Tải bản đầy đủ - 98 (trang)
KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN

KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN

Tải bản đầy đủ - 98trang

•Đinh Thị Oanh, Vũ Thị Kim Dung, Phạm Thị Thanh với công trình “

Tiếng Việt và phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” ( NXB Giáo dục,

2006) đã đưa ra phương pháp dạy học Tiếng Việt và cụ thể cho từng phân môn

Tiếng Việt. Trong đó có phương pháp dạy học “Luyện từ và câu” và điểm qua

về dạy học theo hướng đổi mới, tích cực, tạo hứng thú học tập cho HS.

• Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục (Bộ GD-ĐT) có bài viết

“Các kiểu thi trắc nghiệm” đã đề cập đến khái niệm và hình thức các dạng câu

hỏi trắc nghiệm. Tài liệu cũng nói đến những điểm mạnh mà TNKQNLC mang

lại và giải thích cho chúng ta biết vì sao nên dùng dạng câu hỏi này trong quá

trình dạy học.

Những công trình nghiên cứu trên là tài liệu gợi ý quý báu cho tôi trong

quá trình tiến hành thực hiện đề tài. Phát triển tư duy cho HS Tiểu học là một

vấn đề đang được nhiều nhà giáo dục quan tâm, đề cập trên nhiều phương diện,

tuy nhiên nó vẫn chỉ dừng lại ở mức độ khái quát chung. Với khóa luận này, tôi

tiếp tục nghiên cứu cụ thể hơn về việc sử dụng hệ thông bài tập TNKQNLC

trong phân môn “Luyện từ và câu” lớp 3 nhằm rèn luyện và phát triển khả năng

tư duy của HS.

1.2. Một số vấn liên quan đến tư duy và phát triển tư duy cho học sinh lớp 3

1.2.1. Khái niệm về tư duy

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tư duy, theo Từ điển Bách khoa toàn

thư Việt Nam, tập 4 “Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức

một cách đặc biệt -Bộ não người - Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách

quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận .v.v...” [19; tr 12] . Theo

một định nghĩa khác, "tư duy" là danh từ triết học dùng để chỉ những hoạt động

của tinh thần, nó đem lại những cảm giác của người ta sửa đổi và cải tạo thế giới

thông qua hoạt động vật chất tức là hoạt động của trí não, làm cho người ta có

cách nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử tích cực với nó.

M.N.Sacđacôp khẳng định: “ Tư duy là sự nhận thức khái quát gián tiếp

các sự vật và hiện tượng của hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính

chung và bản chất của chúng. Tư duy cũng là sự nhận thức sáng tạo những sự

vật, hiện tượng mới, riêng rẽ của hiện thực trên cơ sở những kiến thức khái quát

hóa đã thu nhận được” [13; tr 56].



Còn theo tác giả Nguyễn Xuân Trường ( ĐHSP Hà Nội) thì “Tư duy là

hành động trí tuệ nhằm thu thập và xử lý thông tin về thế giới quanh ta và thế

giới trong ta. Chúng ta tư duy để hiểu, làm chủ tự nhiên và xã hội của chính

mình”. [ 25; tr 1]

1.2.2. Đặc điểm của tư duy

Cơ chế hoạt động cơ sở của tư duy dựa trên hoạt động sinh lý của bộ não

với tư cách là hoạt động thần kinh cao cấp. Mặc dù không thể tách rời não

nhưng tư duy không hoàn toàn gắn liền với một bộ não nhất định. Trong quá

trình sống, con người giao tiếp với nhau, do đó tư duy của từng người vừa tự

biến đổi qua quá trình hoạt động của bản thân vừa chịu sự tác động biến đổi từ

tư duy của đồng loại thông qua hoạt động có tính vật chất. Tư duy không chỉ gắn

với bộ não của từng cá thể người mà còn gắn với sự tiến hóa của xã hội, trở

thành một sản phẩm có tính xã hội trong khi vẫn duy trì được tính cá thể của

một con người nhất định.

Tư duy bắt nguồn từ hoạt động tâm lý. Hoạt động này gắn liền với phản xạ

sinh lý là hoạt động đặc trưng của hệ thần kinh cao cấp. Hoạt động đó diễn ra ở

các động vật cấp cao, đặc biệt biểu hiện rõ ở người. Theo quan điểm của triết

học duy vật biện chứng, lao động là một trong các yếu tố quyết định để chuyển

hóa vượn có dạng người thành con người. Từ chỗ là một loài động vật thích ứng

với tự nhiên bằng bản năng tự nhiên, con người đã phát triển sự thích ứng đó

bằng bản năng thứ hai là tư duy với năng lực trừu tượng hóa ngày càng sâu sắc

đến mức nhận thức được bản chất của hiện tượng, quy luật của tự nhiên và nhận

thức được chính bản thân mình.

Tư duy bao gồm các đặc điểm sau:

- Tư duy là sản phẩm của bộ não con người và là một quá trình phản ánh

tích cực thế giới khách quan.

- Kết quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là một ý nghĩ và được thể hiện

qua lời nói.

- Bản chất của tư duy là ở sự phân biệt, sự tồn tại độc lập của đối tượng

được phản ánh với hình ảnh nhận thức được qua khả năng hoạt động của con

người nhằm phản ánh đối tượng.



- Tư duy là quá trình phát triển năng động và sáng tạo.

- Khách thể trong tư duy được phản ánh với nhiều mức độ khác nhau từ

thuộc tính này đến thuộc tính khác, nó phụ thuộc vào chủ thể là con người.

1.2.3. Phẩm chất của tư duy

Những công trình nghiên cứu về tâm lí học và giáo dục đã khẳng định rằng:

Sự phát triển tư duy nói chung được đặc trưng bởi sự tích luỹ các thao tác tư duy

thành thạo vững chắc của con người. Những phẩm chất của tư duy là:

Tính định hướng: thể hiện ở ý thức nhanh chóng và chính xác đối tượng

cần lĩnh hội, mục đích phải đạt và con đường tối ưu để đạt mục đích đó.

Bề rộng: thể hiện có khả năng vận dụng nghiên cứu các đối tượng khác.

Độ sâu: thể hiện ở khả năng nắm vững ngày càng sâu sắc bản chất của sự

vật, hiện tượng.

Tính linh hoạt: thể hiện ở sự nhạy bén trong việc vận dụng những tri thức

và cách thức hành động vào các tình huống khác nhau một cách sáng tạo.

Tính mềm dẻo: thể hiện ở hoạt động tư duy được tiến hành theo các hướng

xuôi và ngược chiều (Ví dụ: từ cụ thể đến trừu tượng và từ trừu tượng đến cụ

thể...)

Tính độc lập: thể hiện ở chỗ tự mình phát hiện được vấn đề, đề xuất cách

giải quyết và tự giải quyết vấn đề.

Tính khái quát: thể hiện ở chỗ khi giải quyết mỗi loại nhiệm vụ sẽ đưa ra

mô hình khái quát. Từ mô hình khái quát này có thể vận dụng để giải quyết các

vấn đề cùng loại.

Để đạt được những phẩm chất tư duy trên, trong quá trình dạy học chúng ta

chú ý rèn luyện cho HS các thao tác tư duy.

1.2.4. Phát triển năng lực tư duy

Việc phát triển tư duy cho HS trước hết là giúp HS nắm được các kiến thức

cần lĩnh hội đồng thời cần biết vận dụng các kiến thức đó vào việc giải bài tập

và thực hành. Qua đó HS sẽ nắm chắc hơn kiến thức và biến những kiến thức đó

trở nên sinh động. HS chỉ thực sự lĩnh hội được tri thức khi tư duy của các em

phát triển.



Tư duy càng phát triển thì khả năng tiếp thu tri thức sẽ diễn ra nhanh, sâu

sắc và có chất lượng hơn, khả năng vận dụng kiến thức càng linh hoạt và hiệu

quả hơn. Như vậy việc phát triển tư duy cho HS có vai trò tiên quyết trong việc

tiếp thu tri thức của HS. Sự phát triển tư duy của HS được diễn ra xuyên suốt

quá trình tiếp thu và vận dụng tri thức. Khi tư duy phát triển sẽ tạo ra một kỹ

năng và thói quen làm việc có suy nghĩ, có phương pháp chuẩn bị lâu dài cho

HS hoạt động sáng tạo sau này. Do đó hoạt động trong phân môn “Luyện từ và

câu” cần phải tập luyện cho HS khả năng tư duy thông qua hệ thống bài tập

TNKQNLC. Từ những hoạt động dạy và học trên lớp, GV cần vận dụng hệ

thống bài tập trắc nghiệm nhằm phát triển khả năng tư duy của HS trong phân

môn “Luyện từ và câu”. HS tham gia vào hoạt động này một cách tích cực sẽ

nắm được các kiến thức và phương pháp nhận thức đồng thời các thao tác tư duy

sẽ được rèn luyện.

1.2.5. Dấu hiệu đánh giá tư duy phát triển

Để có thể đánh giá sự phát triển của tư duy ta cần căn cứ vào các biểu hiện

sau:

* HS có khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng vào các tình huống khác

nhau: Trong quá trình học tập, HS đều phải giải quyết những vấn đề đòi hỏi cần

sự liên tưởng đến những kiến thức đã được học trước đó. Nếu HS biết cách sử

dụng các kiến thức cũ vào các tình huống mới thì chứng tỏ đã có biểu hiện của

tư duy phát triển.

* Tái hiện nhanh chóng các kiến thức, các mối quan hệ cần thiết để giải

quyết một bài tập cụ thể nào đó. Thiết lập nhanh chóng các mối quan hệ bản

chất giữa các sự vật hiện tượng đã có trước đó.





Có khả năng phát hiện ra những cái chung và cái riêng của các hiện



tượng, vấn đề khác nhau. Từ đó tìm ra cách giải quyết phù hợp cho từng vấn đề.





Có năng lực vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn. Đây là kết quả



phát triển tổng hợp của sự phát triển tư duy. Để có thể giải quyết được các bài

tập đòi hỏi HS phải biết phân tích, suy đoán, vận dụng các thao tác tư duy để có

cách giải quyết thích hợp.



1.3. Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc phát triển tư duy cho học sinh

Theo Luật Giáo dục 2005, những mục tiêu cơ bản của bậc học phổ thông

nói chung, bậc học Tiểu học nói riêng là hình thành và phát triển được nền tảng

tư duy của con người trong thời đại mới, bao gồm: Những kiến thức và kĩ nẵng

cơ bản như: đọc, viết, tính toán và những kiến thức cơ bản của các môn học

trong nhà trường phổ thông; những kĩ năng tư duy và hoạt động sáng tạo như:

biết cách suy luận, phát hiện và giải quyết vấn đề, biết cách học và tự học, có tư

duy phê phán, tư duy sáng tạo…; phẩm chất và nhân cách con người mới như:

có bản lĩnh, có ý thức và tinh thần trách nhiệm, trung thực, biết tự quản lý và

làm chủ bản thân, có đời sống nội tâm phong phú, có nhân cách cao cả… Trong

đó, mục tiêu phát triển năng lực giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo ở người học

được vô cùng coi trọng. Điều này thể hiện trong nhà trường chính là thông qua

dạy kiến thức để hình thành và phát triển năng lực tư duy, phát triển trí tuệ, tư

duy sáng tạo và các phẩm chất nhân cách khác của HS. Như vậy, thông qua dạy

và học để tạo nền móng trí tuệ, cách thức giải quyết vấn đề, hoạt động sáng tạo

ở người học được xem như một trong những mục tiêu cơ bản, trọng tâm của

giáo dục ở nhà trường phổ thông nói chung, nhà trường Tiểu học nói riêng trong

thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay.

Phát triển tư duy cho HS tức là giúp HS nắm kiến thức một cách sâu sắc,

bền vững, không học vẹt, không máy móc, rập khuôn. Biết vận dụng kiến thức

vào thực tiễn một cách linh hoạt có hiệu quả. Tư duy càng phát triển thì khả

năng nắm bắt tri thức càng nhanh và sâu sắc. Chính vì vậy việc phát triển tư duy

cho HS là một việc làm hết sức có ý nghĩa.

L.N Tônxtôi đã nói “Kiến thức chỉ thực sự là kiến thức khi nó là thành quả

của những cố gắng tư duy chứ không phải trí nhớ” [25; tr 1] điều đó có nghĩa là

HS chỉ lĩnh hội được kiến thức khi họ thực sự tư duy. Trong thực tế, không phải

sự vật hiện tượng nào cũng rõ ràng để chúng ta có thể tri giác hay cảm giác

được. Có những sự vật hiện tượng mà chỉ có tư duy chúng ta mới có thể nắm

được. Do đó, việc phát triển năng lực tư duy có ý nghĩa to lớn trong quá trình

học tập và tiếp thu tri thức của HS. Bằng cách tư duy người học có thể nắm bắt



tri thức một cách dễ dàng hơn, vận dụng kiến thức vào thực tiễn một cách linh

hoạt và mềm dẻo hơn. Tư duy giúp HS tự rèn luyện được những đức tính tốt,

cần thiết như tính độc lập, tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc giải quyết

những tình huống có vấn đề.

Ví dụ: Khi trẻ bắt gặp một bài toán khó, tức là trẻ đã gặp được một tình

huống có vấn đề bắt buộc trẻ phải tư duy. Bài toán là một cái mới, do đó khi trẻ

tư duy chính là lúc trẻ đã phát huy được khả năng độc lập suy nghĩ, chủ động

sáng tạo để giải bài toán dựa trên những kiến thức mà trẻ đã có.

Bên cạnh đó từ việc phát triển tư duy sẽ góp phần rất lớn vào việc phát

triển ngôn ngữ cho HS. Khả năng sử dụng ngôn ngữ linh hoạt giúp trẻ dễ dàng

hoà nhập với trường lớp, bạn bè.

Ví dụ: Khi trẻ tư duy để thực hiện xong bài toán, để nêu ra kết quả mà trẻ

tư duy được cho người khác nghe và hiểu. Đòi hỏi trẻ sử dụng ngôn ngữ phải

chính xác, ngắn gọn để người khác hiểu được điều trẻ muốn nói. Do đó, thông

qua tư duy sẽ giúp trẻ biết sử dụng ngôn ngữ để thể hiện suy nghĩ của mình,

giúp trẻ phát triển trong hoạt động giao tiếp.

Phát triển tư duy cho HS Tiểu học thông qua hệ thống dạy học phân môn

“Luyện từ và câu” chính là việc đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ giữa lời nói và tư

duy. Tạo điều kiện cho HS thực hành thường xuyên để quen dần với kiến thức

ngôn ngữ khá trừu tượng, để từ đó phát triển tư duy cho HS Tiểu học một cách

tự nhiên nhất khi trẻ đã tự hình thành cho mình thói quen sử dụng đúng cấu trúc

câu khi làm bài tập cũng như diễn đạt suy nghĩ bản thân một cách đa dạng.

Thông qua việc rèn luyện và phát triển tư duy cho HS trong phân môn

“Luyện từ và câu” góp phần vào việc hình thành kĩ năng nghe, nói, đọc, viết

giúp HS có điều kiện và phương tiện cần thiết trong học tập. Việc hình thành kỹ

năng này là chìa khóa cho sự phát triển nhận thức đúng đắn. Nắm được ngôn

ngữ lời nói cũng là điều thiết yếu của việc hình thành tích cực xã hội hóa của

nhân cách.

Phát triển tư duy cho HS Tiểu học qua dạy học phân môn “Luyện từ và

câu” chính là giúp trẻ có thói quen tư duy một cách logic. Giúp trẻ hình thành

được tư duy hình tượng. Các đơn vị và các dạng thức ngôn ngữ cần được khái

quát một cách cụ thể. Thông qua việc hướng dẫn, phân tích các đơn vị ngôn ngữ



riêng lẻ, HS có thể tư duy logic để hình thành nên được các khái niệm trong đầu.

Từ đó thêm một lần nữa sử dụng tư duy logic để áp dụng kiến thức vào cuộc

sống giao tiếp bằng ngôn ngữ hằng ngày. Điều đó để khẳng định rằng việc phát

triển tư duy cho HS là một vấn đề hết sức cần thiết và quan trọng.

1.4. Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp 3 trong mối quan hệ với phát triển tư

duy

Trẻ em có nhu cầu lớn trong hoạt động và tiếp xúc, song việc hoạt động

ngoài giờ lên lớp, sự tiếp xúc hằng ngày của trẻ với môi trường xung quanh,

giao tiếp mọi người chỉ là ngẫu nhiên, bộc phát, hoàn toàn không chủ động. Tổ

chức cho trẻ được hoạt động cả về trí tuệ lẫn thể chất, tạo môi trường cho các

em tiếp xúc, giao tiếp bạn bè, thầy cô một cách tự nhiên, có nội dung, có phương

pháp, có kế hoạch phục vụ mục đích giáo dục đề ra. Muốn nâng cao hoạt động

giáo dục cần nắm vững đặc điểm phát triển của HS.

Có rất nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm tâm sinh lý của HS tiểu

học. Ở đây chúng tôi chỉ nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý có thể ảnh hưởng đến

quá trình tư duy của HS.

(1) Sự phát triển của quá trình nhận thức (nhận thức lý tính):

• Tư duy:

Tư duy của HS lớp 3 mang đậm tính cảm xúc và chiếm ưu thế hơn là tư

duy trực quan hành động. Các phẩm chất của tư duy chuyển dần từ tính cụ thể

sang tư duy trừu tượng khái quát. Hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức của

HS lớp 3 còn sơ đẳng. Ở lứa tuổi này, năng lực trừu tượng hóa và khái quát hóa

đang phát triển mạnh nhưng chưa đầy đủ, còn phải dựa vào những sự vật cụ thể,

những tài liệu trực quan. Các em chưa thể tự mình suy luận một cách lôgíc và

thường dựa vào những mối liên hệ ngẫu nhiên của sự vật và hiện tượng. Ở lứa

tuổi này tư duy của các em còn mang tính cảm xúc. Trẻ xúc cảm rất sinh động

với tất cả những điều suy nghĩ.

• Tưởng tượng:

Ở lứa tuổi này khả năng tưởng tượng đã khá phát triển. Tuy nhiên, tưởng

tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:



Khả năng tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thành, từ những hình ảnh cũ

trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới. trong giai đoạn này, tưởng tượng sáng tạo

đang trong giai đoạn phát triển, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn,

vẽ tranh… Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối

mạnh mẽ bởi các cảm xúc, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng… Qúa

trình tưởng tượng của trẻ ít có tổ chức, hình ảnh tưởng tượng chưa được gọt dũa,

hay thay đổi, chưa bền vững.

• Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức.

Ngôn ngữ của các em phát triển mạnh cả về ngữ âm, ngữ pháp và từ ngữ.

Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế

giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác

nhau. Thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát

triển trí tuệ của trẻ.

• Chú ý và sự phát triển nhận thức của trẻ.

Ở lứa tuổi này chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế. Chú ý chủ định của

trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế. Trẻ chỉ tập trung

chú ý tốt khoảng 20-25 phút, khối lượng chú ý không lớn (chỉ từ 2 đến 3 đối

tượng), khả năng phân phối chú ý còn bị hạn chế nhiều, nhưng sự di chuyển chú

ý lại phát triển nhanh vì hưng phấn của chúng linh hoạt và nhạy cảm.

• Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của trẻ.

Trí nhớ của trẻ đang phát triển mạnh. Loại trí nhớ trực quan hình tượng

chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - logic. Giai đoạn này ghi nhớ máy móc phát

triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa. Nhiều HS

chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi

nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu.

Nói tóm lại, khi trẻ bắt đầu bước vào trường Tiểu học là một bước ngoặt

lớn. Môi trường thay đổi đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30

– 35 phút. Chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám

phá. Bước đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bộc phát để chuyển thành tính kỷ

luật, nề nếp, chấp hành nội quy học tập. Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vững



của các thao tác tinh khéo của đôi bàn tay để tập viết… Tất cả đều là thử thách

của trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những điều này thì phải cần có sự quan tâm

giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa

học.

(2) Sự phát triển tình cảm của trẻ.

Tình cảm của trẻ mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật,

hiện tượng sinh động, rực rỡ… Lúc này khả năng kiềm chế tình cảm của trẻ còn

non nớt. Các em dễ bị “ lây” những cảm xúc của người khác, tình cảm của trẻ dễ

thay đổi, biểu hiện dễ thấy nhất là trẻ dễ khóc cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô

tư. Tình cảm gia đình giữ vai trò quan trọng đối với trẻ. Tình bạn và tính tập thể

được hình thành và phát triển cùng với tình thầy trò.

1.5. Một số vấn đề về bài tập trắc nghiệm khách quan

1.5.1. Khái niệm

Trắc nghiệm là một hoạt động để đo lường năng lực của một đối tượng nào

đó nhằm những mục đích xác định.

Trắc nghiệm khách quan là loại hình câu hỏi, bài tập mà các phương án trả

lời đã có sẵn, hoặc nếu HS phải tự viết câu trả lời thì câu trả lời phải là câu ngắn

và chỉ duy nhất có một cách viết đúng. Trắc nghiệm này được gọi là "khách

quan" vì tiêu chí đánh giá là đơn nhất, hoàn toàn không phụ thuộc vào ý muốn

chủ quan của người chấm.

1.5.2. Ưu nhược điểm của bài tập trắc nghiệm khách quan

* Ưu điểm

+ Bài kiểm tra bằng TNKQ bao gồm rất nhiều câu hỏi nên có thể bao quát

một phạm vi rất rộng của nội dung chương trình.

+ Có tiêu chí đánh giá đơn nhất, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của

người chấm.

+ Sự phân bố điểm của các bài kiểm tra bằng TNKQ được trải trên một phổ

rộng hơn nhiều.

+ Có thể sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại trong việc chấm điểm

và phân tích kết quả kiểm tra.



* Nhược điểm

+ Không cho phép đánh giá năng lực diễn đạt của HS cũng như không cho

thấy quá trình suy nghĩ của HS để trả lời một câu hỏi hoặc giải đáp một bài tập.

+ Việc biên soạn đề kiểm tra rất khó và mất nhiều thời gian.

Trắc nghiệm khách quan được áp dụng cho nhiều mục đích khác nhau như:

- Trắc nghiệm về khả năng riêng biệt của HS nhằm mục đích phân nhóm

học sinh theo sở trường riêng của cá nhân.

- Trắc nghiệm chuẩn hóa: Theo mục đích chuẩn hóa những câu chủ yếu của

đào tạo.

- Trắc nghiệm kiến thức: Nhằm kiểm tra kiến thức của HS.

1.5.3. Các hình thức trách nhiệm khách quan

* Trắc nghiệm đúng sai

Đây là dạng câu hỏi trắc nghiệm đơn giản nhất. Phần dẫn của dạng trắc

nghiệm này trình bày một nội dung nào đó mà HS phải đánh giá là Đúng hay

Sai. Phần trả lời có hai phương án: đúng (Đ) và sai (S). Độ may rủi trong loại

câu hỏi này là 50%.

Ví dụ: Hàng xoan là từ chỉ sự vật đúng hay sai?

a, Đúng

b, Sai

+ Ưu điểm

- Đây là loại câu hỏi trắc nghiệm kiến thức về những sự kiện, vì vậy khi

viết loại câu hỏi này thường đơn giản, ít tốn công, mang tính khách quan khi

chấm.

- Có thể đưa ra nhiều nội dung trong một thời gian ngắn.

- Dễ biên soạn.

+ Nhược điểm

- Xác suất chọn được phương án đúng cao. Độ tin cậy thấp.

- Nếu dùng nhiều câu lấy từ SGK sẽ khuyến khích HS học vẹt, có nghĩa là

tạo điều kiện cho HS học thuộc lòng hơn là hiểu.



- Việc dùng nhiều câu "sai" có thể gây ra tác dụng tiêu cực trong việc ghi

nhớ kiến thức.

- Tiêu chí "Đúng, Sai" có thể phụ thuộc vào chủ quan của HS và người

chấm.

+ Phạm vi sử dụng

- Thích hợp cho việc kiểm tra vấn đáp nhanh.

-Thường sử dụng khi không tìm được đủ phương án cho câu nhiều lựa

chọn.

* Trắc nghiệm ghép đôi

Loại câu này được trình bày thành hai dãy, dãy bên trái là phần dẫn, trình

bày những nội dung muốn kiểm tra (khái niệm, định nghĩa, định luật...), dãy bên

phải là phần trả lời trình bày các nôi dung (câu, mệnh đề, công thức...) phù hợp

với nội dung phần dẫn. Đòi hỏi HS phải ghép đúng từng cặp nhóm từ ở hai cột

sao cho phù hợp về nội dung. Để tránh sự đoán mò của HS, người ta thường để

số câu lựa chọn ở bên phải lớn hơn số câu dẫn ở bên trái.

Ví dụ: ( Tuần 26- Chủ điểm: Lễ hội- BT1-Tr70- Tập 2): Chọn nghĩa thích

hợp ở cột B cho các từ ở cột A

A

Lễ

Hội

Lễ hội



B

Hoạt động tập thể có cả phần lễ và phần hội

Cuộc vui tổ chức cho đông người dự theo phong tục hoặc nhân

dịp đặc biệt

Các nghi thức nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự kiện có ý

nghĩa



+ Ưu điểm

- Có thể kiểm tra nhiều nội dung trong một thời gian ngắn.

- Giúp HS tốn ít thời gian khi làm bài

+ Nhược điểm

- Dễ trả lời thông qua việc loại trừ.

- Khó đánh giá được mức độ tư duy ở trình độ cao.

- HS mất nhiều thời gian làm bài vì mỗi câu hỏi phải đọc lại toàn bộ những

câu lựa chọn, trong đó có cả những câu rõ ràng là không thích hợp.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN

Tải bản đầy đủ ngay(98 tr)

×