Tải bản đầy đủ - 93 (trang)
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ - 93trang

liv



* Thời kỳ bắt đầu ra hoa

Công thức VI có chiều cao cây sai khác với các công thức còn lại. Ở

mức bón 40 - 50 kg đạm/ha và 90 kg lân/ha chiều cao cây đạt cao nhất (18,0 18,7 cm). Trong đó công thức VI (N50P90) đạt cao nhất.

* Thời kỳ ra hoa rộ

Thời kỳ này, ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến chiều cao cây

không thực sự rõ nét. Cùng mức bón lân 60 kg P2O5/ha, khi tăng lượng đạm từ

30 lên 50 kg N/ha, chiều cao thân chính tăng lên đáng kể và sai khác có ý

nghĩa. Ở mức bón 90 kg P2O5/ha, chiều cao thân chính tăng lên có ý nghĩa khi

tăng lượng đạm từ 30 kg N/ha lên 40 và 50 kg N/ha. Ngược lại, ở cùng một

mức bón đạm, khi tăng lượng lân từ 60 lên 90 kg P 2O5/ha chiều cao thân

chính tăng lên không đáng kể

Trong các công thức thí nghiệm, công thức IV và VI có chiều cao cây

cao nhất (24,0 - 24,6 cm). Với mức bón 40 - 50 kg đạm/ha và 90 kg lân/ha

chiều cao cây thời kỳ ra hoa rộ đạt cao nhất.

* Thời kỳ thu hoạch

Đây là thời kỳ chiều cao cây ổn định, do đó người ta gọi đây là chiều

cao cây cuối cùng. Chiều cao cây cuối cùng là một trong những chỉ tiêu biểu

hiện khả năng tăng trưởng của lạc. Tính trạng chiều cao cây do gen trội qui

định. Sự tăng trưởng chiều cao cây nhanh, mạnh là cơ sở tạo năng suất cao về

sau, ngược lại nếu cây tăng trưởng yếu, chậm sẽ cho năng suất thấp.

Khi tăng liều lượng bón đạm từ 30 kg/ha lên 40 - 50 kg/ha, đồng thời

tăng liều lượng bón lân từ 60 kg/ha lên 90 kg/ha giúp cây sinh trưởng tốt hơn

và chiều cao cây đạt cao nhất. Theo chúng tôi, có lẽ do ở giai đoạn trước thu

hoạch, các nốt sần đã dần bị thoái hóa, khả năng cố định đạm giảm mạnh do

vậy khả năng cung cấp đạm cho cây lạc cũng giảm. Vì vậy, chỉ ở công thức



lv



nào được bổ sung lượng đạm cao từ phân bón thì ở đó mới có khả năng duy

trì lượng đạm giúp cho cây tăng trưởng.

Như vậy có thể thấy:

- Phản ứng của cây lạc đối với liều lượng đạm, lân bón khác nhau

thông qua chỉ tiêu chiều cao cây rất khác nhau ở các kỳ theo dõi.

- Thời kỳ bắt đầu ra hoa cây cần 70% tổng lượng đạm vì vậy khi tăng

lượng đạm bón chiều cao cây tăng rõ, còn ở các thời kỳ sau nhờ quá trình

tổng hợp đạm từ nốt sần nên yếu tố lân có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn.

Để giải thích điều này, theo chúng tôi do lân trong đất trồng lạc cũng

như lượng lân được bổ sung từ các loại phân bón có vai trò rất lớn trong việc

tổng hợp đạm thông qua ảnh hưởng đến hoạt tính nốt sần.



Đồ thị 3.1. Ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân đến chiều cao cây giống lạc L14

vụ Xuân 2012

3.2. Ảnh hưởng của liều lượng đạm , lân đến số lá trên thân chính

Lá lạc có vai trò quan trọng cho đời sống cây lạc, khoảng 80 – 90%

chất khô được tạo thành thông qua quá trình quang hợp. Lá ngoài chức năng



lvi



quang hợp, chức năng thoát hơi nước còn có tác dụng trong việc che phủ đất,

giảm xói mòn và lấn át cỏ dại. Sự phát triển của lá ảnh hưởng rất lớn đến hiệu

suất quang hợp và khả năng tích lũy chất khô, do đó ảnh hưởng đến năng suất

sau này của lạc. Tốc độ ra lá của cây nhanh hay chậm là biểu hiện cho khả

năng sinh trưởng của cây mạnh hay yếu. Số lá trên thân chính phụ thuộc vào

đặc điểm của giống, ngoài ra nó còn phụ thuộc chế độ chăm sóc, trình độ canh

tác, thời vụ và mật độ. Do đó, việc xác định bón thiếu hụt các nguyên tố đa

lượng nhằm sử dụng phân bón cân đối và hợp lý để bộ lá phát triển cân đối là

rất quan trọng. Kết quả thí nghiệm được thể hiện ở bảng 3.2.

Bảng 3.2. Ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân đến số lá trên thân chính

Đơn vị tính: lá

Công thức



Liều lượng



thí nghiệm



Thời kỳ

Bắt đầu

ra hoa



Ra hoa rộ



Thu hoạch



I



N30P60



21,6 b



30,1 c



18,0 b



II



N30P90



21,7 b



30,2 c



18,6 ab



III



N40P60



22,9 ab



30,8 bc



18,7 ab



IV



N40P90



24,0 a



32,6 ab



20,2 ab



V



N50P60



23,7 a



32,0 b



19,8 ab



VI



N50P90



24,6 a



34,3 a



20,9 a



1,92

4,6



1,80

3,1



2,69

7,6



LSD 0,05

CV%



Ghi chú: Các giá trị trong cột có cùng chữ cái không sai khác ở mức ý nghĩa 0,05



Kết quả xử lý thống kê cho thấy:



lvii



* Thời kỳ bắt đầu ra hoa:

Ở cùng một mức bón đạm, số lá trên thân chính không tăng lên khi tăng

lượng lân từ 60 lên 90 kg P2O5/ha. Cùng một mức bón lân 60 kg P 2O5/ha, số lá

trên thân chính không tăng lên khi tăng lượng đạm từ 30 kg N/ha lên 40 và 50

kg N/ha. Tuy nhiên khi tăng lượng lân bón lên 90 kg P 2O5/ha, số lá trên thân

chính tăng lên có ý nghĩa khi tăng lượng đạm từ 30 kg N/ha lên 40 và 50 kg

N/ha.

Như vậy: vai trò của lân đến việc tăng số lá/thân chính chỉ thể hiện khi

lượng đạm bón cao và lượng lân bón 90 kg P2O5/ha.

* Thời kỳ ra hoa rộ:

Cùng một mức bón đạm như nhau (30 và 40 kg N/ha), khi tăng lượng

lân từ 60 lên 90 kg N/ha đều không làm số lá/thân chính tăng lên có ý nghĩa.

Tuy nhiên khi tăng lượng đạm lên 50 kg N/ha, số lá/thân chính tăng lên một

cách có ý nghĩa về mặt thống kê khi tăng lượng lân từ 60 lên 90 kg P2O5/ha.

Cùng mức bón lân 60 kg/ha, nếu tăng lượng đạm từ 30 - 40 kg/ha chiều

cao cây số lá/thân chính không tăng. Tuy nhiên khi tăng lượng đạm lên 50 kg

N/ha, số lá/thân chính tăng lên có ý nghĩa. Ở mức bón lân 90 kg P 2O5/ha, khi

tăng lượng đạm từ 30 lên 40 và 50 kg N/ha số lá/thân chính đều tăng lên một

cách có ý nghĩa về mặt thống kê.

* Thời kỳ thu hoạch

Số lá còn lại trên thân chính khi thu hoạch là chỉ tiêu phản ánh khả

năng quang hợp, tích lũy chất khô thời kỳ sau ra hoa. Vì vậy nó liên quan đến

các yếu tố cấu thành năng suất, đặc biệt là số quả chắc và KL 100 quả. Số lá

xanh còn lại trên thân chính quá nhiều hay quá ít đều không tốt. Nếu số lá

trên thân chính quá ít sẽ dẫn đến giảm việc tích lũy chất hữu cơ của cây và

sẽ tăng giảm tỷ lệ hạt lép nhiều nên năng suất sẽ giảm xuống. Ngược lại, nếu

lá trên thân chính thời kỳ thu hoạch quá cao. Điều đó cũng cho thấy một

phần dinh dưỡng tập trung nuôi bộ lá của cây và dẫn đến hạn chế việc tập



lviii



trung dinh dưỡng nuôi quả và hạt, điều đó làm giảm năng suất. Mặt khác, lạc

là cây ra hoa vô hạn nên cây tiếp tục ra hoa làm tiêu hao chất dinh dưỡng

một cách vô ích, ảnh hưởng lớn đến năng suất, cho quả nhỏ và tỷ lệ lép cao.

Từ bảng số liệu cho thấy: Phản ứng của cây lạc thông qua chỉ tiêu số

lá/thân chính đối với liều lượng đạm, lân không thật sự rõ nét. Trong các

công thức thí nghiệm, chỉ có công thức VI (N 50P90) có số lá/thân chính đạt

cao nhất và sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê với công thức I (N 30P60).

Từ các số liệu ở bảng chúng tôi có thể đưa ra nhận xét chung như sau:

- Phản ứng của cây lạc đối với việc tăng liều lượng đạm, lân bón thông

qua chỉ tiêu số lá trên thân chính ở các kỳ theo dõi khác nhau là khác nhau.

- Ở ba giai đoạn số lá/thân chính đạt cao nhất ở công thức bón mức đạm

và lân cao nhất (50 kg N/ha và 90 kg P2O5/ha) ở công thức VI.

- Ảnh hưởng của tương tác đạm, lân đến sự hình thành số lá trên thân

chính là khá rõ, đặc biệt khi tăng lượng đạm và lân bón tương ứng ở mức 40 50 kg N/ha; 90 kg P2O5/ha. Giai đoạn thu hoạch, ảnh hưởng của đạm, lân đến

số lá trên thân chính không rõ nét.



Đồ thị 3.2. Ảnh hưởng cuả liều lượng đạm, lân đến số lá trên thân chính giống lạc L14

vụ Xuân 2012



lix



3.3. Ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân đến đặc tính ra hoa của giống lạc L14

Sự ra hoa của lạc là một đặc điểm sinh lý và là chỉ tiêu có liên quan đến

năng suất của cây lạc. Ở thời kỳ này cây đồng thời diễn ra hai quá trình hoạt

động sinh lý: Quá trình sinh trưởng dinh dưỡng có tốc độ sinh trưởng của

thân, cành, lá tăng dần (sự tích lũy chất khô cao, diện tích lá lớn). Quá trình

sinh trưởng sinh thực cũng trên cơ sở đó mà tăng nhanh. Mối quan hệ giữa

sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực thường thống nhất với nhau

nhưng đôi khi cũng xảy ra sự cạnh tranh thiếu thống nhất. Nếu sinh trưởng

dinh dưỡng quá mạnh, cây vống sẽ làm cho sự hình thành hoa chậm, kéo dài

thời gian chín của quả lạc

Đặc tính ra hoa của lạc được đặc trưng bởi thời gian ra hoa, tổng số

hoa/cây, tỷ lệ hoa hữu hiệu. Qua theo dõi đặc tính ra hoa chúng tôi thu được

kết quả ở bảng sau:

Bảng 3.3. Ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân bón đến sự ra hoa của giống lạc L14

Công thức

thí nghiệm



Liều lượng



Tổng số hoa

(hoa/cây)



Tỷ lệ hoa



Thời gian



hữu hiệu



ra hoa



(%)



(ngày)



I



N30P60



71,3 c



17,10 c



23



II



N30P90



72,3 bc



17,15 c



24



III



N40P60



72,3 bc



18,16 b



24



IV



N40P90



74,0 a



18,91 a



24



V



N50P60



73,3 ab



18,02 b



24



VI



N50P90



74,7 a



18,87 a



27



LSD 0,05



1,57



0,68



-



CV%



1,2



6,5



-



Ghi chú: Các giá trị trong cột có cùng chữ cái không sai khác ở mức ý nghĩa 0,05



lx



* Tổng thời gian ra hoa

Đây là chỉ tiêu đánh giá tập tính ra hoa của lạc. Nhìn chung, không có

sự khác biệt đáng kể về thời gian ra hoa của lạc giữa các công thức thí nghiệm

(trừ công thức VI). Công thức có số ngày ra hoa thấp nhất là 23 ngày, công

thức VI có thời gian ra hoa dài nhất 27 ngày.

* Tổng số hoa trên cây

Cùng mức bón đạm, nếu tăng liều lượng bón lân từ 60 - 90 kg/ha tổng

số hoa trên cây tăng lên không đáng kể. Cùng một mức bón lân 60 kg

P2O5/ha, khi tăng lượng đạm từ 30 lên 40 kg N/ha không làm tổng số hoa

trên cây tăng lên đáng kể. Tuy nhiên khi tăng lượng đạm lên 50 kg N/ha,

tổng số hoa trên cây tăng lên có ý nghĩa. Cùng mức bón lân 90 kg P 2O5/ha,

khi tăng lượng đạm từ 30 lên 40 và 50 kg N/ha đều làm tăng tổng số hoa trên

cây một cách có ý nghĩa về mặt thống kê.

Tổng số hoa trên cây đạt cao nhất ở mức bón 40 - 50 kg đạm/ha và 90

kg lân/ha.

Như vậy, có thể thấy ở đây vai trò quan trọng của tương tác đạm, lân

trong việc hình thành hoa của cây lạc. Theo chúng tôi, trong thời gian ra hoa,

đâm tia và làm quả cây lạc có hoạt động sinh lý mạnh cả về sinh trưởng dinh

dưỡng và sinh trưởng sinh thực. Vì vậy, giai đoạn này cần một lượng dinh

dưỡng đủ lớn để cung cấp cho cây. Tuy nhiên, nếu tăng lượng đạm và lân lên

cao (50 kg N/ha và 90 kg P2O5/ha) sẽ kéo dài thời gian ra hoa của lạc.

* Tỷ lệ hoa hữu hiệu

Tỷ lệ hoa hữu hiệu là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng thụ

phấn, thụ tinh, đâm tia hình thành quả và cho năng suất của cây lạc.

Đối với chỉ tiêu này, ảnh hưởng của yếu tố lân rõ nét hơn đạm.

Cùng một mức bón đạm 30 kg N/ha, khi tăng lượng lân từ 60 lên 90 kg

P2O5/ha không làm tỷ lệ hoa hữu hiệu tăng lên. Tuy nhiên khi tăng lượng đạm



lxi



lên 40 và 50 kg N/ha, tỷ lệ hoa hữu hiệu tăng lên thấy rõ khi tăng lượng lân từ

60 lên 90 kg P2O5/ha. Trên cùng một nền lân như nhau (60 và 90 kg P 2O5/ha),

khi tăng lượng đạm từ 30 kg N/ha lên 40 và 50 kg N/ha, tỷ lệ hoa hữu hiệu

tăng lên có ý nghĩa khi tăng lượng lân bón cho lạc từ 60 lên 90 kg P2O5/ha.

Qua kết quả trên chúng tôi có nhận xét:

- Phản ứng của cây lạc thông qua chỉ tiêu tổng số hoa và tỷ lệ hoa hữu

hiệu là khác nhau đối với liều lượng đạm, lân khác nhau.

- Ảnh hưởng của tương tác đạm - lân đối với chỉ tiêu này chỉ thể hiện

rõ khi các yếu tố dinh dưỡng này được sử dụng ở mức 40 - 50 kg N/ha trên

nền 90 kg P2O5/ha.



Đồ thị 3.3. Ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân đến tổng số hoa trên cây giống Lạc L14

vụ Xuân 2012

3.4. Ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân đến khối lượng nốt sần

Là cây họ đậu nên rễ lạc có khả năng cố định nitơ phân tử của khí

quyển do vi khuẩn Rhizobium sống cộng sinh. Khi vi khuẩn sống cộng sinh

với cây lạc thì nó có thể cung cấp tới 50 - 70% tổng số đạm cần thiết của cây.

Chính nhờ vậy mà cây lạc tự đáp ứng phần nào yêu cầu sử dụng đạm.



lxii



So với một số cây họ đậu khác thì nốt sần rễ lạc hình thành tương đối

muộn hơn. Những nốt sần đầu tiên quan sát thấy khi lạc có 4 - 5 lá (khoảng 25

- 30 ngày sau khi gieo). Những nốt sần đầu tiên thường nhỏ, dịch nốt sần màu

hồng nhạt. Lượng nốt sần tăng nhanh từ thời kỳ ra hoa đến đâm tia hình thành

quả và thời kỳ ra hoa đâm tia là thời kỳ mà vi khuẩn nốt sần cố định được

lượng đạm cao nhất. Nốt sần tập trung ở rễ phụ, rễ chính, phần gần rễ chính

và ở độ sâu lớp đất mặt 0 - 25 cm. Bình thường vi khuẩn Rhizobium vigna

sống trong đất nhờ sự phân giải thực vật. Sau khi trồng lạc, nhờ hoạt động hô

hấp của bộ rễ lạc đã tiết ra một số hợp chất hữu cơ có tác dụng hấp thu và

kích thích vi khuẩn nốt sần phát triển và tập trung ở vùng rễ lạc. Sau đó vi

khuẩn tự rụng tiêm mao trở thành vi khuẩn hình gậy, tiết chất nhầy từ tổ chức

biểu bì của đầu lông hút tạo thành tuyến xâm nhập hình dải, sau một thời gian

xâm nhập vào tế bào biểu bì, vào nội bì và sinh sản ở đó. Vi khuẩn tiết chất

kích thích làm cho tế bào phân chia không bình thường và hình thành nốt sần.

Độ lớn, vị trí, màu sắc bên trong của nốt sần có liên quan đến khả năng

cố định đạm, nốt sần ở rễ chính và gần rễ chính cố định đạm mạnh hơn, nốt

sần ở rễ phụ nhỏ, ruột hơi xanh hoặc vàng, khả năng cố định đạm yếu.

Số lượng nốt sần là những chỉ tiêu nói lên khả năng cung cấp đạm cho

cây của vi khuẩn nốt sần. Chúng phụ thuộc vào các yếu tố như: dòng vi khuẩn

nốt sần, kiểu gen của cây lạc ký chủ, điều kiện môi trường, kỹ thuật trồng trọt,

yếu tố dinh dưỡng, trong đó phải kể đến độ ẩm đất, nhiệt độ đất, cường độ

ánh sáng, ngày dài ngắn và lượng N, P, K, Ca, Mg, S, Mo, Zn và B mà cây

hấp thụ được.

Trong điều kiện đất tốt, tác động kỹ thuật đúng, cây con sinh trưởng

mạnh, vi khuẩn phát triển tốt, khả năng cố định đạm mạnh và cây lạc sinh

trưởng tốt. Vi khuẩn cần oxy để sinh trưởng và tổng hợp đạm, do đó đất phải

thoáng. Hoạt động cố định đạm của vi khuẩn bị giảm sút do độ chua của đất,



lxiii



vì vậy phải bón vôi đối với đất chua để tạo môi trường thích hợp cho vi khuẩn

hoạt động, cố định đạm được tốt hơn.

Bảng 3.4. Ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân đến khối lượng nốt sần

Đơn vị tính: g/cây

Công

thức

I

thí

II

nghiệm

III

IV

V

VI



Liều lượng

N30P60



Thời kỳ

Bắt đầu ra hoa

Ra hoa rộ

Thu hoạch

KL tươi KL khô KL tươi KL khô KL tươi KL khô

0,20 d

0,02 d

0,47 d

0,04 d

1,89 d

0,19 c



N30P90

N40P60

N40P90

N50P60

N50P90

LSD 0,05

CV%



0,24 cd

0,26 b-d

0,29 b

0,28 bc

0,34 a

0,04

8,3



0,02 d

0,03 c

0,04 b

0,03 c

0,05 a

0,006

11,5



0,50 cd

0,55 bc

0,60 ab

0,58 b

0,65 a

0,06

6,0



0,05 c

0,06 b

0,06 b

0,06 b

0,07 a

0,008

8,1



1,90 d

1,96 cd

2,08 ab

2,02 bc

2,12 a

0,08

2,3



0,18 d

0,19 c

0,20 b

0,19 c

0,21 a

0,01

3,9



* Khối lượng tươi của nốt sần

- Ở thời kỳ bắt đầu ra hoa: Trên nền bón lân 60 kg P 2O5/ha, khối lượng

nốt sần tươi không tăng lên có ý nghĩa khi tăng lượng đạm. Tuy nhiên trên

nền bón lân 90 kg P2O5, khối lượng nốt sần tươi tăng lên đáng kể khi tăng

lượng đạm bón cho lạc.

Trên nền bón đạm 30 và 40 kg N/ha, khi tăng lượng lân từ 60 lên 90 kg

P2O5/ha không làm khối lượng nốt sần tươi tăng lên có ý nghĩa. Tuy nhiên khi

tăng lượng đạm lên 50 kg N/ha, khối lượng nốt sần tươi tăng lên rõ rệt và có ý

nghĩa về mặt thống kê.

- Ở thời kỳ ra hoa rộ:

Trên nền bón đạm 30 và 40 kg N/ha, khi tăng lượng lân từ 60 lên 90 kg

P2O5/ha không làm khối lượng nốt sần tươi tăng lên có ý nghĩa. Tuy nhiên khi

tăng lượng đạm lên 50 kg N/ha, khối lượng nốt sần tươi tăng lên rõ rệt và có ý

nghĩa về mặt thống kê.



lxiv



Trên nền bón lân như nhau (60 và 90 kg P 2O5/ha), khi tăng lượng đạm

từ 30 kg N/ha lên 40 và 50 kg N/ha khối lượng nốt sần tươi tăng lên có ý

nghĩa về mặt thống kê.

- Ở thời kỳ thu hoạch

Trên nền đạm 30 kg N/ha, khi tăng lượng lân từ 60 lên 90 kg P 2O5/ha,

khối lượng nốt sần tươi không tăng lên đáng kể, không có ý nghĩa về mặt

thống kê. Tuy nhiên khi tăng lượng đạm lên 40 và 50 kg N/ha, khối lượng nốt

sần tăng lên một cách có ý nghĩa khi tăng lượng lân từ 60 lên 90 kg P2O5/ha.

Trên nền lân 60 kg P2O5/ha, khi tăng lượng đạm lên 50 kg N/ha, khối

lượng nốt sần tươi mới tăng lên có ý nghĩa về mặt thống kê. Trên nền lân 90

kg P2O5/ha, khi tăng lượng đạm lên 40 và 50 kg N/ha khối lượng nốt sần tươi

tăng lên có ý nghĩa về mặt thống kê.

* Khối lượng nốt sần khô

- Ở thời kỳ bắt đầu ra hoa: đây là giai đoạn nốt sần mới hình thành và

bước vào giai đoạn hoàn thiện về chức năng cố định đạm.

Ở mức bón đạm 30 kg N/ha, khi tăng lượng lân bón cho lạc từ 60 lên 90

kg P2O5/ha, khối lượng nốt sần khô không tăng lên. Tuy nhiên khi tăng lượng

đạm lên 40 và 50 kg N/ha, khối lượng nốt sần khô tăng lên một cách có ý

nghĩa khi tăng lượng lân bón từ 60 lên 90 kg P 2O5/ha. Cùng một mức bón lân

như nhau (60 và 90 kg P2O5/ha), khi tăng lượng đạm bón cho lạc từ 30 lên 50

kg N/ha, khối lượng nốt sần khô tăng lên một cách có ý nghĩa. Ở mức bón

đạm 40 - 50 kg N/ha và 90 kg P2O5/ha khối lượng nốt sần khô đạt cao nhất.

- Ở thời kỳ ra hoa rộ

Ở mức bón đạm 30 và 50 kg N/ha, khối lượng nốt sần khô tăng lên một

cách có ý nghĩa khi tăng lượng lân bón từ 60 lên 90 kg P 2O5/ha. Ở mức bón

40 kg N/ha, khối lượng nốt sần không tăng lên khi tăng lượng lân bón cho lạc.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(93 tr)

×