Tải bản đầy đủ - 117 (trang)
1 Khái quát về SIP

1 Khái quát về SIP

Tải bản đầy đủ - 117trang

Trang 47/118



 Server: nhạn các yêu cầu của SIP rồi phản hồi đáp ứng lại thay cho

ngƣời dùng. Nó đóng vai trò nhƣ tác nhân ngƣời dùng đƣợc gọi.

o Các máy phục vụ mạng (Network Servers)

Có hai loại Server mạng SIP, đó là: Proxy Server và Redirect Server.

 Proxy Server đóng vai trò đại diện cho các client. Proxy server mang

chức năng của cả server và client (máy khách). Nó dịch và viết lại

phần mào đầu của thông điệp yêu cầu trƣớc khi gửi chúng đi tới các

server khác. Việc viết lại mào đầu làm cho Proxy Server có vai trò nhƣ

nơi tạo ra yêu cầu và đảm bảo các thông điệp phúc đáp sẽ quay lại

Proxy Server thay vì tới Client.

 Redirect Server: nhận các thông điệp yêu cầu SIP và gửi lại client, các

thông điệp này bao gồm địa chỉ của server kế tiếp. Redirect Server

không tiếp nhận cuộc gọi cũng nhƣ không xử lý hay chuyển tiếp thông

điệp yêu cầu SIP.

o Đánh địa chỉ (Addressing):

Địa chỉ SIP hay còn gọi là địa chỉ định vị tài nguyên tổng quan URL

(SIP Univeral Resource Locator) đƣợc đánh theo dạng sau: user@hosts

(ngƣời_sử_dụng@máy_chủ) giống nhƣ địa chỉ thƣ điện tử (email address), SIP

URL đƣợc xác định qua user@hosts, phần user của địa chỉ có thể là tên ngƣời sử

dụng hoặc số điện thoại ngƣời sử dụng còn phần hosts có thể là tên miền hoặc địa

chỉ mạng.

Ví dụ SIP: ciscopress@cisco.com

SIP: 4085262222@171.171.1711

o Định vị máy phục vụ (Locating a server):

Một máy khách client có thể gửi một thông điệp yêu cầu SIP theo hai cách

sau: trực tiếp với 1 proxy server nội hạt đã đƣợc cấu hình với nó hoặc tới địa chỉ IP

với cổng tƣơng ứng địa chỉ SIP URL. Theo cách thứ nhất gửi một thông điệp yêu

cầu SIP tƣơng đối dễ dàng. Còn theo cách thứ hai sẽ gặp một số rắc rối vì những

nguyên sau:

 Client phải xác định đƣợc địa chỉ IP số hiệu cổng của Server mà thông

điệp sẽ tới.

 Nếu số hiệu cổng (port number) chƣa đƣợc liệt kê trong địa chỉ yêu cầu

SIP URL thì cổng mặc định là 5060.



Trang 48/118



 Nếu loại giao thức (protocol type) chƣa đƣợc liệt kê trong SIP URL,

client phải cố gắng liên kết với server thông qua giao thức UDP sau đó

là TCP.

 Tiếp theo, client truy vấn DNS Server (Domain Name System: máy

phục vụ hệ thống tên miền) để tìm ra địa chỉ IP của Server đích. Nếu

không tìm đƣợc địa chỉ này, client không thể định vị đƣợc server và do

đó không thể gửi đi thông điệp yêu cầu.

o Giao dịch SIP (SIP Transaction):

Sau khi phân tích địa chỉ, client gửi các thông điệp yêu cầu (request) tới

server và nhận lại một hoặc nhiều thông điệp đáp ứng (response).Mọi yêu cầu và

đáp ứng có liên quan tới cùng một hoạt động (activity) đều là một phần của giao

dịch SIP. Để cho đơn giản và nhất quán, các trƣờng trong phần mào đầu (header)

của các thông điệp yêu cầu phải phù hợp với các trƣờng trong phần mào đầu của

các thông điệp đáp ứng.[7]

Các giao dịch SIP có thể đƣợc truyền đi trong các gói UDP hoặc TCP. Nếu

sử dụng gói TCP, mọi thông điệp yêu cầu và đáp ứng liên quan đến phiên giao dịch

SIP có thể đƣợc truyền trên cùng một kết nối. Hơn nữa, các giao dịch SIP riêng biệt

cũng có thể đƣợc truyền qua cùng một kết nối TCP. Nếu dùng UDP, thông điệp đáp

ứng gửi tới địa chỉ lấy từ phần mào đầu của thông điệp request.

o Định vị ngƣời sử dụng (locating a user):

Trong thực tế một user đích có thể di chuyển từ một endsystem (hệ thống

cuối) tới nhiều endsystem khác, ví dụ: một user có thể di chuyển từ một mạng LAN

độc lập về nhà thông qua một kết nối tới ISP (Internet Service Provider: nhà cung

cấp dịch vụ Internet) hoặc qua kết nối Internet công cộng (public internet) trong khi

đang tham gia hội nghị.

Tuy nhiên, để định vị các dịch vụ, SIP cần điều tiết tính mềm dẻo và tính di

động của các hệ thống IP. Vị trí các hệ thống cuối này có thể đƣợc đăng ký với một

SIP server hoặc với các server định vị khác bên ngoài phạm vi của SIP. Theo cách

sau, SIP lƣu trữ danh sách các vị trí dựa trên các server định vị, các server này có

thể phàn hồi lại danh sách các host (máy chủ) thích hợp (multihost possibility).

Việc định vị và kết quả của việc định vị một user phụ thuộc loại SIP server

đang đợc sử dụng. Một SIP redirect server chỉ đơn giản gửi lại toàn bộ danh sách

các vị trí và cho phép client định vị user một cách trực tiếp, còn một SIP Proxy

Server sẽ thử các địa chỉ một cách song song cho tới khi cuộc gọi hoàn thành.[7]



Trang 49/118



2.2 Các thông điệp SIP (SIP messages)

Các thông điệp SIP (SIP messages)

Có hai loại thông điệp SIP, đó là: thông điệp yêu cầu (request) do các client

tạo ra và thông điệp đáp ứng (response) do các server đáp ứng lại. Phần mào đầu

(header) của các thông điệp này sẽ mô tả chi tiết sự thông tin. SIP là giao thức dựa

trên các ký tự văn bản (text-based protocol) với cú pháp và các trƣờng có trong

phần mào đầu của thông điệp giống hệt giao thức truyền siêu văn bản HTTP

(HyperText Transfer Protocol). Các thông điệp SIP đƣợc truyền đi trên cùng kết nối

TCP hoặc UDP.[7]

o Các mào đầu thông điệp SIP (message headers)

Các mào đầu của thông điệp đƣợc dùng để xác định bên gọi, bên nhận,

tuyến và xác định loại thông điệp của cuộc gọi. Sau đây là 4 nhóm mào đầu của các

thông điệp SIP:

 Mào đầu chung (General Header): áp dụng cho các thông điệp yêu cầu

(request) và đáp ứng (response).

 Mào đầu thực thể (Entity Header): xác định thông tin về loại thân

thông điệp và chiều dài.

 Mào đầu thông điệp yêu cầu (Request Headers): cho phép các client

đƣa thêm vào các thuộc tính yêu cầu.

 Mào đầu thông điệp đáp ứng (Response Headers): cho phép các server

đƣa thêm vào các thông điệp đáp ứng.

General Headers



Entity Headers



Request Headers



Response Headers



Accept



ContentEncoding



Authorization



Allow



Accept-Encoding



Content-Length



Contact



Proxy-Authenticate



Accept-Language



Content-Type



Hide



Retry-After



Call-ID



Max-Forward



Server



Contact



Organization



Unsupported



Cseq



Priority



Warning



Trang 50/118



Date



Proxy- Authorization



Encryption



Proxy-Require



Expires



Route



From



Require



Record-Route



Response-Key



Timestamp



Subject



To



www- Authenticate



User-Agent



Via



Bảng 1: Các thông điệp mào đầu SIP







Các yêu cầu thông điệp (message requests)



SIP cung cấp 6 loại thông điệp yêu cầu. Các thông điệp này thực chất tƣơng

ứng với các phƣơng pháp cho phép các user-agent và các server mạng định vị, mời

(invite) và quản lý các cuộc gọi.

 Thông điệp mời (INVITE): chỉ ra một ngƣời sử dụng hoặc một dịch vụ

đƣợc mời tham gia vào phiên. Nó bao gồm sự mô tả phiên và nếu là

cuộc gọi hai chiều, bên gọi sẽ phải mô tả phƣơng thức truyền thông

trong thông điệp này. Một thông điệp đáp ứng thành công (successful

response) tới hai bên tham gia cuộc gọi (two-part Invite) sẽ mang

thông tin về phƣơng thức truyền thông mà bên đích dùng để nhận

thông tin. Theo phƣơng pháp đơn giản này, bên gọi có thể nhận ra

đƣợc các khả năng của bên nhận và qua đó hai bên sẽ mở phiên hội

thoại vơí số lƣợng giới hạn các thông điệp và chu kỳ truyền tin (round

trip). [7]

 Thông điệp phúc đáp (ACK): các thông điệp phúc đáp này tƣơng ứng

với thông điệp yêu cầu INVITE. Chúng chỉ ra sự xác nhận (confirm)

cuối cùng từ hệ thống cuối và kết thúc sự giao dịch do lệnh INVITE

khởi tạo.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Khái quát về SIP

Tải bản đầy đủ ngay(117 tr)

×