Tải bản đầy đủ - 93 (trang)
GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 93trang

bố dự thảo lần đầu cho đến khi công bố luật thuế TNCN đến nay thì vẫn còn những

tranh cãi vướng mắc xung quanh vấn đề này. Vì thế tác giả quyết định chọn đề tài:

“Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn thu thuế thu nhập các nhân trên địa bàn

tỉnh Thừa Thiên Huế” với mong muốn góp ý kiến đánh gía nhằm hoàn thiện và đưa

chính sách thuế đến gần với người dân và phát huy thật tốt vai trò của nó theo đúng

định hướng mà Nhà nước đã đề ra.

1.2. Mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của đề tài là phân tích thực trạng và diễn biến tình hình thu thuế thu

nhập cá nhân tại tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn từ năm 2009 đến 2013. Qua

đó ứng dụng các nghiên cứu trước đây để xây dựng mô hình nhằm xác định các yếu

tố ảnh hưởng tới nguồn thu thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên

Huế. Trên cơ sở này tác giả kiến nghị một số giải pháp nhằm tăng cường nguồn thu

thuế thu nhập cá nhân, hạn chế tối đa sự thất thoát nguồn thu thuế thu nhập cá nhân

của tỉnh Thừa Thiên Huế.

1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu

Một là, các yếu tố nào ảnh hưởng tới nguồn thu thuế thu nhập cá nhân trên

địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế? Và ảnh hưởng như thế nào?

Hai là, Giải pháp nào để tăng cường nguồn thu thuế thu nhập cá nhân trên

địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế?

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

(1) Đề tài tập trung vào nghiên cứu diễn biến nguồn thu thuế thu nhập cá

nhân và công tác thu thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

(2) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới nguồn thu thuế thu nhập cá nhân

trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu: trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Thời gian nghiên cứu: dữ liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn từ

2009 - đến 2013.



2



1.4. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được viết theo phương pháp định lượng. Trên cơ sở lý thuyết nền

về thuế nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng. Đồng thời kết hợp ứng dụng

các nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài. Tác giả đã tập trung nghiên cứu

các yếu tố tác động đến nguồn thu thuế thu nhập cá nhân như sau : Hệ thống chính

sách, pháp luật thuế TNCN; Tổ chức bộ máy quản lý về thuế TNCN; Quy trình

quản lý thu nộp thuế TNCN; Sự phát triển của Hệ thống ngân hàng và ứng dụng các

tiến bộ khoa học; Sự phối hợp giữa các ban ngành chức năng trong công tác thu

thuế TNCN; Tình hình kinh tế và mức sống người dân; Trình độ dân trí và ý thức

chấp hành luật thuế của nhân dân; Công tác tuyên truyền chính sách thuế TNCN.

Phương pháp thu thập dữ liệu, bên cạnh dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các

báo cáo của Sở Tài Chính của tỉnh Thừa Thiên Huế, Tổng cục thuế, Cục thuế Thừa

Thiên Huế trong giai đoạn 2009 – 2013; đề tài còn sử dụng dữ liệu sơ cấp được thu

thập thông qua hình thức phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi theo phương pháp

điều tra mẫu ngẫu nhiên với quy mô mẫu dự kiến là 300 cán bộ đang công tác trong

lĩnh thuế tại tỉnh Thừa Thiên Huế.

Phương pháp phân tích dữ liệu, tác giả sử dụng các kỹ thuật phân tích dữ

liệu với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 20 và Exel như sau: Mô tả dữ liệu nghiên

cứu; Kiểm định độ tin cậy thang đo, Phân tích nhân tố khám phá; Hồi quy bội và

kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

1.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

• Hệ thống hóa một cách khoa học về các lý luận có liên quan đến thuế thu

nhập cá nhân

• Phân tích thực trạng nguồn thu thuế thu nhập cá nhân tại tỉnh Thừa Thiên Huế.

• Nhận diện và phân tích các ảnh hưởng của các nhân tố tới nguồn thu thuế

thu nhập cá nhân tại tỉnh Thừa Thiên Huế.

• Đề xuất giải pháp cho tỉnh Thừa Thiên Huế trong việc tăng cường nguồn

thu thuế TNCN; đồng thời cũng là 1 bài học kinh nghiệm cho các địa phương khác

tham khảo.

• Đề tài cũng là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu,

bạn đọc quan tâm tới lĩnh vực thuế.



3



1.6. Kết cấu luận văn

Đề tài được cấu trúc thành 5 chương

T

5



• Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu

• Chương 2: Cơ sở lý luận về thuế thu nhập cá nhân

• Chương 3: Mô hình nghiên cứu

• Chương 4: Kết quả nghiên cứu

• Chương 5: Kết luận và kiến nghị



4



CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

2.1. Những vấn đề cơ bản về thuế thu nhập cá nhân

2.1.1. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân

Thuế thu nhập cá nhân đã được áp dụng từ lâu ở các nước phát triển, đối tượng

nộp thuế này là mọi dân cư trong nước và người nước ngoài có thu nhập phát sinh ở

nước sở tại không phân biệt nghề nghiệp và địa vị xã hội. Ðồng thời, tùy theo tính chất

của các khoản thu nhập cá nhân, người ta chia thu nhập làm hai loại: thu nhập thường

xuyên và thu nhập không thường xuyên để tính thuế cho phù hợp. Lần đầu tiên ở Anh

vào năm 1799 thuế thu nhập cá nhân được đưa vào thực hiện như một hình thức thu

tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức

áp dụng vào năm 1942. Sau đó nhiều nước tư bản phát triển khác cũng áp dụng thuế

này như: ở Nhật năm 1887, Ðức 1899, Mỹ 1903, pháp 1916 và Liên Xô năm 1922( 1).

P



F

0



P



Ở một số nước khác thuế thu nhập cá nhân cũng xuất hiện từ khá sớm, nước

Nhật năm 1887, Trung Quốc năm 1936 còn Hàn Quốc thì loại thuế này ra đời muộn

hơn vào năm 1974( 2).

P



F

1



P



Theo Tổng cục thuế (2005), Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt

buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo các mức độ mà pháp luật quy

định. Khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế để phục vụ cho mục tiêu

phục vụ lợi ích công cộng.

Theo Học viện Tài chính (2002), Việc hình thành quỹ tiền tệ tập trung để nhà

nước thực hiện các chức năng của mình nói chung và chức năng quản lý xây dựng

kinh tế thông qua việc kiến thiết, xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng và các công

trình phúc lợi xã hội khác nhà nước nói riêng. Thông quá đó, người nộp thuế được

hưởng một phần kết quả nộp thuế của mình. Như vậy thuế ở nước ta luôn luôn là

một khoản thu bắt buộc, không được hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế nhưng

họ được gián tiếp hưởng lợi do chính sách đầu tư, phát triển của Nhà nước cho các

công trình phúc lợi xã hội khác nhau.



1

2



Nguồn: History of Taxation- www.tax.org

Nguồn: Giáo trình quản lý thuế - ĐHKTQD, trang 105

5



Trên cơ sở đó, có thể khái niệm thuế TNCN như sau: “Thuế TNCN là loại

thuế chủ yếu đánh vào thu nhập của cá nhân nhằm thực hiện công bằng xã hội, động

viên một phần thu nhập của cá nhân vào ngân sách nhà nước và có thể được sử

dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc khuyến khích làm việc hay nghỉ

ngơi, thông qua việc thu hay không thu thuế đối với các khoản thu nhập từ kinh

doanh, đầu tư…”( 3). Thuế này được coi là loại thuế đặc biệt vì nó lưu ý đến hoàn

P



F

2



P



cảnh của các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định, miễn giảm

hoặc khoản miễn trừ đặc biệt.

2.1.2. Vai trò của thuế thu nhập cá nhân

Là một bộ phận của hệ thống thuế, thuế thu nhập cá nhân vừa mang các vai

trò chủ yếu của thuế nói chung, vừa có các vai trò riêng mà các loại thuế khác

không có được. Vai trò của thuế thu nhập cá nhân được thể hiện ở hai khía cạnh là

đối với nền kinh tế - xã hội và đối với hệ thống thuế.

• Đối với nền kinh tế.

- Tạo lập nguồn tài chính cho NSNN. Nền kinh tế ngày càng phát triển, mức

sống người dân càng cao thì thuế thu nhập cá nhân ngày càng góp phần quan trọng

trong nguồn thu ngân sách Nhà nước. Chúng ta biết rằng thuế thu nhập cá nhân thu

được dựa vào mức thu nhập của dân cư. Thu nhập của dân cư càng cao thì nó cũng

đồng nghĩa với mức thu từ thuế TNCN sẽ tăng. Điều đó chỉ có thể có được khi nền

kinh tế có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, GDP lớn. Thông thường, ở những nước

càng phát triển thì tỉ trọng đóng góp của thuế trực thu càng lớn, trong đó thuế

TNCN chiếm tỉ trọng khá cao.

Theo tạp chí tài chính tháng 5/2001, số liệu về một số nước phát triển trong

khối OECD “năm 1980 tỉ lệ thuế thu nhập cá nhân của các nước trong khối OECD

là 10,9% GDP, trong khi đó tỉ lệ này vào năm 1995 là 10,4%”( 4).

P



F

3



P



Còn ở những nước đang phát triển, đời sống người dân chưa cao, thu nhập



3

4



Giáo trình luật tài chính 2, TS. Lê Nguyệt Trâu, tr.22

Ví dụ: ở Trung Quốc là một nước đang phát triển nhưng có mức độ phát triển cao thì thuế TNCN chỉ chiếm

13,4% năm 1994 và 16,3% năm 1996 tổng số thu; trong khi đó nguồn thuế TNCN ở Mỹ đạt xấp xỉ 48%

năm 1994 trên tổng số thu các loại thuế và phí; còn ở nước ta thì con số này là 0,87% năm 1994 (Tài chính

tháng 5/2001)

6



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(93 tr)

×