Tải bản đầy đủ - 123 (trang)
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA - LỊCH SỬ VÀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA - LỊCH SỬ TẠI HUYỆN ĐẢO VÂN ĐỒN

CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA - LỊCH SỬ VÀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA - LỊCH SỬ TẠI HUYỆN ĐẢO VÂN ĐỒN

Tải bản đầy đủ - 123trang

CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA - LỊCH

SỬ VÀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA - LỊCH SỬ TẠI

HUYỆN ĐẢO VÂN ĐỒN

1.1. Một số vấn đề lý luận về du lịch văn hóa - lịch sử

1.1.1. Du lịch văn hóa

Trong những năm gần đây, du lịch văn hóa đã và đang trở thành xu hướng

phổ biến của du lịch toàn thế giới. Hơn nữa, du lịch văn hóa còn được xem là

sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển. Với nền tảng và quy mô phát

triển không lớn, các nước đang phát triển không có thế mạnh xây dựng những

điểm du lịch, trung tâm vui chơi giải trí tầm cỡ và hiện đại, mà thường dựa vào

nguồn lực du lịch tự nhiên và sự đa dạng trong bản sắc dân tộc, đem lại giá trị

lớn cho cộng đồng.

Theo Luật Du lịch: “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn

hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị

văn hóa truyền thống”.[42]

Du lịch văn hóa cũng như các loại hình du lịch khác, không tồn tại độc lập mà

luôn nằm trong hệ thống hữu cơ với các ngành nghề, các đơn vị kinh doanh. Hơn

nữa, nó càng đòi hỏi sự gắn bó chặt chẽ do văn hóa và du lịch luôn có mối quan hệ

mật thiết. Văn hóa là tài nguyên, là nguyên liệu chính và không thể thiếu để tạo ra

loại hình du lịch văn hóa. Văn hóa cũng là nguyên nhân phát sinh nhu cầu du lịch và

là yếu tố tác động đến nhu cầu du lịch. Trái lại, du lịch là cơ hội để văn hóa khẳng

định giá trị của mình, bảo tồn và phát huy những nét độc đáo.

1.1.2. Du lịch tham quan các điểm di tích lịch sử văn hóa

Theo Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa Việt Nam năm 1984

quy định về di tích lịch sử văn hóa như sau:

“Di tích lịch sử văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật,

tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá



12



trị văn hóa khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn

hóa – xã hội”. [39]

Như vậy, di tích lịch sử văn hóa là những không gian vật chất cụ thể và khách

quan, trong đó chứa đựng những giá trị lịch sử và văn hóa điển hình do tập thể hoặc

cá nhân con người tạo nên trong quá khứ và còn tồn tại đến ngày nay.

Do đó, du lịch tham quan các di tích lịch sử văn hóa là hình thức du lịch dựa

vào các giá trị lịch sử văn hóa của điểm di tích có tác dụng giáo dục, nâng cao hiểu

biết và nhận thức của du khách.

1.1.3. Tài nguyên du lịch văn hóa - lịch sử

Du lịch văn hóa – lịch sử chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ

hội truyền thống dân tộc, phong tục tập quán...để tạo sức hút đối với du khách. Như

vậy, tài nguyên du lịch văn hóa – lịch sử là những đối tượng, hiện tượng được tạo ra

bởi con người có giá trị hấp dẫn du khách, đang và sẽ được đưa vào khai thác phục

vụ nhu cầu nghiên cứu tìm hiểu những nét văn hóa khác nhau của các dân tộc cho

các đối tượng khách để làm tăng giá trị của một địa phương, một quốc gia. Bất kỳ

một tài nguyên nào có giá trị hấp dẫn, độc đáo đều có khả năng được đưa vào khai

thác du lịch, đặc biệt là tính dị biệt của chúng càng cao càng có giá trị thu hút.

Khác với tài nguyên tự nhiên, tài nguyên du lịch văn hóa - lịch sử mang những

đặc trưng khác biệt. Nó ít bị chi phối bởi tính thời vụ vì vậy hoạt động du lịch văn

hóa – lịch sử có thể diễn ra quanh năm, không lệ thuộc vào thời tiết. Đây là lợi thế

lớn nhất của tài nguyên du lịch văn hóa – lịch sử. Tài nguyên du lịch văn hóa – lịch

sử bao gồm cả yếu tố vật thể và phi vật thể thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí,

tham quan, tìm hiểu văn hóa của du khách. Bên cạnh đó, tài nguyên du lịch văn hóa

– lịch sử dễ bị xuống cấp. Nó thường xuyên bị tác động bởi các yếu tố môi trường

bên ngoài và yếu tố tác động mạnh mẽ nhất chính là con người.

1.1.4. Tổ chức quản lý du lịch văn hóa - lịch sử

Hoạt động kinh doanh du lịch nói chung hay du lịch văn hóa - lịch sử nói riêng

bao gồm hai bộ phận cấu thành cơ bản: hoạt động kinh doanh du lịch nội địa và hoạt

động kinh doanh du lịch quốc tế. Như vậy, sự phát triển của du lịch không chỉ còn



13



nằm trong phạm vi quốc gia mà đã vượt ra phạm vi quốc tế. Do đó, hoạt động kinh

doanh du lịch cần có sự tổ chức và quản lý tương ứng.

Theo T.S Trần Thị Minh Hòa: “Quản lý nhà nước về du lịch là làm chức năng

quản lý vĩ mô về du lịch. Việc quản lý đó thông qua các công cụ quản lý vĩ mô, nhằm tạo

điều kiện thuận lợi cho các doạnh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau hoạt

động trong lĩnh vực kinh tế du lịch. Quản lý nhà nước về du lịch là nhằm đưa du lịch

phát triển theo định hướng chung của tiến trình phát triển của đất nước.” [14,tr328]

Trong Luật Du lịch Việt Nam quy định rõ các quy định về nội dung quản lý

nhà nước về du lịch như sau:

Đối với cơ quan quản lý về du lịch:

“- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính

sách phát triển du lịch.

- Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu

chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động du lịch.

- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch

- Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nghiên cứu

ứng dụng khoa học và công nghệ.

- Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch để xây dựng quy hoạch phát triển du

lịch, xác định khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.

- Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về du lịch; hoạt động xúc tiến về du lịch ở

trong nước và ngoài nước.

- Quy định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch, sự phối hợp của các

cơ quan nhà nước trong việc quản lý nhà nước về du lịch.

- Cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động du lịch.

- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật

về du lịch.” [42]

Đối với chính quyền địa phương:



14



“Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của

mình và theo sự phân cấp của chính phủ có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà

nước về du lịch tại địa phương; cụ thể hóa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ

chế, chính sách phát triển du lịch phù hợp với thực tế tại địa phương; cụ thể

hóa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển du lịch phù

hợp với thực tế tại địa phương và có biện pháp đảm bảo an ninh, trật tự, an

toàn xã hội, vệ sinh môi trường tại khu lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đ ô thị

du lịch.” [42]

Đối với cơ sở, đơn vị kinh doanh du lịch: “Thực hiện các hoạt động của đơn vị

và tuân thủ các quy định của nhà nước và hoạt động dưới sự quản lý của cơ quan

quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương đó.” [42]

1.1.5. Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa - lịch sử

Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch nói chung và cơ sở vật chất kỹ thuật

du lịch văn hoá - lịch sử nói riêng bao gồm nhiều thành phần, chúng có chức năng

và ý nghĩa nhất định đối với việc tạo ra, thực hiện các sản phẩm du lịch. Các yếu tố

này không chỉ là của riêng ngành du lịch mà bao hàm cả các yếu tố của các ngành

khác được huy động vào nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ du lịch thỏa mãn nhu cầu

du khách. Khái niệm cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được xem xét cả về nghĩa rộng

và nghĩa hẹp.

Theo Ts.Trần Thị Minh Hòa, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch hiểu theo nghĩa

rộng là: “toàn bộ các phương tiện vật chất kỹ thuật được huy động tham gia vào

việc khai thác các tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ và hàng

hóa thỏa mãn nhu cầu của du khách trong chuyến hành trình của họ.”[14,tr188]

Như vậy, theo định nghĩa trên cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch không chỉ có cơ sở vật

chất kỹ thuật thuộc bản thân ngành du lịch mà còn có cơ sở vật chất kỹ thuật của

các ngành khác tham gia vào việc khai thác tiềm năng du lịch như: giao thông,

thông tin liên lạc, hệ thống điện nước,…Những yếu tố này được gọi chung là các

yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng xã hội. Đây là những yếu tố mang tính chất tiền đề và là

đòn bẩy đối với sự phát triển của ngành du lịch.



15



Cũng theo TS.Trần Thị Minh Hòa cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu

theo nghĩa hẹp là: “toàn bộ các phương tiện vật chất kỹ thuật do các tổ chức du lịch

tạo ra để khai thác các tiềm năng du lịch tạo ra các sản phẩm dịch vụ và hàng hóa

nhằm cung cấp và thỏa mãn nhu cầu của du khách. Chúng bao gồm hệ thống các

khách sạn, nhà hàng, các khu vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển và đặc biệt

nó bao gồm cả các công trình kiến trúc bổ trợ.” [14,tr189] Theo định nghĩa trên thì

cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch chính là những yếu tố quan trọng và mang tính trực

tiếp đối với việc đảm bảo điều kiện cho các dịch vụ du lịch được tạo ra và cung ứng

cho du khách.

Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình

tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm

năng du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch. Chính vì vậy, sự phát

triển của ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ

sở vật chất kỹ thuật.

1.1.6. Sản phẩm du lịch văn hóa - lịch sử

Để tìm hiểu sản phẩm du lịch văn hóa - lịch sử là gì trước hết ta tìm hiểu thế

nào là sản phẩm du lịch.

Theo TS.Trần Thị Minh Hòa: “Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa

cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự

nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại

một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó.” [14,tr31]

Như vậy, sản phẩm du lịch bao gồm cả yếu tố vật thể và phi vật thể. Yếu tố vật

thể là hàng hóa, yếu tố phi vật thể là dịch vụ.

Xét theo quá trình tiêu dùng của du khách trên tuyến hành trình du lịch thì

chúng ta có thể tổng hợp các thành phần của sản phẩm du lịch theo các nhóm cơ

bản sau:



Dịch vụ vận chuyển;

Dịch vụ lưu trú, ăn uống, đồ ăn, thức uống;



16



Dịch vụ tham quan, giải trí;

Hàng hóa tiêu dùng và đồ lưu niệm;

Các dịch vụ khác phục vụ du khách.

Như vậy, từ quan điểm trên thì sản phẩm du lịch văn hóa - lịch sử được hiểu là

các dịch vụ và hàng hóa được hình thành từ việc khai thác các tài nguyên du lịch

nhân văn và các dịch vụ du lịch kèm theo để hình thành các chương trình du lịch,

các dịch vụ du lịch mang đậm dấu ấn văn hóa - lịch sử.

1.1.7. Điểm đến du lịch

Điểm đến du lịch là một khái niệm rất rộng trong hoạt động kinh doanh du

lịch, là nơi có sức hấp dẫn và có sức thu hút khách du lịch. Điểm đến du lịch dựa

vào tài nguyên du lịch song không phải tài nguyên nào cũng được khai thác và trở

thành điểm đến du lịch. Điều này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: cơ sở hạ tầng kỹ

thuật, cơ sở dịch vụ phục vụ khách, thời gian khai thác điểm du lịch, số lượng khách

đến tham quan…

Điểm đến du lịch có vai trò quan trọng đối với sự phát triển du lịch của một

đất nước, một địa phương. Điểm đến có tính hấp dẫn càng cao thì sức thu hút khách

du lịch càng lớn. Dịch vụ và hàng hóa phục vụ khách có chất lượng cao, đa dạng về

chủng loại thì doanh thu càng lớn. Điểm đến du lịch là nơi đón tiếp, phục vụ du

khách trong thời gian nghỉ dưỡng và tham quan tại điểm du lịch này. Nơi mở rộng

các hoạt động dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của du khách, thực hiện “xuất khẩu vô

hình” các tài nguyên du lịch và “xuất khẩu tại chỗ” các dịch vụ, hàng hóa của địa

phương với mục tiêu thu lợi nhuận và tạo công ăn việc làm cho cư dân địa phương.

Theo PGS.TS Trần Đức Thanh: “Điểm đến du lịch là một nơi, một vùng hay một

đất nước có sức hấp dẫn đặc biệt đối với cư dân ngoài địa phương và có những thay đổi

nhất định trong kinh tế do hoạt động du lịch gây nên”.[26,tr112]

Trên phương diện địa lý, điểm đến du lịch được xác định theo phạm vi không

gian lãnh thổ. Điểm đến du lịch là một vị trí địa lý mà du khách thực hiện hành trình



17



đến đó nhằm thỏa mãn nhu cầu theo mục đích chuyến đi. Có thể phân biệt hai loại

điểm đến.

+ Điểm đến cuối cùng: Thường là điểm xa nhất tính từ điểm xuất phát gốc của

du khách và (hoặc) là địa điểm mà người đó dự định tiêu dùng phần lớn thời gian.

+ Điểm đến trung gian hoặc nơi ghé thăm là địa điểm mà du khách dành thời

gian ngắn hơn để nghỉ ngơi qua đêm hoặc viếng thăm một điểm hấp dẫn.

Như vậy, điểm đến du lịch văn hóa - lịch sử được hiểu là một nơi, một vùng,

một địa phương có sức hấp dẫn đặc biệt với du khách về các giá trị văn hóa, lịch sử.

1.1.8. Khách du lịch

Theo Luật Du lịch: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch,

trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”.[42]

Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và quốc tế.

- Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại

Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.

- Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước

ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại

Việt Nam ra nước ngoài du lịch.

1.1.9. Bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch

Di sản văn hóa là một bộ phận cơ bản và trọng yếu của nền văn hóa dân tộc.

Nói đến di sản văn hóa là nói đến một lĩnh vực rộng lớn, đó là tất cả những thành

quả lao động tiêu biểu của con người qua các thời kỳ xây dựng nên còn tồn tại hoặc

đã biến mất.

Theo Công ước quốc tế về việc bảo vệ các di sản văn hóa và thiên nhiên thế

giới của UNESCO di sản văn hóa là:

“Các di tích: các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội hoạ hoành tráng,

các yếu tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ, các văn bản, các hang động và các

nhóm yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay

khoa học.



18



Các quần thể: các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần tụ có

giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến

trúc, sự thống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hoá của chúng vào cảnh quan.

Các thắng cảnh: các công trình của con người hoặc những công trình của con

người kết hợp với các công trình của tự nhiên, cũng như các khu vực, kể cả các di

chỉ khảo cổ học, có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thẩm mỹ, dân

tộc học hoặc nhân chủng học.” [45]

Theo Luật di sản văn hóa Việt Nam: “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản

quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn

hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của

nhân dân ta.” [41]

Trường tồn cùng các di sản văn hóa chính là mối đe dọa trạng thái bảo quản các di

sản văn hóa đó, do rất nhiều yếu tố: sự hủy hoại của thiên nhiên, tăng dân số cơ học, nhịp

độ phát triển như vũ bão của kinh tế toàn cầu gây ra. Song yếu tố cơ bản nhất, đe dọa và

trực tiếp hủy hoại các di sản văn hóa là do công tác bảo vệ và quản lý không theo kịp

trình độ phát triển của xã hội. Chính vì lẽ đó, công tác bảo tồn di sản văn hóa được đặt ra

như một vấn đề cấp thiết ở mọi thời đại, đóng vai trò ngày càng tích cực trong việc

truyền bá những kiến thức về tự nhiên và xã hội trong lĩnh vực phong phú, đa dạng này.

Bảo tồn di sản văn hóa, tức là quản lý và phát huy các giá trị của di sản văn hóa vật thể

và phi vật thể.

Đối với sự phát triển du lịch, đặc biệt loại hình du lịch văn hóa, công tác bảo

tồn di sản văn hóa có ý nghĩa hết sức quan trọng vì di sản văn hóa chính là tài

nguyên du lịch, là yếu tố quan trọng nhất để tạo nên sản phẩm du lịch văn hóa.

Bảo tồn di sản văn hóa là bao gồm các hoạt động về “sưu tầm”, “thăm dò,

“khai quật khảo cổ”, “bảo quản di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di

vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”, “tu bổ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng

cảnh”, “phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh”.

Theo Luật di sản văn hóa:



19



“Sưu tầm là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di sản văn

hóa phi vật thể, được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu

chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự

nhiên và xã hội.

Thăm dò, khai quật khảo cổ là hoạt động khoa học nhằm phát hiện, thu thập,

nghiên cứu di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và địa điểm khảo cổ.

Bảo quản di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo

vật quốc gia là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng

mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử - văn

hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.

Tu bổ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm tu sửa,

gia cố, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh.

Phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm

phục dựng lại di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đó.”[41]

1.2. Các điều kiện phát triển du lịch văn hóa - lịch sử tại huyện đảo Vân Đồn

1.2.1. Điều kiện bên trong

1.2.1.1. Điều kiện tự nhiên



(Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Vân Đồn, 2012)



Hình 1.1. Bản đồ hành chính huyện Vân Đồn



20



Nằm trong khu vực cực Bắc của Việt Nam và cách cửa khẩu quốc tế Móng Cái

120km, Vân Đồn là huyện miền núi, hải đảo nằm ở phía Đông Nam tỉnh Quảng

Ninh, có tọa độ từ 20040’ đến 20012’ vĩ độ Bắc và từ 107019’ đến 107042’ kinh độ

đông. Vị trí địa lý của huyện đảo Vân Đồn được xác định cụ thể: phía Bắc và Đông

Bắc giáp với huyện Tiên Yên và huyện Đầm Hà, phía Đông giáp với huyện Cô Tô

và vịnh Bái Tử Long, phía Tây giáp với thị xã Cẩm Phả, phía Nam là vùng biển

vịnh Bắc Bộ.

Huyện Vân Đồn có diện tích tự nhiên 551,3 km². Vân Đồn có 11 xã và 1 thị

trấn, trong đó có hai quần đảo. Quần đảo Cái Bầu với thị trấn Cái Rồng là trung

tâm kinh tế, chính trị, xã hội của huyện và 6 xã: Đông Xá, Hạ Long, Vạn Yên,

Đoàn Kết, Bình Dân, Đài Xuyên. Quần đảo Vân Hải có 5 xã: Quan Lạn, Minh

Châu, Ngọc Vừng, Thắng Lợi, Bản Sen. Các đảo đều có địa hình núi.

Khí hậu Vân Đồn mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới, có hai mùa rõ rệt: mùa

mưa và mùa khô, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 220C - 240C. Vân Đồn nằm trong

khu vực nhiệt đới gió mùa, từ tháng 3 đến tháng 8 gió Đông Nam từ biển thổi vào

mát mẻ, mùa đông chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Đông Bắc lạnh và khô.

Lượng mưa trung bình hàng năm 2000mm, mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) đạt

2.225mm. Độ ẩm trung bình hàng năm 84%. Các hiện tượng thời tiết nguy hiểm

như giông, gió mạnh, bão xảy ra không nhiều so với các tỉnh ven biển khác.

Với địa hình khá phức tạp bao gồm một quần thể hơn 600 hòn đảo đã tạo cho

Vân Đồn một nét rất riêng mang đặc trưng biển đảo.

1.2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển

Tên Vân Đồn có nguồn gốc từ núi Vân (núi có mây phủ) ở làng Vân (nay

thuộc địa phận xã Quan Lạn). Do ở cửa ngõ của vùng quần đảo hiểm yếu nên ở đây

sớm có đồn Vân. Theo sử sách, năm 980 trấn Triều Dương đã có Vân Đồn. Năm

1149, thời Lý Anh Tông (1138-1175) cho khai mở trang Vân Đồn để đón thuyền

buôn các nước. Trong Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sỹ Liên và các sử thần nhà Lê đã

viết: "Năm Kỷ tỵ, hiệu Đại Định năm thứ 10 (1149, đời vua Lý Anh Tông), mùa xuân,

tháng hai, thuyền buôn các nước Qua Oa, Lộ Lạc, Xiêm La vào Hải Đông xin cư trú



21



buôn bán, bèn cho lập trang ở nơi hải đảo, gọi là Vân Đồn, để mua bán hàng hoá

quý, dâng tiến sản vật địa phương” [20,tr317]. Như vậy, Vân Đồn đã trở thành cảng

ngoại thương đầu tiên của nước ta. Thời Trần, năm 1345 được gọi là trấn Vân Đồn,

năm 1407 đổi là huyện Vân Đồn, năm 1557 đổi là châu Vân Đồn. Năm 1836, đổi

thành tổng Vân Hải. Ngày 19-8-1890 lập huyện Vân Hải thuộc phủ Nghiêu Phong

(tên cũ là Hoa Phong). Năm 1909, huyện Vân Hải lại thành tổng Vân Hải thuộc

huyện Hoành Bồ. Năm 1937, tổng Vân Hải thuộc châu Cẩm Phả.

Trong cách mạng tháng Tám, ngày 27-9-1945, chính quyền cách mạng thành

lập trên đảo Cái Bầu. Năm 1946, hải quân Pháp (từ cảng Phòng Thành, Trung Quốc)

quay lại chiếm Cô Tô, Vạn Hoa và khống chế các xã đảo tuyến ngoài. Một số đảng

viên từ huyện Thụy Anh, Thái Bình ra đây xây dựng các tổ chức Việt Minh, các xã

đảo tuyến ngoài tạm thời thuộc huyện Thụy Anh về tổ chức chính trị. Cuối năm 1948,

huyện Cẩm Phả được thành lập (tách khỏi thị xã Cẩm Phả - Cửa Ông) và trực thuộc

Đặc khu Hòn Gai. Cũng từ đây, các xã được thành lập, xã Đại Độc chia thành nhiều

xã, tuyến đảo ngoài có thêm các xã Thắng Lợi, Thành Công, Hùng Thắng. Trong thời

kháng chiến, Pháp gọi đảo Cái Bầu là huyện Cửa Tiên Yên trong “Xứ Nùng tự trị Hải

Ninh”. Ngày 16-7-1964, huyện Cẩm Phả sáp nhập thêm Cô Tô và xã Thanh Lân.

Ngày 23-3-1994, Chính phủ ra nghị định đổi tên huyện Cẩm Phả thành huyện Vân

Đồn và tách quần đảo Cô Tô thành huyện Cô Tô.

1.2.1.3. Điều kiện văn hóa – xã hội

a. Điều kiện về tài nguyên

* Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể tiêu biểu

- Các di tích khảo cổ học thời tiền sử

Các đảo trong khu vực Vân Đồn còn lưu giữ nhiều giá trị văn hoá thuộc thời

kỳ tiền sử. Cuối năm 1937 nhà khảo cổ học Thụy Điển An-đéc-xen và hai chị em

nhà khảo cổ học người Pháp Cônali M. đã đi điền dã nhiều tháng đến các bãi biển,

hang động trên các đảo Ngọc Vừng, Cống Đông, Cống Tây, Thoi Giếng, Soi

Nhụ...Họ đã phát hiện ra nhiều địa điểm với nhiều hiện vật công cụ bằng đá của

người nguyên thuỷ như: rìu bôn, bàn mài, chày nghiền, mảnh tước, vòng tay...Từ đó



22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA - LỊCH SỬ VÀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA - LỊCH SỬ TẠI HUYỆN ĐẢO VÂN ĐỒN

Tải bản đầy đủ ngay(123 tr)

×