Tải bản đầy đủ - 129 (trang)
Chương 3: Vai trò của công tác xã hội trong việc đẩy mạnh và phát huy hiệu quả xóa đói giảm nghèo.

Chương 3: Vai trò của công tác xã hội trong việc đẩy mạnh và phát huy hiệu quả xóa đói giảm nghèo.

Tải bản đầy đủ - 129trang

đình. Trước đây, những gia đình nghèo như chúng tôi bao năm cố gắng vẫn

nghèo, chỉ mong có ngày thoát nghèo để sống bằng mặt bằng chung của xã.

Qua 2 năm nhận được sự giúp đỡ và làm theo phương pháp mới, gia đình tôi

đã thoát nghèo và vươn lên. Mức thu nhập bình quân năm 2012 là 25 triệu

đồng/ người. Gia đình tôi và nhiều gia đình khác không chỉ thoát nghèo mà có

điều kiện giúp đỡ các gia đình khác để cùng nhau phát triển. Tôi luôn mong

muốn các hoạt động trợ giúp bây giờ luôn được duy trì để giúp đỡ nhiều hộ gia

đình khác”

(Phỏng vấn cô Ng. T. Nh, 52 tuổi, xóm 9A xã Hải Phong tháng 6 năm

2013)

Qua nghiên cứu tại địa bàn, thật khó để có thể kết luận đƣợc một con số

định lƣợng về đóng góp của cán bộ công tác xã hội và vai trò của công tác xã

hội vào hoạt động xóa đói giảm nghèo tại xã Hải Phong nhƣng theo ông T.T.

X cho rằng: “Mức độ đóng góp về kinh tế, vào tổng thu nhập bình quân đầu

người của các hoạt động này so với các hoạt động kinh tế khác trong toàn xã

là không lớn nhưng những sự trợ giúp này đã tạo sự chuyển biến về nhận thức

của các gia đình và của cả cộng đồng, qua đó huy động được sự tham gia của

các gia đình nghèo, họ có ý thức vươn lên thoát nghèo. Điểm nổi bật nhất của

các hoạt động này là hướng đến các đối tượng yếu thế, các gia đình nghèo,

giúp tăng cơ hội cho họ, điều mà các hoạt động kinh tế khác chưa làm

được.Những hoạt động này hướng đến sự phát triển bền vững bằng việc cung

cấp, kiến thức kỹ năng làm kinh tế cho gia đình nghèo,bên cạnh đó là những

hoạt động nâng cao mức sống cho người dân. Thông qua các hoạt động này

những cán bộ đi học theo Đề án 32 sẽ có cơ hội vận dụng các kiến thức kỹ

năng được học vào thực tế của địa phương từ đó rút kinh nghiệm và có những

giải pháp phù hợp hơn trong công việc chuyên trách của mình…”. ( Phỏng vấn

sâu tháng 6 năm 2013). Ông kết luận rằng sau gần 3năm có nhân viên công tác



76



xã hội hoạt động đã có nhiều sự thay đổi đáng ghi nhận, tuy không tránh khỏi

những mặt hạn chế nhƣng nhìn chung các hoạt động công tác xã hội đã phát

huy đƣợc vai trò của mình trong quá trình hoạt động trên quan điểm “vì sự

phát triển bền vững”, “đóng góp một phần quan trọng trong công tác xóa đói

giảm nghèo tại địa phương”

Trong báo cáo tổng kết công tác 6 tháng đầu năm của Ủy ban nhân dân xã

cũng khẳng định: “Hoạt động công tác xã hội đã đóng một vai trò hết sức quan

trọng không thể thiếu trong công tác xóa đói giảm nghèo trong những năm vừa

qua”. Rõ ràng tuy hoạt động xóa đói giảm nghèo tại địa phƣơng là nhiệm vụ

của cả bộ máy chính quyền và nhân dân nhƣng có thể khẳng định rằng công tác

xã hội đã có sự đóng góp quan trọng trong mục tiêu chung này, đặc biệt là đối

với gia đình nghèo.

3.2. Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động xóa đói giảm

nghèo tại xã Hải Phong.

Xét trên khía cạnh chính sách và pháp luật thì việc trợ giúp ngƣời nghèo

có sự tham gia của rất nhiều cơ quan khác nhau, kết hợp với nhau để tngƣời

nghèo đƣợc trợ giúp một cách tốt nhất. Các dự chƣơng trình xóa đói giảm

nghèo đã đƣợc triển khai, nên việc trợ giúp ngƣời nghèo nhận đƣợc sự quan

tâm của một số tổ chức xã hội, chính quyền địa phƣơng, và các tổ chức đoàn

thể nhƣ thanh niên, hội phụ nữ, Ủy ban mặt trận tổ quốc, và rất cần thiết phải

có một nhân viên cộng đồng chịu trách nhiệm theo dõi, giám sát trực tiếp quá

trình trợ giúp các gia đình nghèo phát triển kinh tế, cũng nhƣ kịp thời phát

hiện, đánh giá và tổng kết số lƣợng hộ nghèo để có hƣớng giải quyết phù hợp.

Hiện nay, nhân viên công tác xã hội là ngƣời sống trong cộng đồng, gần gũi

với cộng sống của ngƣời nghèo, ngƣời sẽ hiểu đƣợc những khó khăn mà

ngƣời nghèo phải đối mặt trong cuộc sống, cũng nhƣ là ngƣời hiểu đƣợc các

nguồn lực sẵn có ở địa phƣơng để có thể tiến hành cách hoạt động trợ giúp có



77



hiệu quả. Nhân viên cộng đồng đóng vai trò then chốt trong các dự án xóa đói

giảm nghèo dựa vào cộng đồng.

Đối với địa bàn nghiên cứu Nhân viên xã hội là cán bộ Lao động, thƣơng

binh và xã hội, là ngƣời công tác trong các cơ quan nhà nƣớc, chịu trách

nhiệm các vấn đề liên quan đến xóa đói giảm nghèo. Nói một cách chính xác,

việc ngƣời nghèo ở cộng đồng có đƣợc hỗ trợ, tiếp cận với các dịch vụ xã hội

hay không phục thuộc rất nhiều vào thái độ, trách nhiệm của ngƣời cán bộ

này, nhiệm vụ chính của của ngƣời cán bộ này hoạt động nhƣ một nhân viên

xã hội ở cộng đồng, là ngƣời rà soát số lƣợng hộ nghèo có ở địa bàn, từ đó có

những hoạt động trợ giúp thích hợp.

Các chƣơng trình xóa đói giảm nghèo theo chính sách của Đảng và Nhà

nƣớc, chƣơng trình xóa đói giảm nghèo dựa vào cộng đồng đã giúp đỡ rất

nhiều ngƣời nghèo có điều kiện phát triển kinh tế hộ gia đình, làm thay đổi

cuộc sống của ngƣời nghèo cả về vật chất lẫn tinh thần, làm thay đổi bộ mặt

nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Nhân viên xã hội đã có những hoạt

động cụ thể nhằm trợ giúp ngƣời nghèo đƣợc hƣởng các ƣu đãi của Nhà nƣớc

cũng nhƣ giúp họ tiếp cận đƣợc với các nguồn lực để phát triển kinh tế gia

đình.

Nhân viên công tác xã hội, cụ thể là cán bộ Lao động, thƣơng binh và xã

hội của xã đã kết hợp với các đoàn thể chính trị, cùng với các trƣởng xóm

trong địa bàn xã triển khai công tác sàng lọc và kê khai các hộ nghèo theo

Quyết định S ố: 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/1/2011 của Thủ tƣớng Chính phủ

“Về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn

2011- 2015”; lập danh sách những hộ nghèo, từ đó hỗ trợ gia đình có đƣợc

nguồn hỗ trợ từ nhà nƣớc.

Vấn đề sàng lọc các hộ nghèo là quan trọng nhất tuy nhiên theo tìm hiểu

của ngƣời nghiên cứu thì từ trƣớc năm 2011, vấn đề sàng lọc các hộ nghèo



78



chủ yếu dựa trên tiêu chí bình bầu tại cơ sở xóm nên gây nhiều khó khăn

trong quản lý, đặc biệt là làm trái các quy định của các văn bản pháp luật

đƣợc quy định trƣớc đó. Những ngƣời thực hiện công tác sàng lọc hộ nghèo

tại cơ sở này đều là những ngƣời không có kiến thức đầy đủ về các tiêu chí

đánh giá hộ nghèo, thậm chí họ chƣa từng đƣợc tập huấn trƣớc khi triển khai.

Vì ngƣời trực tiếp lập danh sách là các trƣởng xóm, những ngƣời này qua quá

trình quan sát trong hoạt động sinh hoạt hằng ngày của hộ gia đình để đi đến

kết luận đó có phải gia đình nghèo hay không, đôi khi vì nể nang mối quan

hệ thân tình, họ hàng mà làm không đúng. Thực chất họ cũng không nhận

thức đƣợc thế nào là hộ nghèo. Có hiện tƣợng này xảy ra vì trƣớc khi triển

khai sàng lọc họ không đƣợc tham gia tập huấn về các vấn đề liên quan đến

nghèo đói. Dƣới con mắt của những ngƣời làm công tác sàng lọc này,hộ

nghèo là hộ có điều kiện kinh tế khó khăn có thể nhìn thấy bằng mắt thƣờng

nhƣ nhà cũ, có ngƣời ốm lâu năm, vật dụng sinh hoạt….,. Chính vì vậy mà

một số hộ nghèo đã bị bỏ qua, khiến các hộ gia đình bị bỏ qua này không

đƣợc nhận sự ƣu đãi chủa nhà nƣớc về giáo dục, y tế…

Từ năm 2011 đến nay, Cán bộ lao động thƣơng binh và xã hội đƣợc đi

đào tạo nâng cao chuyên môn theo Quyết định Số: 32/2010/QĐ-TTg ngày

25/3/2010 của Thủ tƣớng Chính phủ đã trở lại làm việc tại địa phƣơng.

Ngƣời cán bộ này sẽ có trách nhiệm tập huấn, cung cấp các tiêu chí đánh giá

hộ nghèo theo quy định hiện hành, giám sát và tổng hợp các kết quả từ các

xóm sau đó so sánh đối chiếu lại và lập danh sách hộ nghèo trên địa bàn toàn

xã. Nhờ có cách làm việc nhƣ vậy nên không bỏ sót đối tƣợng đảm bảo quyền

lợi cho ngƣời nghèo.

Danh sách của những ngƣời nghèo đƣợc cán bộ lao động, thƣơng binh

và xã hội báo cáo lên Phòng lao động thƣơng binh xã hội của huyện. Xác

nhận này giúp ngƣời nghèo nhận đƣợc những ƣu đãi của nhà nƣớc.



79



Thực hiện sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân xã, cán bộ công tác xã hội

còn xây dựng chƣơng trình để hộ nghèo có điều kiện tiếp cận đƣợc nguồn vốn

phát triển kinh tế. Nhân viên công tác xã hội tuyên truyền, vận động hộ nghèo

vay vốn đầu tƣ phát triển kinh tế. Với mục tiêu ngày càng có nhiều gia đình

thoát nghèo nhờ nguồn vốn từ các nguồn quỹ hỗ trợ và Ngân hàng chính sách

xã hội đã tăng cƣờng các biện pháp huy động vốn bằng nhiều hình thức nhƣ

tuyên truyền qua phƣơng tiện thông tin đại chúng, tranh thủ các nguồn vốn

đầu tƣ hỗ trợ qua dự án quốc gia, nguồn ngân sách của địa phƣơng để bổ sung

vào nguồn vốn đã góp phần mang lại hiệu quả đáng kể trong công tác xoá đói

giảm nghèo trên địa bàn xã. Tổ chức biên soạn và tƣ vấn lƣu động sử dụng

vốn có hiệu quả; tổ chức tƣ vấn bằng văn bản về những cơ chế, chính sách có

liên quan đến đối tƣợng vay vốn, số vốn đƣợc vay và thủ tục đƣợc vay vốn ở

ngân hàng chính sách xã hội. Các hình thức tƣ vấn cho ngƣời nghèo đƣợc

thực hiện kết hợp với việc đa dạng hóa các hình thức tƣ vấn khác cho phù hợp

với tình hình thực tế của địa bàn nông thôn.

Thực hiện theo quy định của Chính phủ, và sự chỉ đạo của chính quyền

địa phƣơng, cán bộ công tác xã hội đã thực hiện các hoạt động hỗ trợ học

nghề cho ngƣời nghèo: Tổng hợp nhu cầu học nghề của ngƣời dân; đánh giá

và lựa chọn nghề, loại hình đào tạo phù hợp để xây dựng chƣơng trình và xin

kinh phí đào tạo, vận động ngƣời nghèo tích cực tham gia vào các lớp học

nghề. Cán bộ công tác xã hội kết hợp với các ban ngành, tổ chức đoàn, hội

trong xã tuyên truyền, vận động trực tiếp đến hộ nghèo các chính sách của

nhà nƣớc trong hỗ trợ đào tạo nghề cho ngƣời nghèo.

Thông qua hoạt động của mạng lƣới truyền thanh và các đoàn hội, các

chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về dạy nghề, việc làm sẽ đƣợc

tuyên truyền, vận động tại chỗ, đảm bảo tính thuyết phục, lôi cuốn đối với

ngƣời dân



80



Công tác xóa đói giảm nghèo ở địa phƣơng cũng đƣợc nhân viên xã hội

triển khai khá tốt qua việc khuyến khích các hộ gia đình phát triển kinh tế và

cùng nhau phát triển. Các mô hình làm kinh tế có hiệu quả cao, phƣơng pháp

làm kinh tế giỏi, các bài tuyên truyền về khoa học - kỹ thuật, giống mới...

Việc tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh của xãđã góp phần vào việc

nâng cao kiến thức cho ngƣời dân giúp họ phát triển kinh tế hộ gia góp phần

hạn chế tình trạng nghèo hay tái nghèo.

Nhân viên công tác xã hội đóng một vai trò quan trọng trong công tác

xóa đói giảm nghèo tại địa phƣơng. Qua nghiên cứu thực tế tại địa bàn

nghiên cứu nhân viên công tác xã hội có những vai trò nhƣ sau:

3.2.1 Vai trò là người tư vấn, tham vấn

Vai trò là ngƣời tƣ vấn: Nhân viên công tác xã hội tham gia nhƣ ngƣời

cung cấp thông tin tƣ vấn cho ngƣời nghèo cần có những thông tin nhƣ thông

tin về các chính sách ƣu đãi về miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp, các

chính sách hỗ trợ về vay vốn, đào tạo nghề đồng thời nhân viên công tác xã

hội còn tƣ vấn về cách sử dụng vốn đúng mục đích, tƣ vấn về giống, kỹ thuật

trong sản xuất cho ngƣời nghèo. Nhờ có những sự tƣ vấn đó mà ngƣời nghèo

lựa chọn đƣợc hƣớng đi phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện và nguồn lực

của hộ gia đình. Những mô hình sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao tại địa

phƣơng và trong cả nƣớc đƣợc cung cấp cho ngƣời nghèo để họ nghiên cứu

và lựa chọn cho phù hợp

Vai trò là ngƣời tham vấn: Nhân viên công tác xã hội trợ giúp gia đình

và cá nhân tự mình xem xét vấn đề, và tự thay đổi. Thay đổi cơ cấu cây trồng,

lựa chọn các mô hình sản xuất phù hợp. Nhân viên công tác xã hội cùng các

gia đình bàn bạc và tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến các gia đình làm kinh tế

chƣa đạt hiệu quả cao, nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói của gia

đình, khơi dậy các tiềm năng và thế mạn trong họ. Nhờ sự nhiệt tình và quan



81



tâm sát sao của nhân viên công tác xã hội đã có 23 gia đình chuyển đổi cơ cấu

cây trồng, chuyển từ làm ăn nhỏ lẻ phụ thuộc vào mấy sào ruộng sang làm mô

hình kinh tế trang trại. Trong số 23 hộ đã chuyển đổi đến nay đã có 15 hộ có

thu nhập trên 100 triệu đồng/ năm. Số còn lại cũng đang ổn định kinh tế và

vƣơn lên thoát nghèo.

3.2.2. Nhân viên công tác xã hội là cầu nối giữa người nghèo với các

nguồn lực để phát triển kinh tế xóa đói giảm nghèo.

Thu nhập của ngƣời nghèo chủ yếu là từ nông nghiệp. Với điều kiện

nguồn lực rất hạn chế (đất đai, lao động, vốn), thu nhập của những ngƣời

nghèo rất bấp bênh và dễ bị tổn thƣơng trƣớc những đột biến của thiên tai,

dịch bệnh, sự cạnh tranh khốc liệt của kinh tế thị trƣờng và hội nhập kinh tế

quốc tế, rủi ro trong cuộc sống. Thực tiễn đã cho thấy, một bộ phận khá lớn số

hộ nghèo vƣợt khỏi ngƣỡng nghèo, nhƣng chỉ cần gặp thiên tai, dịch bệnh, ốm

đau, hoặc biến động giá cả thì các hộ này lại dễ rơi vào tình trạng tái đói

nghèo. Nguy cơ tái nghèo có thể tăng do tác động của kinh tế thị trƣờng và

hội nhập kinh tế quốc tế; do đầu tƣ phát triển kinh tế giữa các vùng chƣa đồng

đều; cơ hội về việc làm của ngƣời nghèo càng khó khăn hơn do đổi mới công

nghệ trong sản xuất, yêu cầu về trình độ lao động ngày càng cao v.v.. Vì vậy

để xóa đói giảm nghèo mang tính bền vững giúp ngƣời nghèo chủ động vƣơn

lên thoát nghèo vững chắc, trở thành hộ khá, hộ giàu thì các chính sách, các

chƣơng trình hỗ trợ của Nhà nƣớc và cộng đồng xã hội cho ngƣời nghèo,

vùng nghèo phải giúp cho họ tăng khả năng tiếp cận các nguồn lực trong phát

triển và giảm những rủi ro khi họ gặp phải.

Nhân viên công tác xã hội nắm chắc thực tiễn, những bức xúc, tâm tƣ,

nguyện vọng của nông dân, hiểu đúng chủ chƣơng của Đảng, chính sách của

nhà nƣớc liên quan đến nông dân. Đồng thời, nghiên cứu vận dụng sáng tạo

vào điều kiện cụ thể của địa phƣơng để tham mƣu, đề xuất với cấp uỷ những



82



vấn đề cụ thể liên quan trực tiếp đến vấn đề nghèo đói, đến quyền lợi, nghĩa

vụ, trách nhiệm của ngƣời nghèo để cấp uỷ tạo điều kiện cho chƣơng trình

xóa đói giảm nghèo hoạt động có hiệu quả .

Nhân viên công tác xã hội là cầu nối để các chính sách ƣu đãi cho ngƣời

nghèo của chính quyền địa phƣơng đển đƣợc với ngƣời dân, đồng thời truyền

tải tâm tƣ nguyện vọng của ngƣời nghèo đến chính quyền. Từ đó, chính quyền

có những chính sách phù hợp hơn, tạo điều kiện cho ngƣời nghèo có cơ hội

thoát nghèo. Trong 2 năm qua, các chính sách hỗ trợ cho ngƣời nghèo của

chính quyền địa phƣơng luôn luôn đầy đủ và đáp ứng đƣợ nguyện vọng của

ngƣời dân.

Nhân viên công tác xã hội là ngƣời có đƣợc những thông tin về các

dịch vụ, chính sách và giới thiệu cho ngƣời nghèo các chính sách, dịch vụ,

nguồn tài nguyên đang sẵn có từ các cá nhân, cơ quan tổ chức để họ tiếp cận

với những nguồn lực, chính sách, tài chính, kỹ thuật để có thêm sức mạnh

trong giải quyết vấn đề.

Hỗ trợ ngƣời nghèo tiếp cận tƣ liệu và phƣơng tiện sản xuất , dịch vụ,

nâng cao thu nhập, có chính sách điều tiết lại quỹ đất cho ngƣời nghèo. Hỗ trợ

phát triển sản xuất và nhân rộng những mô trang trại làm ăn có hiệu quả để

thu hút lao động.

Tiếp cận với các nguồn vốn giá rẻ và giúp họ sử dụng nó một cách có

hiệu quả để các hộ gia đình mở rộng quy mô sản xuất và giảm chi phí sản

phẩm. Hiện nay, nhiều hộ gia đình mà đặc biệt là những hộ nghèo vẫn chƣa

có khả năng tiếp cận đƣợc các nguồn vốn vay của ngân hàng. Tuy chính sách

của Nhà nƣớc đã ngày càng chú ý vào các đối tƣợng nói trên và đƣợc thực

hiện qua ngân hàng chính sách nhƣng với nhiều lý do khác nhau nên các

chính sách đó chƣa thực sự đến đƣợc nhiều đối tƣợng cần đƣợc hƣởng. Từ

thực tế đó, nhân viên công tác xã hội là cầu nối để ngƣời nghèo có thể tiếp



83



cận đƣợc nguồn vốn vay ƣu đãi từ ngân hàng chính sách xã hội. Nhân viên xã

hội đã là cầu nối để cho 86 hộ gia đình nghèo tiếp cận đƣợc nguồn vốn vay từ

ngân hàng chính sách xã hội.

Kết hợp với các đoàn thể chính trị trên địa bàn xã tăng cƣờng tranh thủ

sự hỗ trợ các nguồn lực của trung ƣơng và các bộ ngành đƣợc phân công giúp

đỡ . Đồng thời khai thác triệt để các nguồn tài trợ cho chƣơng trình xoá đói

giảm nghèo để các hỗ trợ đó đến đƣợc với ngƣời dân.

Là cầu nối giữa cán bộ cho vay vốn và ngƣời vay vốn có thể lắng nghe,

hiểu nhau tạo điều kiện thuận lợi trong việc hỗ trợ vay và sử dụng vốn

Giúp nông dân tiếp cận với các nơi tiêu thụ sản phẩm nhƣ cung cấp các

nguồn thông tin tin cậy, ký kết hợp đồng với doanh nghiệp tiêu thụ hàng hóa

có uy tín. Nhân viên xã hội đã tìm hiểu thông tin và giới thiệu 2 doanh nghiệp

thực phẩm và xuất khẩu hàng thủ công đến tìm hiểu nguồn hàng của địa

phƣơng. Từ đó, 2 doanh nghiệp này đã trực tiếp kí kết hợp đồng với các hộ

gia đình để bao tiêu sản phẩm trong những năm qua. Sản phẩm của các hộ gia

đình đƣợc bao tiêu toàn bộ với giá thành cao hơn giá tại địa phƣơng.

Cung cấp thông tin về tiêu chuẩn an toàn vệ sinh và những đòi hỏi về

chất lƣợng của ngƣời tiêu dùng, cách đóng gói sản phẩm và đối với những sản

phẩm đặc sản của địa phƣơng cần hỗ trợ kỹ thuật để xây dựng thƣơng hiệu

mang xuất xứ địa lý.

Cung cấp các tƣ vấn và dịch vụ pháp lý cho nông dân trong trƣờng hợp

họ bị xâm phạm về quyền lợi trong trao đổi hàng hoá với các khách hàng.

3.2.3. Nhân viên công tác xã hội là nhà giáo dục.

Ngƣời nghèo có trình độ dân trí thấp, thiếu kiến thức khoa học kỹ

thuật, kỹ năng làm việc, thông tin và thiếu khả năng tiếp cận với các dịch vụ

xã hội nên đã ảnh hƣởng nhiều đến khả năng sản xuất kinh doanh và cuộc

sống của họ. Chính vì vậy hỗ trợ ngƣời nghèo về giáo dục, giúp tăng khả năng



84



tiếp cận thông tin và nâng cao trình độ kiến thức là phƣơng thức quan trọng

để giúp họ thoát khỏi nghèo đói.

Với vai trò là ngƣời giáo dục, nhân viên công tác xã hội là ngƣời cung

cấp kiến thức kỹ năng liên quan tới vấn đề xóa đói giảm nghèo, những công

việc, những khó khăn mà ngƣời nghèo cần giải quyết, nâng cao năng lực cho

cá nhân, gia đình, nhóm hay cộng đồng qua tập huấn, giáo dục cộng đồng để

họ có hiểu biết, tự tin và tự mình nhìn nhận vấn đề đánh giá vấn đề phân tích

và tìm kiếm nguồn lực cho vấn đề cần giải quyết.

Vận dụng nguyên tắc phát triển cộng đồng dựa trên cơ sở và hƣớng tới

thực hiên công bằng, bình đẳng, dân chủ: trong khi thực hiện đảm bảo sự

công bằng và phù hợp với từng hộ gia đình đƣợc trợ giúp.

Tiếp tục vận động hộ nghèo thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng,

vật nuôi theo hƣớng sản xuất hàng hoá, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ phù hợp

với đặc điểm từng vùng, từng khu vực, đồng thời nhân rộng các mô hình sản

xuất có hiệu quả kinh tế cao, xây dựng và khôi phục các làng nghề, thực hiện

sản xuất hàng hoá đáp ứng nhu cầu thi trƣờng.

Xây dựng nội dung tuyên truyền, mở các buổi tập huấn khoa học kỹ

thuật đầu bờ, hƣớng dẫn cách làm ăn, chuyển đổi các mô hình sản xuất chăn

nuôi cho các hộ nghèo, các hội mới vƣơn lên thoát nghèo nhằm chống tái

nghèo.

Khuyến khích các hộ nghèo phát triển các ngành nghề truyền thống ở

nông thôn, phát triển tiểu thủ công nghiệp, đƣa công nghiệp nhỏ vào nông

thôn để tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời nghèo.

Có các hình thức hỗ trợ ngƣời nghèo phù hợp với điều kiện và khả năng

của họ. Căn cứ vào tình hình của từng gia đình cụ thể, cũng nhƣ những nguồn

lực mà họ sẵn có, nhân viên công tác xã hội lựa chọn sự trợ giúp có hiệu quả

về vốn, khoa học kỹ thuật, vật nuôi...



85



Cung cấp thêm những thông tin về các mô hình mới có hiệu quả để cán

bộ quản lý quỹ tham khảo và áp dụng vào trong thực tế.

Vốn sản xuất có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, tuy nhiên

trong nhiều trƣờng hợp các hộ gia đình đƣợc vay vốn thì việc sử dụng lại

không có hiệu quả nên kết quả cuối cùng là vấn đề đói, nghèo vẫn không giải

quyết đƣợc. Do đó, nhân viên công tác xã hội đã căn cứ từng đặc điểm và

điều kiện cụ thể của ngƣời dân đã đƣa ra các giải pháp khác nhau để giải

quyết các cản trở trên một cách hợp tình, hợp lý.

3.2.4. Nhân viên công tác xã hội là nhà hoạch định chính sách .

Nhân viên công tác xã hội xây dựng chƣơng trình thực hiện xóa đói giảm

nghèo trên địa bàn toàn xã trình lên Ủy ban nhân dân xã. Khi xây dựng các

chƣơng trình này đã vận dụng nguyên tắc chú trọng ƣu tiên nhu cầu riêng

thiết yếu phù hợp với nhu cầu chung. Cụ thể, nhân viên công tác xã hội đã

xây dựng các chính sách ƣu đãi cho ngƣời nghèo về thuế, vốn vay, đào tạo

nghề. Tuy nhiên, những ƣu đãi này nằm trong khuôn khổ của pháp luật, các

chính sách mà nhà nƣớc và địa phƣơng đã ban hành, đảm bảo sự cân đối hài

hòa giữa các chính sách ƣu đãi cho ngƣời nghèo với các đối tƣợng khác.

Xây dựng kế hoạch thực hiện chƣơng trình xoá đói giảm nghèo chi tiết

cụ thể, đúng đối tƣợng. Các chƣơng trình phối hợp hoạt động có nội dung, kết

hoạch thực hiện cụ thể. Công tác chỉ đạo phải tập trung, có trọng tâm, dứt

điểm từng việc, xây dựng các mô hình điểm và nhân rộng điển hình tiên tiến.

Xây dựng các chính sách có sự kết hợp chặt chẽ các nguyên tắc phát

triển:

Công tác xóa đói giảm nghèo ở xã phải dần hoàn thiện và đồng bộ, phát

triển những mô hình đã đạt đƣợc, những mô hình kém hiệu quả không đầu tƣ

nữa và ngừng hoạt động.



86



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 3: Vai trò của công tác xã hội trong việc đẩy mạnh và phát huy hiệu quả xóa đói giảm nghèo.

Tải bản đầy đủ ngay(129 tr)

×