Tải bản đầy đủ - 123 (trang)
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA - LỊCH SỬ TẠI HUYỆN ĐẢO VÂN ĐỒN

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA - LỊCH SỬ TẠI HUYỆN ĐẢO VÂN ĐỒN

Tải bản đầy đủ - 123trang

CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA - LỊCH

SỬ TẠI HUYỆN ĐẢO VÂN ĐỒN



2.1. Khái quát về hoạt động du lịch tại huyện đảo Vân Đồn

Huyện đảo Vân Đồn với vị trí địa lý và tiềm năng thuận lợi cho phát triển du

lịch đã được tỉnh Quảng Ninh xác định là một trong bốn không gian phát triển du

lịch lớn của tỉnh.

Trong những năm qua, mặc dù du lịch còn gặp nhiều khó khăn do tình

hình phát triển kinh tế - xã hội, thiên tai diễn biến phức tạp xong du lịch Vân

Đồn đã có nhiều nỗ lực phấn đấu và đạt được nhiều kết quả trên nhiều mặt đó

là: sự chuyển biến tích cực về nhận thức các cấp, các ngành, các doanh nghiệp

và cộng đồng dân cư địa phương về vị trí, vai trò và hoạt động du lịch như: có

ý thức tốt trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị của các di tích lịch sử, bảo

vệ môi trường, bảo vệ nguồn lợi thủy hải sản…; ban hành chính sách thu hút,

khuyến khích đầu tư phát triển du lịch trong địa bàn huyện; công bố quy hoạch

phát triển kinh tế của huyện nhằm thu hút vốn đầu tư và bước đầu đã phát huy

hiệu quả thu hút được các nhà đầu tư tham gia xây dựng các dự án du lịch lớn

như: khu du lịch Mai Quyền, khu du lịch Vân Hải...; các sản phẩm du lịch từng

bước được đa dạng hóa và nâng cao chất lượng; công tác thông tin, quảng bá,

xúc tiến du lịch được tăng cường, công tác quản lý nhà nước về du lịch từng

bước được nâng cao; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong phát triển du

lịch được tăng cường, hoạt động kinh doanh du lịch trực tiếp ngày càng tăng

tăng trưởng, từ năm 2007 - 2012 lượng khách du lịch tăng bình quân 14% (năm

2007 đạt 276.000 lượt khách, năm 2012 đạt 540.000 lượt khách); doanh thu du

lịch tăng trưởng bình quân 38,4% (năm 2007 đạt 75 tỷ đồng, năm 2012 đạt 350

tỷ đồng).



39



Bảng 2.1. Khách du lịch và doanh thu du lịch Vân Đồn

giai đoạn (2007 – 2012)



Chỉ tiêu



Đơn vị



Tổng số

khách



Lượt



Khách nội

địa



Lượt



Khách

Quốc tế



Lượt



Doanh thu



Tỷ đồng



2007



2008



2009



2010



2011



2012



Tốc độ

tăng

bình

quân



276.000 286.500 350.000 415.000 477.000 540.000



14,0%



273.881 283.750 310.500 409.000 394.000 531.200



14,6%



2.119



2.750



3.500



5.500



8.300



8.800



33,8%



75



82



95



120



220



350



38,4%



(Nguồn: Phòng Văn hóa Thông tin huyện Vân Đồn, 2012)

Qua số liệu tổng hợp cho thấy, số lượng khách đến với Vân Đồn ngày càng

tăng rõ rệt. Khách nội địa chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu khách đến với Vân Đồn và

lượng khách tăng đều qua các năm. Ngoài khách miền Bắc còn có lượng khách đến

từ miền Trung và miền Nam. Về khách quốc tế, mặc dù chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong cơ

cấu khách đến với Vân Đồn song có sự tăng đều qua các năm với tốc độ tăng trưởng

bình quân là 33,8%. Thị trường khách quốc tế cũng ngày càng đa dạng hơn bao

gồm cả khách Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ...Tuy số lượng khách du lịch ngày càng

tăng, song thời gian lưu trú ngắn, lượng khách có khả năng chi trả cao chưa nhiều.

Nguyên nhân chủ yếu là do sản phẩm du lịch chưa tạo được sức hấp dẫn, các

chương trình du lịch còn đơn điệu, cơ sở vật chất du lịch còn nhiều hạn chế, cơ sở

hạ tầng còn thiếu và yếu, thiếu các dịch vụ bổ sung phục vụ khách lưu lại...Vì vậy,

so với các điểm du lịch kề bên như Hạ Long, Cát Bà số lượng khách và doanh thu

du lịch của Vân Đồn vẫn còn thấp.

Qua thực tế trên cho thấy, Vân Đồn cần đầu tư và nâng cao hệ thống cơ sở hạ

tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, chất lượng phục vụ khách du lịch, khai thác

các tiềm năng du lịch của địa phương để xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù và có



40



sức hấp dẫn. Hơn thế nữa, xây dựng một điểm đến du lịch với môi trường tự nhiên

xanh - sạch - đẹp và môi trường xã hội lành mạnh đang thu hút rất lớn sự quan tâm

của khách du lịch và đây cũng là tiềm năng, thế mạnh của Vân Đồn.

2.2. Công tác quản lý về du lịch

2.2.1.Công tác quản lý nhà nước về du lịch

Công tác quản lý nhà nước về du lịch ở Vân Đồn đã được quan tâm khá tốt dần

đi vào nề nếp và có những dấu hiệu tích cực. Nhiều năm qua, các ngành chức năng

ở Vân Đồn đã có những động thái tích cực nhằm tác động làm tăng cường hơn nữa

hiệu quả của hoạt động du lịch ở địa phương. UBND huyện đã có các văn bản đến

các đơn vị kinh doanh. Đặc biệt, chỉ trong năm 2012 UBND huyện đã có nhiều văn

bản về quản lý nhà nước về du lịch, cụ thể: Quyết định 1321/QĐ-UBND, ngày

13/7/2012 “Về việc thành lập Ban Chỉ đạo quản lý môi trường kinh doạnh du lịch”;

Quyết định 1313/QĐ-UBND ngày 13/7/2012 của UBND huyện Vân Đồn “V/v

thành lập đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra việc triển khai các giải pháp tăng cường

công tác quản lý môi trường kinh doanh du lịch trên địa bàn huyện”; Văn bản

257/UBND ngày 17/7/2012 “V/c cung cấp lắp biển công bố đường dây nóng”; Văn

bản 576/UBND ngày 19/7/2012 “V/v triển khai chỉ thị của UBND tỉnh về chấn

chỉnh môi trường du lịch”; Văn bản 575/UBND ngày 19/7/2012 “V/v tăng cường

công tác quản lý môi trường kinh doanh du lịch trên địa bàn huyện Vân Đồn”; Văn

bản 327/ UBND ngày 14/5/2012 “V/v đảm bảo an toàn tại các bãi tắm du lịch”; Văn

bản 328/UBND ngày 14/5/2012 “V/v nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, đảm bảo

an toàn mùa du lịch hè 2012.

Công tác quản lý nhà nước còn được thể hiện rõ trong việc đảm bảo khai thác

tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường…Đồng thời kiến nghị lên sở VH,TT và DL

và lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh ban hành các quy định phù hợp với tình hình quản lý

và phát triển du lịch trên địa bàn huyện.

UBND huyện cũng đã triển khai các văn bản hướng dẫn điều kiện kinh doanh

tới các đơn vị kinh doanh du lịch dịch vụ để đảm bảo việc thực hiện đúng các qui

định của pháp luật và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.



41



Tuy vậy, trong thời gian qua công tác quản lý nhà nước ở Vân Đồn còn bộc

lộ nhiều hạn chế và yếu kém. Bộ máy quản lý chưa đồng bộ, thiếu cán bộ quản lý

chuyên trách. Việc quản lý các hoạt động kinh doanh du lịch chưa chặt chẽ, thiếu

đồng bộ, thống nhất. Việc cải tiến các thủ tục hành chính còn chậm, nhiều cửa

gây khó khăn cho nhân dân và các doanh nghiệp. Việc đào tạo, bồi dưỡng đội

ngũ cán bộ, nhân viên phục vụ du lịch còn chậm. Công tác thống kê về du lịch

còn yếu và chưa thực sự hiệu quả. Công tác quy hoạch du lịch cũng chưa được

quan tâm đúng mức.

Tăng cường công tác quản lý nhà nước là điều kiện quyết định đảm bảo cho du

lịch Vân Đồn phát triển đúng hướng, có những bước tiến vững chắc, hội nhập được

với sự phát triển chung của tỉnh và của cả nước.

2.2.2. Các cơ sở, đơn vị du lịch

Hiện nay, trên địa bàn huyện có 98 cơ sở lưu trú, trong đó 4 cơ sở được xếp

hạng 2 sao (tính đến năm 2012). Trong giai đoạn 2007- 2012, do lượng khách đến

với Vân Đồn tăng nhanh nên hoạt động kinh doanh khách sạn phát triển rất mạnh.

Nhiều khu resort cao cấp ra đời như du lịch nghỉ dưỡng Mai Quyền, Minh Châu,

Vân Hải…đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch. Ngoài ra, nhiều nhà

hàng, các công ty vận chuyển khách đường thủy cũng được thành lập.

Trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh việc nâng cao chất lượng dịch vụ

du lịch ở từng doanh nghiệp là đòi hỏi khách quan và cấp thiết. Vì vậy, các doanh

nghiệp du lịch tại Vân Đồn luôn có ý thức tuân thủ các quy định của pháp luật.

Thường xuyên đầu tư mới hoặc cải tạo, nâng cấp trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ

thuật mới hiện đại, tuyển dụng, đào tạo đội ngũ lao động. Một số doanh nghiệp đã

áp dụng công nghệ thông tin trong việc quảng bá, giới thiệu về doanh nghiệp và

trong điều hành, quản lý hoạt động của doanh nghiệp như xây dựng trang Web, sử

dụng internet phục vụ đáp ứng nhu cầu du khách. Tại các điểm du lịch, các doanh

nghiệp cũng thực hiện đúng quy định của cơ quan quản lý nhà nước đặc biệt trong

vấn đề bảo vệ môi trường biển. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ sở, đơn vị có ý thức

tốt vẫn còn tồn tại những đơn vị kinh doanh không chấp hành đúng các quy định



42



của chính quyền như trong việc: xử lý nước thải, rác thải làm ô nhiễm môi trường,

không đảm bảo an toàn cho du khách khi đi trên tàu (mặc áo phao...), tự ý tăng giá

dịch vụ, giá phòng vào các mùa cao điểm…

Trong công tác quản lý du lịch tại Vân Đồn, ngoài vai trò quan trọng của cơ

quan quản lý nhà nước thì vai trò của các cơ sở, đơn vị du lịch có ý nghĩa quyết

định trực tiếp tới sự phát triển của ngành du lịch địa phương. Chất lượng sản phẩm,

uy tín,...của các cơ sở, đơn vị du lịch cũng góp một phần lớn làm nên thương hiệu

của du lịch Vân Đồn.

2.2.3. Chính quyền địa phương

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, liên quan tới nhiều ngành, nhiều lĩnh vực

nên đòi hỏi phải có sự liên kết, quan hệ chặt chẽ với chính quyền địa phương từ cấp

huyện tới các xã. Trong những năm qua, du lịch Vân Đồn đã có nhiều chuyển biến

tích cực, khách du lịch tăng đều qua các năm, các hoạt động tuyên truyền quảng bá,

đào tạo nguồn nhân lực được quan tâm chú trọng, ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế

du lịch. Đặc biệt, Đảng bộ và chính quyền huyện Vân Đồn đã coi du lịch là ngành

kinh tế quan trọng trong phương hướng phát triển kinh tế xã hội của huyện trong

thời gian tới. Huyện đã tổ chức các chương trình tuyên truyền, giáo dục nhận thức

cộng đồng về vai trò, vị trí của du lịch đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội

cho đội ngũ cán bộ các xã và nhân dân các điểm du lịch trọng điểm. Chỉ đạo tăng

cường các biện pháp phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành tạo điều kiện thuận

lợi cho hoạt động du lịch. Song bên cạnh đó, du lịch Vân Đồn vẫn còn gặp nhiều

khó khăn về đội ngũ cán bộ quản lý, vốn đầu tư và sự phối hợp chặt chẽ giữa các

ngành liên quan.

2.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật và nhân lực

2.3.1. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

2.3.1.1. Cơ sở hạ tầng

Một trong những điều kiện quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của du lịch là

cơ sở hạ tầng của khu vực. Cơ sở hạ tầng có ý nghĩa nhất đối với du lịch bao gồm



43



mạng lưới và phương tiện giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới cấp

điện, nước.

* Mạng lưới giao thông

Mạng lưới giao thông trên địa bàn huyện Vân Đồn trong những năm qua bước

đầu được đầu tư cả trên bộ lẫn trên biển, đặc biệt là việc nâng cấp các bến cảng và

các tuyến đường giao thông nông thôn. Hầu hết các tuyến giao thông chính trong

huyện đã được bê tông hóa. Giao thông đường thủy giữ vai trò hết sức quan trọng

trong việc giao lưu, đi lại của nhân dân 5 xã đảo ngoài (đảo xa nhất cách trung tâm

huyện khoảng 30 km) nhằm đảm bảo lưu thông hàng hóa, học hành, khám chữa

bệnh và sinh hoạt của dân cư. Hiện nay, bến cảng Cái Rồng có thể tiếp nhận tàu

trọng tải trên 500 tấn. Đặc biệt, cảng Vạn Hoa có mực nước sâu tầu hàng nghìn tấn

có thể neo đậu. Ngoài ra, còn có các bến cập tàu nhỏ ở các xã Quan Lạn, Minh

Châu, Thắng Lợi, Ngọc Vừng.

* Mạng lưới Bưu chính - Viễn thông, thông tin liên lạc

Huyện có 1 bưu điện trung tâm và 12 trạm bưu điện và tất cả các xã đều có

điện thoại và trạm dịch vụ điện thoại, đạt tỷ lệ 15 máy điện thoại/100 dân. Đến nay,

tại các xã đảo đều sử dụng được điện thoại không dây.

* Mạng lưới cấp điện

Mạng lưới điện quốc gia 35 KV cùng với 12 trạm hạ thế phân phối điện cung

cấp điện cho 6 xã và thị trấn, khoảng 97% dân cư tuyến đảo trong được sử dụng

điện lưới quốc gia, 5 xã đảo ngoài hiện sử dụng điện chạy bằng máy phát. Năm

2012, UBND tỉnh Quảng Ninh đã xây dựng dự án đưa điện lưới quốc gia tới các

đảo xa thuộc huyện đảo Vân Đồn và huyện đảo Cô Tô. Dự án này sẽ giúp cải thiện

và nâng cao cuộc sống của nhân dân đảo xa.

* Hệ thống cấp, thoát nước

Vân Đồn có 1 trạm cấp nước sạch ở trung tâm huyện, phục vụ nhu cầu nước

sinh hoạt cho 10.000 người. Hơn 30.000 dân còn lại chủ yếu sử dụng nước giếng,

mưa, sông suối, ao, hồ. Hiện tại, các công trình dự trữ nước trên địa bàn huyện quy

mô nhỏ, chưa đáp ứng nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất. Vấn đề cấp nước



44



sạch nông thôn hiện nay tại huyện đảo còn rất khó khăn do chưa tìm được nguồn

nước ngầm, nhiều vùng vẫn phải dùng nước bị nhiễm mặn, nhất là các đảo nhỏ và

vùng ven biển.

Là một địa phương có nhiều tiềm năng phát triển du lịch, trong những năm

qua, Vân Đồn đã có nhiều cố gắng nhưng hệ thống cơ sở hạ tầng của Vân Đồn

vẫn còn nhiều khó khăn. Theo số liệu điều tra xã hội học 92% du khách đánh

giá cơ sở vật chất hạ tầng ở mức độ yếu kém, 8% đánh giá ở mức độ trung

bình. Qua số liệu trên cho thấy, hệ thống cơ sở hạ tầng (điện, nước, đường giao

thông, bưu chính viễn thông...) của huyện đảo chưa đáp ứng được nhu cầu du

lịch. Để Vân Đồn sớm phát triển kinh tế du lịch, huyện đang có nhiều nỗ lực

triển khai đề án phát triển kinh tế - xã hội khu kinh tế Vân Đồn để biến nơi đây

sớm trở thành một trong những trung tâm du lịch của tỉnh và của vùng kin h tế

trọng điểm Bắc Bộ.

2.3.1.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá

trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác

các tiềm năng du lịch nhằm thoả mãn các nhu cầu của khách du lịch. Vì vậy, sự

phát triển ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng hoàn thiện cơ sở

vật chất kỹ thuật.

* Cơ sở lưu trú

Theo thống kê của phòng kinh tế huyện Vân Đồn các cơ sở lưu trú trên địa bàn

huyện đã tăng lên nhanh chóng cả về lượng và chất. Năm 2012, toàn huyện có 98 cơ

sở kinh doanh lưu trú, 1230 phòng nghỉ, tăng 56 cơ sở, 679 phòng nghỉ so với năm

2007. Như vậy, tốc độ tăng dịch vụ lưu trú năm 2012 tăng gấp đôi so với năm 2007,

đáp ứng nhu cầu lưu trú của khách du lịch. Không chỉ tăng về số lượng mà chất

lượng cũng được tăng lên một cách đáng kể, được quan tâm và chuyên môn hóa

hơn, tuy nhiên chỉ tập trung tại các đơn vị kinh doanh có quy mô lớn: khu biệt thự



45



của Xí nghiệp Hợp Lực Mai Quyền, Công ty Cổ phần du lịch Bái Tử Long, Công ty

Cổ Phần Trái Tim Việt, Khách sạn Việt Linh…

Bảng 2.2: Thực trạng cơ sở lƣu trú tại huyện Vân Đồn năm 2007 - 2012

Năm



Tổng số cơ sở

lƣu trú



Tổng số cơ sở lƣu

Tổng số cơ sở lƣu Tổng số buồng

trú đƣợc xếp hạng

trú đạt tiêu chuẩn

phòng

( 2 sao)



2007



42



03



38



551



2008



50



03



46



641



2009



53



03



49



713



2010



72



03



67



850



2011



96



04



91



1210



2012



98



04



93



1230



(Nguồn: Phòng Văn hóa Thông tin huyện Vân Đồn, 2012)

Thông qua bảng số liệu trên ta thấy trong số các cơ sở lưu trú thì có tới gần

94.8 % (số liệu năm 2012) là chưa được xếp hạng, các cơ sở này chủ yếu là các nhà

nghỉ bình dân. Số cơ sở được xếp hạng chỉ chiếm 4,08% và chỉ được xếp hạng 2

sao. Với tổng số 1230 phòng nghỉ, trong đó tuyến đảo là 575 phòng, chiếm 46%.

Công suất sử dụng buồng còn thấp, bình quân đạt 38%. Theo số liệu điều tra 63%

khách du lịch đánh giá hệ thống cơ sở lưu trú ở mức độ yếu kém, 37% đánh giá ở

mức trung bình. Qua số liệu trên cho thấy hệ thống cơ sở lưu trú chưa đáp ứng được

nhu cầu du khách.

Nguyên nhân chủ yếu là do chất lượng dịch vụ còn thấp, chưa đáp ứng

được nhu cầu của khách du lịch, các trang thiết bị trong phòng nghỉ chưa được

đầu tư đầy đủ. Đặc biệt, các xã đảo như Minh Châu, Ngọc Vừng, Quan Lạn hệ

thống cơ sở vật chất phục vụ du khách còn nhiều hạn chế như chưa có điện lưới

và không đủ nước ngọt.



46



Ở các đảo ngoài khơi Vân Đồn như Quan Lạn, Ngọc Vừng một số nhà dân vẫn

cho khách du lịch ở theo dạng “homestay” và hầu hết các cơ sở này do không đăng

ký kinh doanh nên rất khó khăn trong việc thống kê và quản lý.

Do chưa có qui hoạch chi tiết, nên nhiều cơ sở lưu trú được xây dựng một cách

tự phát, không đồng bộ. Các cơ sở này chủ yếu có qui mô nhỏ, vừa là nhà ở vừa tận

dụng kinh doanh, thiếu tính chuyên nghiệp, thiếu các điều kiện của một cơ sở kinh

doanh du lịch như: vấn đề vệ sinh, an toàn…

Mặc dù có những điều kiện hết sức thuận lợi về tài nguyên nhưng do còn nhiều

hạn chế về cơ sở vật chất nên khách du lịch đến với một số khu vực ở Vân Đồn

chưa nhiều. Trong tương lai, khi các dự án xây dựng được hoàn thành và đưa vào sử

dụng sẽ đáp ứng được nhiều hơn nữa nhu cầu nghỉ ngơi của du khách khi đến với

khu vực này.

* Dịch vụ ăn uống

Hiện nay, toàn huyện có trên 20 cơ sở ăn uống phục vụ khách du lịch, trong đó

có 11 cơ sở vừa kinh doanh nhà nghỉ vừa kết hợp phục vụ ăn uống, còn lại là các

nhà hàng, phục vụ các đối tượng khách đa dạng từ cao cấp đến bình dân. Một số

nhà hàng, nhà bè đã tạo được ấn tượng tốt và góp phần tạo ra những sản phẩm đặc

trưng của địa phương. Mặc dù, các cơ sở này chưa nhiều nhưng bước đầu đã đáp

ứng được nhu cầu của phần lớn khách du lịch khi đến với Vân Đồn. Tuy nhiên, các

cơ sở kinh doanh ăn uống ngoài đảo xa đều gặp khó khăn do vấn đề về nguồn cung

cấp thực phẩm. Hầu như các cơ sở này đều bị động bởi nguồn cung thực phẩm do vị

trí nằm xa đất liền, xa chợ và các trung tâm thương mại, các loại thực phẩm tươi

sống lại không bảo quản được lâu…vì vậy gây rất nhiều khó khăn cho việc phục vụ

nhu cầu ăn uống của du khách. Ngoài ra, nghiệp vụ nhà hàng còn hạn chế do phần

lớn nhân viên không được đào tạo.

* Dịch vụ vận chuyển

Dịch vụ vận chuyển bao gồm đường bộ và đường thủy đang dần được đầu tư

đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân trong huyện và khách du lịch.



47



Đường bộ: Hệ thống các đơn vị vận chuyển khách chủ yếu mới là để phục vụ

dân sinh hầu hết chưa đủ tiêu chuẩn để phục vụ khách du lịch. Năm 2007, tuyến xe

buýt số 01 nối liền trung tâm du lịch Bãi Cháy với khu du lịch Bãi Dài đi vào hoạt

động đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa đón, thu hút du khách giữa trung tâm

du lịch lớn nhất của tỉnh Quảng Ninh về với Vân Đồn. Ngoài ra, các phương tiện

vận chuyển khác như các tuyến xe liên tỉnh, các hãng taxi, tàu ra các tuyến đảo cũng

đã thực hiện tốt hơn. Các tuyến xe liên tỉnh xuất phát từ Vân Đồn gồm: Vân Đồn Hà Nội (14 chuyến/ngày), Vân Đồn - Nam Định (04 chuyến/ngày), Vân Đồn - Thái

Bình (03 chuyến /ngày), Vân Đồn - Ninh Bình (02 chuyến/ngày), Vân Đồn - Hải

Phòng (02 chuyến/ngày),…Ngoài ra, có 2 tuyến nội tỉnh là: Vân Đồn - Hòn Gai;

Cái Rồng - Liên Vị (huyện Yên Hưng) cứ 15 phút một chuyến (từ 5h00 - 17h00).

Việc đảm bảo an toàn, chất lượng dịch vụ cho du khách, số lượng, số chuyến được

đưa vào sử dụng cũng không ngừng được tăng lên.

Tại các xã đảo của Vân Đồn, người ta còn sử dụng xe Lam, có thể chở được

8 người/chuyến, là phương tiện để đón và phục vụ nhu cầu du lịch quanh đảo của

du khách. Hiện nay, toàn huyện có 115 phương tiện. Tuy nhiên, vấn đề an toàn

của các phương tiện này thì hầu như chưa được chính quyền địa phương quan

tâm. Chẳng hạn số lượng người được chở thực tế so với số lượng theo đăng kí,

thông thường các xe này đều chở quá số lượng quy định thậm chí có khi vào mùa

cao điểm đông khách tham các xe này còn chở gấp đôi so với đăng ký. Điều này

dễ gây ra sự mất an toàn cho du khách. Ngoài ra, các phương tiện này chủ yếu là

sử dụng nguyên liệu là xăng nên ít nhiều là nguyên nhân gây ra tiếng ồn và khói

bụi. Trên một không gian hẹp của đảo, việc xuất hiện cùng lúc nhiều phương tiện

sẽ làm phá vỡ không gian vốn yên tĩnh, thơ mộng trên đảo. Ngoài ra, một

phương tiện được rất nhiều du khách yêu thích đó là xe đạp. Hiện toàn huyện có

350 phương tiện phục vụ nhu cầu thăm quan của du khách. Do chi phí thuê thấp

và có ý nghĩa lớn trong việc bảo vệ môi trường nên loại phương tiện này đang

ngày càng được du khách sử dụng và số lượng phương tiện tăng lên nhanh chóng

trong vài năm gần đây.



48



Bảng 2.3 : Phƣơng tiện vận chuyển khách trên các đảo

Đơn vị tính: chiếc

Năm



Xe lam



Xe đạp



2008



35



20



2009



40



30



2010



70



120



2011



115



250



2012



115



350



(Nguồn: Phòng Văn hóa Thông tin huyện Vân Đồn, 2012)

Đường thủy: Ngoài các phương tiện vận chuyển khách trên bộ như ô tô,

taxi, Vân Đồn còn có một đội tàu phục vụ du lịch chuyên chở khách tham quan

khu vực vịnh Bái Tử Long và tham quan các đảo. Trước đây, việc vận chuyển

khách ra các đảo và về dự lễ hội Quan Lạn chủ yếu là các tàu khách địa phương

hoặc tàu của ngư dân. Đến nay trên địa bàn huyện Vân Đồn đã có các doanh

nghiệp khai thác hoạt động vận chuyển khách du lịch bằng đường thuỷ như công

ty Tân Phong, Hoàng Quân, Quang Vinh, Đạt Hùng, Quang Minh với tổng số tàu

là 48chiếc. Trong đó tàu gỗ là 30 chiếc và tàu cao tốc là 18 chiếc. Đặc biệt, số

lượng tàu cao tốc trong giai đoạn này tăng lên nhanh chóng, năm 2008 chỉ có 4

chiếc thì năm 2012 tăng lên 18 chiếc. Do rút ngắn được thời gian và tính an toàn

nên loại phương tiện này được nhiều du khách lựa chọn. Tuy nhiên, về chất lượng

vận chuyển thì vẫn còn nhiều bất cập, các vấn đề về an toàn, sức chứa hầu như

chưa được chính quyền địa phương kiểm tra giám sát.



49



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA - LỊCH SỬ TẠI HUYỆN ĐẢO VÂN ĐỒN

Tải bản đầy đủ ngay(123 tr)

×