường học) là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp

với qui luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo

đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà

trường XHCN của Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo

dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về

chất”.

Theo TS Trần Kiểm thì khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cấp độ,

hai cấp độ chủ yếu là cấp vĩ mô và cấp vi mô. Đối với cấp vĩ mô, quản lý giáo

dục là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống,



15



hợp qui luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp

cao nhất đến các cơ sở giáo dục của nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng

và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho

ngành giáo dục. Đối với cấp vi mô, quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống

những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp

qui luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học

sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài trường nhằm thực

hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.

Theo TS Nguyễn Gia Quý, quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức

của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục

tiêu đã định, trên cơ sở nhận thức vận dụng đúng những qui luật khách quan của

Hệ thống giáo dục quốc dân.

Nhìn chung, các định nghĩa về quản lý giáo dục ở trên, tuy có khác

nhau về câu chữ, cách diễn đạt, song đều thể hiện sự thống nhất xác định hoạt

động quản lý giáo dục gồm:

Chủ thể quản lý: bộ máy quản lý các cấp, đóng vai trò quan trọng là

các cán bộ quản lý, những người điều hành toàn bộ hoạt động giáo dục.

Khách thể quản lý: hệ thống giáo dục quốc dân, các trường học, người

dạy, học.

Quan hệ quản lý: đó là những mối quan hệ giữa người học và người

dạy; quan hệ giữa người quản lý với người dạy, người học; quan hệ giữa người

dạy với cộng đồng… Các mối quan hệ đó có ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo,

chất lượng hoạt động của nhà trường, của toàn bộ hệ thống giáo dục.

Tóm lại, theo chúng tôi, quản lý giáo dục là hệ thống tác động liên tục

có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý giáo dục lên khách thể quản lý

giáo dục về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống luật

lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các biện pháp, các phương tiện cụ thể, trên cơ

sở vận dụng các quy luật của quá trình giáo dục nhằm tạo ra môi trường và điều

kiện thuận lợi cho sự tối ưu hóa mục tiêu giáo dục đã xác định.

16



Quản lý giáo dục phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản, đó là nguyên

tắc đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng, nguyên tắc đảm bảo

tính khoa học, tính kế hoạch và thực tiễn, nguyên tắc tập trung dân chủ.

Nói cách khác, quản lý giáo dục là tìm kiếm, xây dựng những giải

pháp, biện pháp quản lý phù hợp dựa trên điều kiện thực tế về nhân lực, về vật

lực, tài lực của một cơ quan giáo dục nhằm đạt tới sự phát triển tối ưu cho cơ

quan đó trong mối tương quan với yêu cầu phát triển của xã hội. Quản lý giáo

dục được xem như một khoa học nhằm góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng

đào tạo.

1.2.3. Quản lý trường học



Trường học là bộ phận của xã hội, là tổ chức giáo dục cơ sở của Hệ

thống giáo dục quốc dân. Hoạt động dạy học - giáo dục là hoạt động trung tâm

của trường học, mọi hoạt động đa dạng khác đều hướng vào việc thực hiện hoạt

động trung tâm này. Vì vậy, quản lý trường học ( quản lý nhà trường) thực chất

là quản lý hoạt động dạy học – giáo dục nhằm đạt tới mục tiêu đã xác định.

Theo GS.VS Phạm Minh Hạc “quản lý nhà trường là thực hiện đường

lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà

trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu

đào tạo với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh. Việc quản lý nhà

trường là quản lý hoạt động dạy học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng

thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục”.

Theo PGS.TS Trần Tuấn Lộ “Quản lý trường học là sự quản lý của

hiệu trưởng đó với toàn bộ những con người, những hoạt động, những tổ chức

và những phương tiện vật chất, kỹ thuật, tài chính của trường để đạt cho được

mục tiêu của sự giáo dục (và đào tạo) học sinh trường đó”.

Như vậy, quản lý trường học là hoạt động hướng đích, có tổ chức của

chủ thể quản lý tác động đến các hoạt động của nhà trường hướng vào việc thực

hiện tối ưu mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đã xác định. Nói cách khác, quản



17



lý trường học là hệ thống tác động của các chủ thể quản lý trường học nhằm tập

hợp và quản lý hiệu quả các hoạt động của người dạy, người học và các lực

lượng giáo dục khác và huy động tối đa các nguồn lực giáo dục khác để nâng

cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường.

1.2.4. Thực tập sư phạm



1.2.4.1. Thực tập

Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê cb), thực tập là làm trong thực tế

để áp dụng và củng cố kiến thức lý thuyết, trau dồi thêm về nghiệp vụ chuyên

môn.

Theo Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý cb), thực tập là tập làm

trong thực tế để áp dụng, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn: sinh viên đi thực tập

ở nhà máy, sau đợt thực tập phải nộp tổng kết, báo cáo cho nhà trường.

Theo định nghĩa của từ điển La Rousse, thực tập là giai đoạn học tập,

nghiên cứu qua thực tế, được yêu cầu đối với học viên theo học một số nghề

(thực tập luật sư, thực tập sư phạm), cũng là giai đoạn mà một người phải tạm

thời đến làm việc tại doanh nghiệp để hoàn tất chương trình đào tạo.

Nhìn chung, các định nghĩa tuy khác nhau về diễn đạt nhưng đều thống

nhất ở điểm xác định thực tập là giai đoạn tập làm nghề có tính chất bắt buộc

của sinh viên một số ngành đào tạo.

1.2.4.2. Thực tập sư phạm

Thực tập sư phạm là hình thức rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cơ bản

của sinh viên các trường sư phạm. Nghiệp vụ sư phạm biểu hiện trình độ chuyên

môn và năng lực nghề nghiệp, bao gồm hệ thống các năng lực sư phạm mà sinh

viên phải rèn luyện ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường sư phạm nhằm

hoàn thành tốt các nhiệm vụ dạy học và giáo dục theo yêu cầu của thực tiễn giáo

dục. Nghiệp vụ sư phạm nhấn mạnh đến khả năng hoạt động độc lập, sáng tạo

trong thực tiễn giáo dục phong phú, sinh động.



18



Trong quá trình đào tạo ở các trường sư phạm thì nghiệp vụ sư phạm

chiếm vị trí trung tâm. Bên cạnh việc cung cấp hệ thống tri thức khoa học cơ

bản, khoa học sư phạm và khoa học chuyên ngành, việc hình thành hệ thống kỹ

năng nghề nghiệp để thực hiện nhiệm vụ sư phạm của giáo viên là vô cùng quan

trọng. Việc hình thành hệ thống kỹ năng nghề nghiệp đó được thực hiện chủ yếu

thông qua các bộ môn nghiệp vụ sư phạm, bao gồm nghiệp vụ sư phạm thường

xuyên, kiến tập sư phạm và thực tập sư phạm.

Thực tập sư phạm là một hình thức thực hành nghề nghiệp trong quá

trình đào tạo giáo viên. Đó là quá trình mà người sinh viên tập vận dụng những

tri thức nghề nghiệp để rèn luyện những kỹ năng sư phạm. Nói cách khác, đó là

quá trình vận dụng những kiến thức tổng hợp về khoa học sư phạm và khoa học

chuyên ngành để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục trong một môi

trường thực nhằm hình thành những năng lực sư phạm và phẩm chất nhân cách

của người giáo viên trong tương lai.

Theo tác giả Nguyễn Đình Chỉnh, “thực tập sư phạm là một giai đoạn

quan trọng nhằm kiểm tra sự chuẩn bị về mặt lý luận và thực hành của sinh viên

đối với việc độc lập công tác của họ, và hình thành những khả năng rộng lớn

trong việc sáng tạo giải quyết những công việc của cá nhân người giáo viên

tương lai”.

Trong “Hỏi đáp về thực tập sư phạm” (1993), các tác giả đã khẳng

định: “thực tập sư phạm là dịp thực hành có tính chất tổng hợp các kiến thức

nghiệp vụ nhằm thực hiện những chức năng sư phạm của một nhà giáo”. Đồng

thời, các tác giả cũng nhấn mạnh vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng vủa thực tập

sư phạm: “ thực tập sư phạm là một bộ phận hợp thành trọng yếu của quá trình

đào tạo thầy giáo, là dịp thể hiện tập trung kết quả học tập và rèn luyện dưới mái

trường sư phạm”.

Thông qua thực tập sư phạm, người sinh viên có dịp thể nghiệm vốn

kiến thức đã học và tự khẳng định mình trong những tình huống, nhiệm vụ

phong phú và sinh động của thực tiễn giáo dục. Sinh viên có điều kiện củng cố,

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THỰCTẬP SƯ PHẠM

Tải bản đầy đủ ngay(120 tr)

×