Tải bản đầy đủ - 110 (trang)
2 NHU CẦU MỚI VỀ KHAI THÁC DỊCH VỤ VIỄN THÔNG

2 NHU CẦU MỚI VỀ KHAI THÁC DỊCH VỤ VIỄN THÔNG

Tải bản đầy đủ - 110trang

cho những người chưa có kinh nghiệm ngược lại với những người đã có kinh

nghiệm, và cung cấp một môi trường thống nhất cho các dạng thông tin.

1.2.1.2 Linh hoạt về điểm khai thác dịch vụ

Mục tiêu đặt ra là khách hàng có thể lấy thông tin họ muốn ở bất kỳ dạng

nào, trong bất kỳ điều kiện nào, tại mọi nơi và dung lượng tùy ý.

Liên lạc thông tin rộng khắp, thời gian thực, đa phương tiện, đảm bảo độ tin

cậy, thân thiện trong việc liên kết các thuê bao, truy nhập tốc độ cao và truyền tải

thông tin với bất kỳ phương tiện nào, vào mọi lúc, tại mọi nơi,...

Giải pháp của mạng Internet đơn giản là sử dụng các thiết bị đầu cuối thuê

bao CPE (Customer Premise Equipment) tiên tiến như PC, điện thoại thông minh

(smart phone), settop-box,... Dịch vụ được thực hiện tại các hệ thống đầu cuối.

Các xí nghiệp, các công ty phần mềm và một số trường Đại học, trung học sẽ

phát triển các ứng dụng và tải chúng từ mạng Internet đến các thiết bị CPE. Các

yêu cầu đối với mạng truyền tải công cộng là tính tin cậy và băng thông truyền

dẫn cao.

Các dịch vụ trên nền mạng có nhiều ưu điểm. Với một số nhỏ các dịch vụ

đơn giản không yêu cầu làm việc giữa khách hàng với nhau, các dịch vụ trên nền

CPE có thể hiệu quả. Tuy nhiên, khi số lượng khách hàng làm việc với nhau

tăng, các dịch vụ trên nền mạng tỏ ra có nhiều lợi thế hơn. Ví dụ, các ứng dụng

trên nền mạng linh hoạt hơn và có khả năng mở rộng hơn so với các dịch vụ trên

nền CPE. Với các ứng dụng trên nền CPE, thiết bị CPE cần phải tinh vi, phức

tạp hơn, do đó việc chi phí tốn kém hơn để đảm bảo các yêu cầu về các ứng dụng

tiên tiến hơn. Giải pháp trên nền mạng cho phép chia sẻ tài nguyên và dễ dàng

mở rộng để đáp ứng các yêu cầu đó.

Thứ hai, dịch vụ trên nền CPE khó khăn trong việc cung cấp các dịch vụ

đối với thuê bao di động. Nếu khách hàng muốn truy nhập vào các dịch vụ của

họ tại những địa điểm khác nhau, họ cần phải mang thiết bị CPE theo hay tải

phần mềm từ vị trí mới, lãng phí thời gian và tài nguyên mạng. Với các dịch vụ

trên nền mạng, khách hàng có thể truy nhập vào các dịch vụ của họ bất kể từ vị



- 10 -



trí nào. Cuối cùng, các vấn đề khách hàng quan tâm như tính cước, quản lý cấu

hình, dự phòng và các dạng quản lý khác được xử lý dễ dàng hơn đối với các

dịch vụ trên nền mạng.

Trong khi các dịch vụ hiện tại vẫn được các nhà cung cấp giữ lại, thì khách

hàng lại sẽ hướng đến các dịch vụ đa phương tiện băng rộng và các dịch vụ

mang nhiều thông tin. Khách hàng có thể tương tác với nhau thông qua mạng

nhờ các thiết bị CPE tinh vi và có thể chọn trên phạm vi rộng chất lượng dịch vụ

(QoS) và dải tần. Trong tương lai, mạng thông minh sẽ không chỉ tạo ra các

tuyến kết nối bằng cách dựa trên cơ sở dữ liệu đơn giản mà còn có thể mang

nhiều thông tin rộng hơn như: quản lý phiên (session) đa phương tiện, các kết

nối đa công nghệ, điều khiển/quản lý thông minh, bảo mật cao, các dịch vụ chỉ

dẫn trực tuyến, các phần tử giám sát.

1.2.2 Độ tƣơng tác

Các mạng viễn thông hiện tại có đặc điểm chung là tồn tại một cách riêng

lẻ, ứng với mỗi loại dịch vụ thông tin lại có ít nhất một loại mạng viễn thông

riêng biệt để phục vụ dịch vụ đo. Mỗi mạng được thiết kế cho các dịch vụ riêng

biệt và không thể sử dụng cho các mục đích khác. Ví dụ ta không thể truyền

tiếng nói qua mạng chuyển mạch gói X.25 vì trễ qua mạng này quá lớn. Ta cần

xem xét các mạng viễn thông đang sử dụng hiện nay.

- Xét về góc độ dịch vụ thì gồm các mạng sau: mạng điện thoại cố định,

mạng điện thoại di động và mạng truyền số liệu.

- Xét về góc độ kỹ thuật bao gồm các mạng chuyển mạch, mạng truyền

dẫn, mạng truy nhập, mạng báo hiệu và mạng đồng bộ.

PSTN (Public Switching Telephone Network) là mạng điện thoại chuyển

mạch công cộng. PSTN phục vụ thoại và bao gồm hai loại tổng đài: tổng đài nội

hạt, và tổng đài tandem (tổng đài quá giang nội hạt 4). Phương pháp nâng cấp

các tandem là bổ sung cho mỗi nút một ATM. Các ATM sẽ cung cấp dịch vụ



- 11 -



băng rộng cho thuê bao, đồng thời hợp nhất các mạng số liệu hiện nay vào mạng

chung ISDN. Các tổng đài cấp 1 (đường trục) là các tổng đài loại lớn bao gồm

tổng đài chuyển tiếp và quốc tế. Các tổng đài này có kiến trúc tập trung, cấu trúc

phần mềm và phần cứng độc quyền.

ISDN (Integrated Service Digital Network) là mạng số liên kết đa dịch

vụ. ISDN cung cấp nhiều loại ứng dụng thoại và phi thoại trong cùng một mạng

và xây dựng giao tiếp người sử dụng - mạng đa dịch vụ bằng một số giới hạn các

kết nối ISDN cung cấp nhiều ứng dụng khác nhau bao gồm các kết nối chuyển

mạch và không chuyển mạch. Các kết nối chuyển mạch của ISDN bao gồm

nhiều chuyển mạch thực, chuyển mạch gói và sự kết hợp của chúng. Các dịch vụ

mới phải tương hợp với các kết nối chuyển mạch số 64 kbit/s. ISDN phải chứa

sự thông minh để cung cấp cho các dịch vụ, bảo dưỡng và các chức năng quản lý

mạng, tuy nhiên tính thông minh này có thể không đủ để cho một vài dịch vụ

mới và cần được tăng cường từ mạng hoặc từ sự thông minh thích ứng trong các

thiết bị đầu cuối của người sử dụng. Sử dụng kiến trúc phân lớp làm đặc trưng

của truy xuất ISDN. Truy xuất của người sử dụng đến nguồn ISDN có thể khác

nhau tùy thuộc vào dịch vụ yêu cầu và tình trạng ISDN của từng quốc gia. Cần

thấy rằng ISDN được sử dụng với nhiều cấu hình khác nhau tùy theo hiện trạng

mạng viễn thông của từng quốc gia.

PSDN (Public Switching Data Network) là mạng số liệu chuyển mạch

công cộng. PSDN chủ yếu cung cấp các dịch vụ số liệu. Mạng PSDN bao gồm

các PoP (Point of Presence) và các thiết bị truy nhập từ xa. Hiện nay PSDN đang

phát triển với tốc độ rất nhanh do sự bùng nổ của dịch vụ Internet và các mạng

riêng ảo (Virtual Private Network).

Mạng di động GSM (Global System for Mobile Communications) là

mạng cung cấp dịch vụ thoại tương tự như PSTN nhưng qua đường truy nhập vô

tuyến. Mạng này chuyển mạch dựa trên công nghệ ghép kênh phân thời gian và

công nghệ ghép kênh phân tần số. Các thành phần cơ bản của mạng này là: BSC

(Base Station Controller), BTS (Base Transfer Station), HLR (Home Location



- 12 -



Register), VLR (Visitor Location Register) và MS (Mobile Subscriber). Hiện

nay các nhà cung cấp dịch vụ thu được lợi nhuận phần lớn từ các dịch vụ như

đường dây thuê riêng, chuyển tiếp khung, ATM và các dịch vụ kết nối cơ bản.

Tuy nhiên xu hướng giảm lợi nhuận từ các dịch vụ này bắt buộc các nhà khai

thác phải tìm dịch vụ mới dựa trên IP để đảm bảo lợi nhuận lâu dài. Mạng riêng

ảo (VPN) là một hướng đi của các nhà khai thác. Các dịch vụ dựa trên nền IP

cung cấp kết nối giữa một nhóm các user xuyên qua mạng hạ tầng công cộng.

VPN có thể đáp ứng các nhu cầu của khách hàng bằng các kết nối dạng any-toany, các lớp đa dịch vụ, các dịch vụ giá thành quản lý thấp, riêng tư, tích hợp

xuyên suốt cùng với các mạng Intranet/Extranet. Một nhóm các user trong

Intranet và Extranet có thể hoạt động thông qua mạng có định tuyến IP. Các

mạng riêng ảo có chi phí vận hành thấp hơn hẳn so với mạng riêng trên phương

tiện quản lý, băng thông và dung lượng. Hiểu một cách đơn giản, VPN là một

mạng mở rộng tự quản như một sự lựa chọn cơ sở hạ tầng của mạng WAN. VPN

có thể liên kết các user thuộc một nhóm kín hay giữa các nhóm khác nhau. VPN

được định nghĩa bằng một chế độ quản lý. Các thuê bao VPN có thể di chuyển

đến một kết nối mềm dẻo trải dài từ mạng cục bộ đến mạng hoàn chỉnh. Các thuê

bao này có thể dùng trong cùng (Intranet) hoặc khác (Extranet) tổ chức. Tuy

nhiên cần lưu ý rằng hiện nay mạng PSTN/ISDN vẫn đang là mạng cung cấp các

dịch vụ dữ liệu.

Trong môi trường có sự tích hợp của nhiều loại dịch vụ, phạm vi thị trường

của các dịch vụ có thể sử dụng được mở rộng một cách lớn mạnh gồm các loại

hình dịch vụ khác nhau và mạng liên kết thông minh. Môi trường xử lý phân tán

(DPE: Distributed Processing Environment) sẽ giải phóng tính thông minh từ các

phần tử vật lý trên mạng. Do vậy, tính thông minh của mạng có thể được phân

tán đến các vị trí thích hợp trong mạng hoặc nếu có thể, đến CPE. Ví dụ, khả

năng thông minh của mạng có thể nằm ở các server cho một dịch vụ nào đó, trên

các server này thực hiện các chức năng cụ thể (ví dụ như các điểm điều khiển

dịch vụ SCP, các nút (node) dịch vụ trong một môi trường AIN), hoặc trên các



- 13 -



thiết bị đầu cuối gần khách hàng. Các khả năng thực hiện sẽ không bị ràng buộc

trong các thành phần vật lý của mạng. [7]

Cấu trúc phân lớp chia điều khiển dịch vụ/phiên từ các phương thức truyền

tải cơ sở. Điều này cho phép các nhà cung cấp lựa chọn (cho từng trường hợp cụ

thể) các phương thức truyền tải thông tin không phụ thuộc vào phần mềm điều

khiển. Điều khiển có thể được phân tách thành điều khiển đặc tính (feature), điều

khiển dịch vụ/ phiên, điều khiển kết nối. Sự phân tách giữa truy nhập, dịch vụ

và điều khiển phiên trong lớp dịch vụ cho phép mỗi phiên được xử lý độc lập với

các phiên khác. Do đó, nhiều phiên dịch vụ có thể được bắt đầu từ một phiên

truy nhập. Tương tự, các phiên liên lạc có thể được xử lý riêng lẻ với phiên dịch

vụ nói chung mà chúng là bộ phận (bằng cách đó cho phép điều khiển cuộc gọi

và kết nối một cách riêng lẻ). Điều quan trọng nhất là các sự phân tách này cho

phép các dịch vụ được phát triển độc lập với truyền dẫn và kết nối. Do vậy, các

nhà phát triển dịch vụ có thể không cần hiểu hết các dịch vụ họ đang phát triển.

Do đó để các nhà khai thác dịch vụ viễn thông trên các mạng khác nhau có

thể tương tác với nhau cần phải: Tách lớp dịch vụ viễn thông ra khỏi tổng đài.

1.2.3 Yêu cầu phát triển dịch vụ mới

Sự gia tăng cả về số lượng và chất lượng của các nhu cầu dịch vụ ngày

càng phức tạp từ phía khách hàng đã kích thích sự phát triển nhanh chóng của

công nghệ thông tin và viễn thông. Chúng ta cần xem xét xu hướng phát triển

các dịch vụ trong tương lai.

Các dịch vụ tiên tiến ngày một phát triển nhiều hơn. Các dịch vụ này hầu

hết đều là sự kết hợp của thoại và dữ liệu. Bằng việc sử dụng các hệ thống nhận

dạng tiếng nói, bất kỳ đầu cuối nào kể cả chiếc điện thoại truyền thống cũng có

thể truy nhập các dịch vụ tiên tiến. Chẳng hạn truy nhập thoại tới Internet cho

phép thuê bao điện thoại có thể tìm kiếm một tên gọi trên sổ địa chỉ trực tuyến.

Sau khi đã tìm được tên, thuê bao có thể yêu cầu một kết nối thoại được thiết lập

chỉ đơn giản bằng cách nói một từ khóa “call”. Một ví dụ khác là khả năng biến

tiếng nói thành văn bản hay văn bản thành tiếng nói của dịch vụ UMS (Unfield



- 14 -



Message Service); các khả năng này cho phép người sử dụng có thể nghe đọc

các email và các bản fax qua máy điện thoại hoặc ngược lại, họ có thể gửi fax

hay email từ bất cứ nơi nào trên thế giới bằng một máy điện thoại.

Tính di động là một động lực then chốt của các dịch vụ tiên tiến. Sẽ không

có sự hạn chế nào đối với các đầu cuối di động. Tính “di động người dùng” cho

phép một thuê bao sử dụng bất kỳ thiết bị đầu cuối nào để truy nhập vào môi

trường dịch vụ tại nhà của họ nhằm sử dụng được tất cả các dịch vụ đã được

đăng ký. Một tính năng quan trọng của các dịch vụ tiên tiến này là chúng được

cung cấp một cách thông suốt qua các kiểu thiết bị đầu cuối khác nhau, cả di

động lẫn cố định.

Chẳng bao lâu nữa, chúng ta sẽ thấy rất nhiều dịch vụ đa phương tiện mới

(chẳng hạn như các cuộc gọi có hiện hình giữa người này và người kia, cùng sử

dụng chung tài liệu hay các cuộc gọi nhiều bên bằng tiếng nói và hình ảnh). Các

dịch vụ điện thoại chủ đạo và việc làm chủ các ứng dụng cũng đem lại nhiều

dịch vụ tiên tiến khác mà bản thân chúng lại đóng vai trò như một động lực để

tiếp tục mở rộng thị trường các dịch vụ điện thoại.

Sự phát triển của các dịch vụ truyền thông hiện nay sẽ hướng tới việc các

nhà cung cấp dịch vụ phải có sự mềm dẻo, linh hoạt để phục vụ được cả thị

trường lớn và nhỏ. Khi có nhiều phương tiện truyền tin, nhà cung cấp dịch vụ,

nhà cung cấp thiết bị và các doanh nghiệp thương mại liên quan đến việc cung cấp

dịch vụ, liên mạng và các hệ thống thương mại sẽ trở nên càng quan trọng. [1].

Mạng lưới hiện nay không thể cung cấp tất cả các yêu cầu của khách hàng,

nên cần phải có phương pháp để mở rộng dịch vụ mới. Hiện tại, thì việc cung

cấp một dịch vụ mới đều phải phụ thuộc vào tổng đài.

Mạng hiện tại thì tại một điểm cung cấp chỉ cung cấp chỉ có thể cung cấp

một loại dịch vụ mà thôi. Do đó một yêu cầu đặt ra là tại một điểm cung cấp dịch

vụ có thể cung cấp nhiều loại dịch vụ. Và giải pháp Nút truy nhập đa dịch vụ sẽ

cho phép một nhà khai thác cung cấp bất kỳ một sự kết hợp nào của thoại băng



- 15 -



hẹp và thoại băng rộng DSL và các dịch vụ số liệu cho khách hàng. Một giao

diện V.5/GR.303 cung cấp một kết nối tới các mạng điện thoại hiện có; các dịch

vụ băng rộng được hỗ trợ bởi các giao diện người dùng tạo ra kết nối tới các

mạng SDH, PDH và ATM.

Nhiều thực thể và các phần tử mạng thông minh được phân bố trên toàn

mạng. Nó bao gồm các ứng dụng cho phép truy nhập và điều khiển các dịch vụ

mạng. Nó cũng có thể thực hiện các chức năng cụ thể thay thế cho nhà cung cấp

dịch vụ hoặc mạng. Ta có thể xem nó như một tác tử quản lý có thể thực hiện

giám sát tài nguyên mạng, tập hợp các số liệu,...

Để đáp ứng sự phát triển của các dịch vụ hiện nay cần phải có giao diện và

cấu trúc mở. Đặc biệt, môi trường phát triển mở dựa trên giao diện lập trình ứng

dụng (API) sẽ cho phép các nhà cung cấp dịch vụ, các nhà phát triển ứng dụng

và các khách hàng tiềm năng tạo và giới thiệu các ứng dụng một cách nhanh

chóng. Nó cũng mở ra nhiều cơ hội để tạo ra và phân phối các dịch vụ cho nhiều

khách hàng hơn. Như vậy, khả năng cung cấp các dịch vụ mới và sáng tạo sẽ chỉ

bị giới hạn bởi chính sự sáng tạo của chúng ta mà thôi.

Do đó để đáp ứng được yêu cầu phát triển mạng thì chức năng điều khiển

phải tách ra khỏi tổng đài.

1.2.4 Yêu cầu về quản lý mạng

Hiện nay để đảm bảo truyền các dịch vụ một cách thông suốt end to end thì

cần phải thống nhất trong cách quản lý từ quản lý mạng, quản lý dịch vụ đến

quản lý kinh doanh. Do đó một mạng hiện đại phải có quản lý mạng, quản lý

dịch vụ và quản lý kinh doanh. Tất cả tạo nên một thể thống nhất, nên lớp quản

lý là lớp đặc biệt xuyên suốt 3 lớp: lớp truy nhập, lớp chuyển tải và lớp điều

khiển.

Mô hình các lớp chức năng quản lý mạng TMN do ITU đưa ra bao gồm:

- Quản lý phần tử mạng



- 16 -



- Quản lý mạng

- Quản lý dịch vụ

- Quản lý kinh doanh

So với mô hình quản lý mạng do ITU đưa ra thì các chức năng quản lý được

chú trọng đối với mạng NGN là:

- Quản lý mạng

- Quản lý dịch vụ

- Quản lý kinh doanh

Chức năng quản lý mạng xem như đã được thực hiện và hoàn thiện ở các giai

đoạn trước khi triển khai NGN [2].

Theo mô hình chung của cấu trúc mạng mới, lớp quản lý là một lớp đặc biệt

nhằm đảm bảo đáp ứng các yêu cầu của khách hàng một cách thông suốt từ đầu

cuối đến đầu cuối. Nguyên tắc quản lý như vậy được TINA-C phân tích và trình

bày chi tiết trong các tài liệu mô hình cấu trúc thông tin quản lý viễn thông.

Theo TINA, cấu trúc thông tin quản lý viễn thông được xây dựng trước hết

dựa trên mô hình kinh doanh. Nhìn từ góc độ này, một hệ thống viễn thông bao

gồm các phần cứng và phần mềm có khả năng cung cấp các dịch vụ tới các đại

diện:

- Khách hàng

- Người sử dụng

- Nhà cung cấp dịch vụ

- Các nhà cung cấp mạng (cung cấp kết nối).

Do đó, Quản lý mạng phải xuyên suốt các lớp của mạng NGN.

1.2.5 Những bất cập của mạng thế hệ hiện nay

Mạng PSTN hiện tại dựa trên nền tảng công nghệ TDM và hệ thống báo

hiệu số 7. Về cơ bản mạng này mạng hiện nay vẫn có khả năng cung cấp tốt các



- 17 -



dịch vụ viễn thông bình thường như thoại hay Fax với chất lượng khá ổn định,

tuy nhiên nhu cầu của bản thân nhà cung cấp dịch vụ lẫn khách hàng ngày càng

tăng làm bộc lộ những hạn chế không thể khắc phục được của mạng hiện tại.

Ngày nay thị trường viễn thông trong nước và thế giới đang ở trong cuộc

cạnh tranh quyết liệt do việc xóa bỏ độc quyền nhà nước (Deregulation) mở cửa

tự do cho tất cả các thành phần kinh tế. Các nhà cung cấp dịch vụ đang phải

đứng trước sức ép giảm giá thành đồng thời tăng chất lượng dịch vụ. Sự xuất

hiện dịch vụ Internet và sự phát triển bùng nổ của nó dẫn đến những sự thay đổi

đột biến về cơ sở mạng buộc các nhà cung cấp dịch vụ phải “thay đổi tư duy”.

Dưới đây là một số hạn chế của mạng hiện tại:

a. Cứng nhắc trong việc phân bổ băng thông

Mạng PSTN dựa trên công nghệ TDM trong đó đường truyền được phân

chia thành các khung cố định là 125 s. Mỗi khung được chia thành các khe thời

gian (Timeslot). Kênh cơ sở được tính tương đương với một khe thời gian tức là

64 kbit/s. Điều này dẫn đến một số bất lợi, ví dụ như đối với nhiều loại dịch vụ

đòi hỏi băng thông thấp hơn thì cũng không được, hay như đối với các dịch vụ

có nhu cầu băng thông thay đổi thì TDM cũng không thể đáp ứng được. Cuộc

gọi TDM được phân bổ lượng băng thông cố định (N x 64 kbit/s) và các khe thời

gian này được chiếm cố định trong suốt thời gian diễn ra kết nối dẫn đến lãng

phí băng thông. Chuyển mạch gói quản lý băng thông mềm dẻo theo nhu cầu

dịch vụ cho nên rất tiết kiệm băng thông. [7]

b. Khó khăn cho việc tổ hợp mạng

Mạng ngày nay cung cấp các loại dịch vụ viễn thông khác nhau như thoại,

dữ liệu hay video trên các mạng tách biệt nhau. Mỗi mạng lại yêu cầu phương

pháp thiết kế, sản xuất, vận hành, bảo dưỡng khác nhau. Đặc biệt mỗi mạng chỉ

truyền được các dịch vụ độc lập riêng. Tài nguyên sẵn có trong một mạng không

thể chia sẻ cho các mạng khác cùng sử dụng. Nỗ lực tổ hợp tất cả các mạng này

thành một mạng duy nhất được thực hiện từ những năm 80 với mô hình mạng



- 18 -



ISDN băng hẹp vẫn dựa trên nền công nghệ TDM, xong cũng gặp phải một số

khó khăn như tốc độ thấp, thiết bị mạng cồng kềnh, phức tạp, ý tưởng mạng

ISDN băng rộng dựa trên nền công nghệ ATM được đưa ra có vẻ như quá đắt đỏ

đối với người tiêu dùng. Vả lại ATM cũng không linh hoạt khi hoạt động ở tốc

độ thấp.

c. Khó khăn trong việc cung cấp dịch vụ mới, thiếu tính mềm dẻo

Trong mạng PSTN, toàn bộ phần “thông minh” của mạng đều tập trung ở

các tổng đài. Một dịch vụ mới được triển khai bắt đầu từ tổng đài đến đến sự

thay đổi phần mềm đôi khi cả phần cứng của tổng đài, điều này rất phức tạp và

tốn kém. Nhu cầu khách hàng không ngừng tăng, nhiều loại dịch vụ mới không

thể thực hiện trên nền mạng TDM. Sự ra đời của các công nghệ mới ảnh hưởng

mạnh mẽ tới tốc độ truyền tín hiệu. Ngoài ra, sẽ xuất hiện nhiều dịch vụ truyền

thông trong tương lai mà hiện nay chưa dự đoán được, mỗi loại dịch vụ sẽ có tốc

độ truyền khác nhau. Ta dễ dàng nhận thấy mạng hiện tại sẽ rất khó thích nghi

với những đòi hỏi này.

d. Đầu tư cho mạng PSTN lớn, không linh hoạt trong việc mở rộng hệ thống.

Vốn đầu tư tập trung tại các trung tâm chuyển mạch

Thực tế đầu tư cho các thiết mạng PSTN rất lớn (so với mạng IP). Các tổng

đài thường rất đắt, cần phải đầu tư cả cục. Chi phí nhân công cho việc vận hành,

bảo dưỡng mạng rất cao. Kém hiệu quả trong việc bảo dưỡng, vận hành. Các

chức năng phần cứng và phần mềm cũng tập trung tại các tổng đài nên phức tạp

khi thay đổi. Mạng có nhiều cấp gây phức tạp trong việc phối hợp hệ thống báo

hiệu, đồng bộ và việc triển khai dịch vụ mới. Phức tạp trong việc thiết lập Trung

tâm quản lý mạng, hệ thống tính cước, chăm sóc khách hàng v.v... Mặt khác,

mạng viễn thông hiện nay được thiết kế nhằm mục đích khai thác dịch vụ thoại

là chủ yếu. Do đó, đứng ở góc độ này, mạng đã phát triển tới một mức gần như

giới hạn về sự cồng kềnh và mạng tồn tại một số khuyết điểm cần khắc phục.

e. Giới hạn trong phát triển mạng



- 19 -



Các tổng đài chuyển mạch nội hạt đều sử dụng kỹ thuật chuyển mạch kênh,

trong đó các kênh thoại đều có tốc độ 64 kbit/s. Quá trình báo hiệu và điều khiển

cuộc gọi liên hệ chặt chẽ với cơ cấu chuyển mạch.

Ngày nay, những lợi ích về mặt kinh tế của thoại gói đang thúc đẩy sự phát

triển của cả mạng truy nhập và mạng đường trục từ chuyển mạch kênh sang gói.

Và bởi vì thoại gói đang dần được chấp nhận rộng rãi trong cả mạng truy nhập

và mạng đường trục, các tổng đài chuyển mạch kênh nội hạt truyền thống đóng

vai trò cầu nối của cả hai mạng gói này. Việc chuyển đổi gói sang kênh phải

được thực hiện tại cả hai đầu vào ra của chuyển mạch kênh, làm phát sinh những

chi phí phụ không mong muốn và tăng thêm trễ truyền dẫn cho thông tin, đặc

biệt ảnh hưởng tới những thông tin nhạy cảm với trễ đường truyền như tín hiệu

thoại.

Nếu tồn tại một giải pháp mà trong đó các tổng đài nội hạt có thể cung cấp

dịch vụ thoại và các dịch vụ tuỳ chọn khác ngay trên thiết bị chuyển mạch gói, thì

sẽ không phải thực hiện các chuyển đổi không cần thiết nữa. Điều này mang lại lợi

ích kép là làm giảm chi phí và tăng chất lượng dịch vụ (giảm trễ đường truyền), và

đó cũng là một bước quan trọng tiến gần tới cái đích cuối cùng, mạng NGN.

g. Không đáp ứng được sự tăng trưởng nhanh của các dịch vụ dữ liệu

Ngày nay dịch vụ Internet phát triển với tốc độ chóng mặt, lưu lượng

Internet tăng với cấp số nhân theo từng năm và triển vọng sẽ còn tăng mạnh vào

những năm sau trong khi lưu lượng thoại cố định dường như có xu hướng bão

hòa thậm chí giảm ở một số nước phát triển. Internet đã thâm nhập vào mọi góc

cạnh của đời sống xã hội với nhiều ý tưởng rất mới như: đào tạo từ xa, y tế từ xa,

chính phủ điện tử hay tin học hóa xã hội vv... Sự bùng nổ lưu lượng thông tin đã

khám phá sự kém hiệu quả của chuyển mạch kênh TDM. Chuyển mạch kênh

truyền thống chỉ dùng để truyền các lưu lượng thoại có thể dự đoán trước, và nó

không hỗ trợ lưu lượng dữ liệu tăng đột biến một cách hiệu quả. Khi lượng dữ



- 20 -



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 NHU CẦU MỚI VỀ KHAI THÁC DỊCH VỤ VIỄN THÔNG

Tải bản đầy đủ ngay(110 tr)

×