Tải bản đầy đủ - 88 (trang)
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 88trang

5



cân đối, khỏe mạnh, nhanh nhẹn, biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông

bà, cha mẹ, thầy cô giáo và người trên, yêu quý anh, chị, em, bạn bè, thật thà,

mạnh dạn, hồn nhiên, yêu thích cái đẹp, ham hiểu biết, thích đi học.

Phương pháp GDMN chủ yếu là thông qua việc tổ chức các hoạt động

vui chơi để giúp trẻ em phát triển toàn diện, chú trọng việc nêu gương, động

viên, khích lệ.

1.1.4. Chương trình Giáo dục Mầm non

Chương trình GDMN thể hiện mục tiêu GDMN, cụ thể hóa các yêu cầu

về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở từng độ tuổi, quy định việc tổ

chức các hoạt động nhằm tạo điều kiện để trẻ em phát triển về thể chất, tình

cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hướng dẫn đánh giá sự phát triển của trẻ em ở lứa tuổi

mầm non.

1.1.5. Cơ sở Giáo dục Mầm non

Cơ sở GDMN bao gồm:

- Nhà trẻ, nhóm trẻ nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến ba tuổi.

- Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ từ ba tuổi đến sáu tuổi.

- Trường Mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và Mẫu giáo, nhận

trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi.

1.2. Đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của Giáo viên Mầm non

1.2.1. Khái niệm về nghề nghiệp

Nghề nghiệp theo tiếng Latinh “Professio” có nghĩa là công việc

chuyên môn được hình thành một cách chính thống, là dạng lao động đòi hỏi

một trình độ học vấn nào đó, là cơ sở hoạt động cơ bản giúp con người tồn tại.

Theo tác giả E.A.Klimov thì: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng

sức lao động vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần

thiết cho xã hội (do sự phân công lao động mà có) nó tạo cho con người khả



6



năng sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho

việc tồn tại và phát triển” [5].

Theo từ điển Tiếng việt, khái niệm nghề nghiệp là: “Công việc chuyên

làm theo sự phân công lao động của xã hội” [9].

Từ một số khái niệm trên, có thể hiểu nghề nghiệp như một dạng lao

động vừa mang tính xã hội (Sự phân công xã hội), vừa mang tính cá nhân

(nhu cầu bản thân) trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi

hỏi để thỏa mãn những nhu cầu nhất định của xã hội và cá nhân. Và bất cứ

nghề nghiệp nào cũng hàm chứa trong đó một hệ thống giá trị: Tri thức nghề,

kỹ xảo nghề, truyền thống nghề, hiệu quả do nghề mang lại. Những giá trị này

có thể hình thành theo con đường tự phát (tức là do tích lũy kinh nghiệm

trong quá trình sống với cộng đồng mà có), hoặc theo con đường tự giác (do

được đào tạo trong các cơ sở trường, lớp dài hạn hay ngắn hạn).

Như vậy: Nghề nghiệp là một dạng lao động đòi hỏi ở con người một

quá trình đào tạo chuyên biệt, có kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nhất

định. Nhờ quá trình hoạt động nghề nghiệp, con người có thể tạo ra sản phẩm

thỏa mãn những nhu cầu của cá nhân và xã hội.

1.2.2. Khái quát về nghề sư phạm

Ngay từ buổi bình minh của xã hội loài người, khi con người chỉ săn

bắn và hái lượm, loài người đã có nhu cầu chuyền đạt và lĩnh hội kinh

nghiệm. Nhờ đó mà kinh nghiệm của con người được giữ gìn và cũng nhờ đó

mà xã hội loài người tồn tại và phát triển. Hoạt động truyền đạt và lĩnh hội đó

được gọi là hoạt động dạy học. Cùng với sự phát triển của xã hội, hoạt động

dạy học được thực hiện bởi người nhà giáo, dạy học được coi là một nghề

trong xã hội và ta gọi đó là nghề dạy học hay nghề sư phạm. Nghề sư phạm là

nghề đào tạo ra những con người phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của



7



đất nước, nghề không đơn giản chỉ là dạy chữ mà còn là nghề “trồng” người,

giáo dục, xây dựng nên tâm hồn, nhân cách con người.

Trong bất cứ thời đại nào, xã hội nào thì nghề sư phạm đều cần thiết và

quan trọng. Vì giáo dục là nền tảng văn hóa của một nước, là sức mạnh tương

lai của một dân tộc. Người nhà giáo có vai trò to lớn trong quá trình giáo dục

thế hệ trẻ, là người quyết định chất lượng đào tạo và là “cái cầu nối” giữa nền

văn hóa nhân loại và dân tộc, là mắt xích trong sợi dây chuyền nối liền các thế

hệ, các thời đại, là người trao “tín vật” của hiện tại cho tương lai. Chính điều

đó làm cho hoạt động của người nhà giáo trở nên thiêng liêng và giàu

sáng tạo.

Xã hội càng phát triển, càng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với người lao

động. Do vậy vai trò và nhiệm vụ của công việc đào tạo thế hệ trẻ, chuẩn bị

cho thế hệ trẻ bước vào cuộc sống, hòa nhịp với xã hội ngày càng trở nên

nặng nề hơn. Trong thời đại ngày nay, chức năng của người nhà giáo rất toàn

diện, nhà giáo không chỉ là người truyền thụ tri thức khoa học hiện đại mà

còn là người tổ chức, điều khiển hoạt động học tập của học sinh.

Như vậy: Nghề sư phạm là một lĩnh vực hoạt động của người nhà giáo

theo sự phân công của xã hội, trong đó người thầy sử dụng các năng lực thể

chất tinh thần và toàn bộ nhân cách của mình để dạy, giáo dục, đào tạo thế hệ

trẻ trở thành những con người hữu ích cho xã hội.

Lao động của người nhà giáo không giống như lao động của các ngành

nghề khác. Lao động của người nhà giáo không trực tiếp tạo tạo ra của cải vật

chất, nhưng lao động của người nhà giáo cao quý và giá trị ở chỗ nó sáng tạo,

phát triển nhân cách và trí tuệ con người - sản phẩm cao quý nhất của xã hội,

Đó là nét đặc thù riêng, độc đáo của LĐSP mà không nghề nào

có được.



8



Như bất kì loại lao động nào, LĐSP là một hoạt động có mục đích.

LĐSP nhằm giáo dục thế hệ trẻ, hình thành ở họ những phẩm chất và năng

lực của xã hội yêu cầu. LĐSP là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và

người học, là quá trình truyền thụ kinh nghiệm và tri thức của thế hệ trước

cho thế hệ sau.

1.2.3. Đặc điểm hoạt động của nghề Giáo viên mầm non

1.2.3.1.Vị trí của người giáo viên trong xã hội hiện đại

Người GV có một vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp giáo dục

của Đảng, Nhà nước, nhà giáo là cầu nối liền giữa nền văn hóa dân tộc và

nhân loại với sự tái sản xuất nền văn hóa ấy trong chính đứa trẻ. Hoạt động

của người GVMN gồm có: Hoạt động dạy, hoạt động giáo dục, hoạt động tự

hoàn thiện chuyên môn nghiệp vụ và hoạt động xã hội.

Thời đại ngày nay người GV không chỉ có chức năng truyền đạt tri thức

cho học sinh mà còn có chức năng tác động tích cực đến sư hình thành nhân

cách của học sinh. Người GV phải có tính tích cực công dân, có ý thức trách

nhiệm xã hội hăng hái tham gia phát triển cộng đồng, GV phải có lòng yêu trẻ

hợp tác với trẻ. Nhà trường hiện đại phải tô đậm tính nhân văn của mình,

trong đó hoạt động của người GV phải chú ý đến mục tiêu nhân văn. Một giờ

lên lớp không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ tri thức khoa học, hình thành các

kỹ năng cụ thể mà phải hướng vào tạo dựng, phát triển nhân cách của học

sinh. Vì vậy quá trình dạy học và giáo dục, nhà giáo có nhiệm vụ đào tạo, vun

trồng từng học sinh, làm nảy nở hết bản sắc của mỗi học sinh để chúng trở

thành con người có đặc trưng cá nhân.

1.2.3.2.Đặc thù lao động của Giáo viên Mầm non

Đối tượng lao động trực tiếp của người GVMN là trẻ từ 0,3 - 6 tuổi.

Các em có quy luật tâm sinh lí riêng, là lứa tuổi ẩn những khả năng phát triển

rất lớn. Do đó, nhà giáo phải có tình thương yêu, lòng tin và sư tôn trọng đối



9



với trẻ em, đối sử công bằng, dân chủ và tế nhị trong cách cư sử, mềm dẻo

nhưng cương quyết.

Lao động của GVMN tạo ra sản phẩm đặc biệt, đó là trang bị cho trẻ

em kỹ năng sống, kỹ năng vận động, khả năng tư duy và nhân cách trước tuổi

ngồi trên ghế nhà trường phổ thông.

Suy nghĩ cho thấy con người chỉ sinh ra con người, còn giáo dục mới

sản sinh ra nhân cách. Nói cách khác, lao động của nhà giáo là lao động sản

xuất ra nhân cách, sản xuất ra giá trị nhân loại. Sản phẩm lao động của nhà

giáo gắn liền với tương lai dân tộc, loài người. Lao động của nhà giáo là tạo

sức lao động mới trong từng con người. Nghề dạy học là nghề tái sản xuất mở

rộng sức lao động.

Khác với GV các bậc học khác, GVMN là được đào tạo để giảng dạy

toàn diện các môn học thuộc cấp học, nên họ có tác động cực kỳ to lớn đến

tâm hồn, nhân cách và trí tuệ của trẻ. Họ vừa là người dạy chữ, dạy kiến thức,

dạy những kỹ năng cơ bản của cuộc sống, vừa là người quản lý giáo dục,

người tổ chức quá trình dạy học, người chịu trách nhiệm toàn diện và triệt để

đối với sự tiến bộ của trẻ.

1.2.3.3.Yêu cầu chuẩn về nghề nghiệp giáo viên mầm non

“Không còn nghi ngờ gì, chất lượng giáo dục phụ thuộc rất lớn vào

không khí chung của nhà trường, nhưng điều quan trọng hơn cả vẫn là ở nhân

cách người giáo viên, con người thường xuyên tiếp xúc với trẻ. Ảnh hưởng

nhân cách của người giáo viên lên tâm hồn trẻ tạo nên một sức mạnh giáo dục

to lớn mà sách giáo khoa, các lời thuyết giáo đạo đức, khen thưởng và trách

phạt không thể thay thế được”.(K.D.Usinxki)[2].

Do đó, người GVMN cần có yêu cầu chuẩn về nghề nghiệp như sau:

Yêu cầu thuộc lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chấp

hành các quy định của pháp luật, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà



10



nước, là người có đạo đức tốt, lối sống lành mạnh và giản dị, yêu nghề, mến

trẻ, thân thiện với đồng nghiệp chăm sóc giáo dục trẻ bằng tình thương, sự

công bằng và trách nhiệm,

Tích cực học tập, nghiên cứu, tiếp cận nhu cầu xã hội để phát triển,

đóng góp cho ngành nghề trong công tác xã hội hóa GDMN. Các yêu cầu

thuộc lĩnh vực kiến thức: hiểu biết về đặc điểm tâm lý, sinh lý trẻ lứa tuổi

mầm non, nắm vững chương trình GDMN hiện hành của Bộ GD&ĐT; hội tụ

đầy đủ kiến thức và kỹ năng về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, phát triển thể

chất cho trẻ. Có kiến thức xã hội sâu rộng, định hướng phát triển đối với trẻ;

có phương pháp tổ chức hoạt động chơi cho trẻ, tạo nhiều tình huống, khơi

dậy sự hứng thú, tính tò mò thúc đẩy sự phát triển của trẻ lứa tuổi mầm non.

Các yêu cầu thuộc lĩnh vực kỹ năng sư phạm: “biết lập kế hoạch theo

dõi, chăm sóc, giáo dục trẻ theo tuần, theo tháng, theo năm. Tổ chức các hoạt

động chăm sóc, giáo dục trẻ theo hướng tích hợp, phát huy tính tích cực, sáng

tạo của trẻ; dạy trẻ một số kỹ năng tự phục vụ, chăm sóc cho bản thân; biết

quan sát, đánh giá trẻ và có phương pháp chăm sóc, giáo dục trẻ phù hợp;

giao tiếp, ứng xử nhẹ nhàng với đồng nghiệp, gia đình trẻ và những người

xung quanh.

1.3. Giáo dục Thể chất trong hoạt động đào tạo của bậc học Mầm non

1.3.1. Cơ sở khoa học của lý luận Giáo dục Thể chất cho trẻ em

1.3.1.1.Cơ sở khoa học xã hội

* Cơ sở triết học

Trong đời sống thực tế xã hội, không có GDTC chung chung tồn tại

ngoài điều kiện lịch sử cụ thể. Trong mỗi chế độ kinh tế xã hội nhất định đều

có từng loại GDTC cụ thể.

Các nhà lý luận giáo dục duy tâm cho rằng, GDTC là bản tính hay nhu

cầu bản năng của con người giống như các sinh vật khác, GDTC mang tính



11



chất bẩm sinh của con người cũng tương tự như: “Sự giáo dục”- bắt chước

của loài vật như đi, chạy, nhảy… Với lập luận này, trên thực tế họ đã phủ

nhận vai trò của lao động và tư duy - một hiện tượng mới về chất đã làm cho

con người khác biệt với các loài vật. Theo họ, thực tiễn của hình thức giáo

dục này nhằm thỏa mãn những yêu cầu bản năng nào đó và hầu như không có

liên quan đến yêu cầu xã hội. Họ đã phủ nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa xã

hội và giáo dục và cả nội dung của giáo dục.

Các nhà duy vật lý luận cho rằng, GDTC là một hiện tượng xã hội, là

phương tiện phục vụ xã hội, chủ yếu nhằm nâng cao thể chất, đồng thời tác

động mạnh mẽ đến sự phát triển tinh thần của con người. Họ khẳng định rằng,

chỉ khi nào con người tự giác tập luyện các bài tập thể dục, nhằm phát triển cơ

thể của bản thân để chuẩn bị cho những hoạt động nhất định, thì lúc đó mới

có GDTC thực sự.

Các tư tưởng tiến bộ về giáo dục toàn diện con người cho rằng con

người phải được phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, đã xuất hiện trong

kho tàng văn hóa chung của xã hội loài người từ nhiều thế kỷ trước đây.

Từ nhà triết học cổ Hi Lạp Aristốt (384-322 T.CN), những người theo

chủ nghĩa nhân đạo thời Phục Hưng như: Moongtenghơ (1533-1592), những

người theo chủ nghĩa không tưởng như Saint-Simon (1760-1825), Robert

Owen (1771-1858), đến các nhà bác học và giáo dục nổi tiếng của Nga như

M.V.Lômôxốp (1771-1765), V.G.Belinxki (1811-1848), K.Đ.Usinxki (18241870), N.G.Strecnưsepxki (1828-1889), P.Ph.Lexgap(1837-1909) và nhiều

người khác nữa, đã phát triển, bảo vệ tư tưởng của học thuyết về sự phát triển

hài hòa giữa năng lực thể chất và tinh thần của con người.

Tuy nhiên, do tính chất của quan hệ xã hội và lịch sử trong các chế độ

ấy, thực tế đã không vượt ra khỏi giới hạn của những ước mơ tuy cao đẹp

nhưng không có điều kiện khách quan để biến thành hiện thực.



12



Trên cơ sở nghiên cứu một cách sâu sắc các quy luật khách quan của sự

phát triển xã hội, Các Mác và Ăngghen đã chứng minh sự phụ thuộc của giáo

dục vào điều kiện vật chất, khám phá xã hội và giai cấp của giáo dục. Các

Mác nhấn mạnh: “Giáo dục trong tương lai sẽ kết hợp lao động sản xuất với

trí dục và thể dục, đó không những là biện pháp để tăng thêm sức sản xuất của

xã hội, mà còn là biện pháp duy nhất để đào tạo con người phát triển toàn

diện” [13].

Các Mác đã phát hiện ra sự tái sản xuất trong mỗi con người để xã hội

phát triển. Ông coi GDTC là một bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục, là

điều kiện tất yếu đối với việc phát triển con người một cách toàn diện. GDTC

là phương tiện quan trọng để phát triển thể lực con người và nó phải được bắt

đầu từ lứa tuổi nhỏ. GDTC cho trẻ mầm non là cơ sở phát triển toàn diện, rèn

luyện cơ thể, hình thành những thói quen vận động cần thiết cho cuộc sống.

Như vậy, luận điểm về tính tất yếu của sự thống nhất giữa thể chất và

tinh thần, luận điểm về sự phát triển toàn diện giữa các mặt giáo dục đức, trí,

thể, mỹ và lao động trong học thuyết của Mác và sau này người kế tục là

V.I.Lênin đã trang bị cho lí luận GDTC phương pháp nhận thức và cho phép

nghiên cứu sâu sắc những quy luật sư phạm trong quá trình GDTC cho con

người nói chung cũng như cho trẻ mầm non nói riêng.

*Cơ sở tâm lí học

Căn cứ vào kiến thức về tâm lí học trẻ em như: lý thuyết hoạt động, các

đặc điểm tâm lí lứa tuổi, các trạng thái tâm lí lứa tuổi, các trạng thái tâm lí và

các thuộc tính tâm lí của trẻ em, các nhà giáo dục thiết kế hệ thống phương

pháp GDTC phù hợp với trẻ em.

*Cơ sở giáo dục học

GDMN cung cấp những kiến thức về mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục trẻ

em, những quan điểm cơ bản, các nguyên tắc xây dựng chương trình chăm



13



sóc và giáo dục, các phương pháp, hình thức tổ chức chăm sóc giáo dục trẻ,

trong đó có GDTC là một bộ phận của giáo dục phát triển toàn diện.

1.3.1.2. Cơ sở khoa học tự nhiên

Cơ sở khoa học tư nhiên của lý luận GDTC là toàn bộ các chuyên môn

khoa học mà nhiệm vụ của chúng là nghiên cứu những quá trình phát triển

sinh học của con người. Những kiến thức về đặc điểm giải phẫu, sinh lí, vệ

sinh trẻ em giúp cho việc bảo vệ sức khỏe trẻ, việc tổ chức sinh hoạt hợp lí và

hoạt động vận động của các em. Những kiến thức khoa học này được xây

dựng trên cơ sở học thuyết của các nhà sinh học vĩ đại như: I.M.Xêtrênnôp

(1829-1905), I.P.Paplôp (1849-1936) và những người kế tục.

Các học thuyết đó bao gồm: Học thuyết về sự thống nhất giữa cơ thể và

môi trường, học thuyết về mối liên hệ tạm thời của các phản xạ có điều kiện

và sự hình thành định hình động lực, học thuyết về hệ thần kinh cao cấp.

1.3.2. Nhiệm vụ và nguyên tắc giáo dục Thể chất cho trẻ em lứa tuổi

mầm non

1.3.2.1. Nhiệm vụ Giáo dục Thể chất cho trẻ em lứa tuổi Mầm non

*Nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe

Nhiệm vụ quan trọng của GDTC là bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho

trẻ nhằm đảm bảo sự phát triển thể lực toàn diện.

Nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe gồm: Chăm sóc, nuôi dưỡng và rèn luyện

một cách khoa học, chăm sóc trẻ khi ăn, ngủ, nghỉ, chơi và học, đảm bảo việc

thực hiện chế độ sinh hoạt đúng giờ giấc cho trẻ, cho trẻ ăn đủ chất, đủ lượng,

rèn luyện cơ thể trẻ bằng các hình thức tiết học Thể dục, trò chơi vận động,

dạo chơi…

Như vậy, nhiệm vụ rèn luyện cơ thể trẻ được triển khai thông qua việc:

Rèn luyện, nâng cao sức đề kháng của cơ thể trước tác động của những điều



14



kiện môi trường xung quanh. Củng cố cơ quan vận động, hình thành tư thế

thân người hợp lý, góp phần nâng cao chức năng của hệ thần kinh thực vật.

*Nhiệm vụ giáo dưỡng

Hình thành và rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo vận động phát triển các

tố chất thể lực, thói quen vệ sinh cho trẻ, trang bị cho trẻ một số kiến thức sơ

đẳng về GDTC.

Tập luyện đúng đắn các động tác của bài tập vận động sẽ ảnh hưởng

tích cực tới sự phát triển cơ bắp, dây chằng, khớp và hệ xương.

Việc sử dụng thành thạo các kỹ năng vận động cho phép trẻ suy nghĩ về

nhiệm vụ xuất hiện trong những tình huống bất ngờ khi tham gia hoạt động

vận động và trò chơi. Cùng với việc hình thành kỹ năng vận động cho trẻ, cần

phát triển các tố chất thể lực cho trẻ: Sự nhanh nhẹn, khéo léo, sự mạnh mẽ,

bền bỉ …

Rèn luyện những thói quen vệ sinh cá nhân và vệ sinh công cộng có ý

nghĩa quan trọng đối với sức khỏe của trẻ. Cần giáo dục cho trẻ thói quen tuân

thủ chế độ sinh hoạt hàng ngày.

Tùy từng độ tuổi của trẻ, ta cần truyền đạt một số hiểu biết có liên quan

đến GDTC. Những kiến thức lĩnh hội được giúp trẻ có ý thức tự giác trong

luyện tập và biết sử dụng các phương tiện GDTC ở trường, ở gia đình tốt hơn.

Thông qua các tiết học Thể dục, cần dạy trẻ những kiến thức về tên gọi

và cách sử dụng những dụng cụ thể dục đơn giản như: bóng, vòng, gậy…

*Nhiệm vụ giáo dục

- GDTC với giáo dục đạo đức: Trong các giờ học Thể dục, trò chơi vận

động hoặc thể dục sáng, GV nên nhận xét, đánh giá hành vi đạo đức của trẻ,

tạo cho trẻ những hiểu biết nhất định về đạo đức. Ngoài ra có thể giáo dục trẻ

những phẩm chất ý chí như lòng dũng cảm, tính kiên trì, biết kiềm chế, tính

kiên quyết, tính tổ chức kỷ luật.



15



- GDTC với giáo dục trí tuệ: Trong quá trình tập luyện, GV sử dụng hệ

thống phương pháp dạy học khác nhau tác động đến quá trình nhận thức của

trẻ, yêu cầu trẻ phải tư duy tích cực để ghi nhớ và nhớ lại cách thức thực hiện

bài tập. Đối với trẻ mầm non, điều quan trọng là phải giáo dục trẻ những cảm

xúc tích cực, đảm bảo sự sảng khoái, trạng thái vui tươi, phát triển khả năng

vượt qua những trạng thái tâm lí tiêu cực.

- GDTC với giáo dục thẩm mỹ: Trong quá trình dạy bài tập cho trẻ, GV

phải làm mẫu. Các động tác mẫu phải đẹp, chính xác giúp trẻ nhận thức đúng

đắn về cái đẹp. Chính các bài tập TDTT cũng chứa đựng nhiều yếu tố nghệ

thuật như tập với dụng cụ, tập theo nhạc, Thể dục đồng diễn… Điều này hình

thành cho trẻ có được nhận thức về cái đẹp, tạo khả năng cảm thụ âm nhạc,

nhịp điệu…

- GDTC với giáo dục lao động: Quá trình GDTC cũng chính là quá

trình giải quyết một số nhiệm vụ lao động. Trong các giờ luyện tập thể dục,

trẻ có thể tham gia chuẩn bị và thu dọn dụng cụ thể dục. Thông qua các trò

chơi vận động có chủ đề trẻ sẽ hiểu được tính chất của các nghề nghiệp và các

thao tác lao động của người lớn.

Như vậy, quá trình GDTC cho trẻ mầm non cần đảm bảo kết hợp chặt

chẽ với tất cả các mặt giáo dục toàn diện.

1.3.2.2. Các nguyên tắc Giáo dục Thể chất cho trẻ em lứa tuổi mầm non

* Nguyên tắc hệ thống

Nguyên tắc hệ thống là nguyên tắc đầu tiên được vận dụng trong việc

thực hiện mục tiêu giáo dục và giảng dạy các bài tập thể chất. Bản chất

nguyên tắc hệ thống được thể hiện:

- Tính thường xuyên, lặp lại, biến đổi các buổi tập với sự luân phiên

hợp lí giữa vận động và nghỉ ngơi.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(88 tr)

×