Tải bản đầy đủ - 117 (trang)
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Tải bản đầy đủ - 117trang

biết chính xác nguyên nhân và có những giải pháp nâng cao chất lượng giải

trí của họ.

1.1.2 Các lý thuyết áp dụng

1.1.2.1 Lý thuyết nhu cầu

Lý thuyết nhu cầu của tác giả MASLOW là lý thuyết được áp dụng sâu

rộng trong các nghiên cứu của khoa học xã hội. MASLOW phân chia các

nhu cầu của con người làm 5 mức, xếp theo thứ tự từ thấp đến cao, thường

được biểu diễn dưới dạng tháp. Một cách biểu diễn khác là hình cái thang:

- Nhu cầu tự thể hiện bản thân

- Nhu cầu muốn được tôn trọng

- Nhu cấu có tính xã hội

- Nhu cầu an toàn

- Nhu cầu sinh lý

Nhưng nhu cầu sinh lý là căn bản nhất, gồm nhu cầu thức ăn và đồ uống,

nhà ở, quần áo, thư giãn. Chúng được ưu tiên thỏa mãn trước khi con người

nghĩ đến mức nhu cầu tiếp theo. Hầu hết mọi người có mong muốn về an

ninh và an toàn, không gặp phải những điều bất ngờ. Mong muốn được các

tổ chức xã hội chấp nhận là nhu cầu có tính xã hội hay nhu cầu có tổ chức.

Nhu cầu tự trọng là những mong muốn có được địa vị, sự kính trọng, thành

đạt và thành tích trong mắt mình và mọi người. Hiện thực hóa tiềm năng phát

triển của mình và khám phá ra khả năng chính mình là nhu cầu tự thể hiện

bản thân. Như vậy theo Maslow thì con người cần có tất cả những nhu cầu

cần thiết thì mới có thể có cuộc sống đạt đến trọn vẹn. Nhu cầu được tham

gia vào những hoạt động giải trí của con người là cần thiết vì nó đem lại sự

thoải mái về tinh thần cho họ, tái sản xuất sức lao động. Nếu con người chỉ



13



có nhu cầu về ăn, uống, ngủ nghỉ thì vẫn chưa đủ, vẫn chưa hoàn thiện và

thúc đẩy được sự phát triển toàn diện. Trong khi đó tác giả của thuyết này

đưa ra thì con người có 5 nhu cầu để sống và phát triển bản thân. Khi mọi

người tham gia vào những hoạt động giải trí, nhất là trong thời gian rảnh rỗi

thì thể hiện được sự hợp lý trong việc sắp xếp cuộc sống của họ. Họ cũng cần

nghe hát, cần xem phim, cần chơi thể thao, cần được giao lưu học hỏi…

trong xã hội hiện nay, thời gian rảnh không có nhiều trong điều kiện ở nông

thôn Việt Nam nhưng người dân vẫn phải có sự bố trí, sắp xếp công việc để

ít nhất có thể có những hoạt động giải trí phù hợp với quỹ thời gian phù với

điều kiện kinh tế, sức khỏe. Như vậy, áp dụng lý thuyết nhu cầu chúng ta

phân tích được tình hình biến đổi trong việc tham gia vào các hoạt động giải

trí văn hóa của nông dân một cách rõ nét.

1.1.2.2 Lý thuyết lựa chọn hợp lý

Thuyết lựa chọn hợp lý (hay còn gọi là thuyết lựa chọn duy lý) trong xã

hội học có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học vào thế kỷ VIII,

XIX. Một số nhà triết học đã cho rằng bản chất con người là vị kỷ, luôn tìm

đến sự hài lòng, sự thoả mãn và lảng tránh nỗi khổ đau. Một số nhà kinh tế

học cổ điển thì từng nhấn mạnh vai trò động lực cơ bản của động cơ kinh tế,

lợi nhuận khi con người phải đưa ra quyết định lựa chọn hành động. Đặc

trưng thứ nhất có tính chất xuất phát điểm của sự lựa chọn duy lý chính là

các cá nhân lựa chọn hành động.

Thuyết này gắn với tên tuổi của rất nhiều nhà xã hội học tiêu biểu như:

George Homans, PeterBlau, JamesColeman. Thuyết lựa chọn hợp lý dựa vào

tiên đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ

để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết

quả tối đa với chi phí tối thiểu. Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn

mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng loại phương tiện



14



hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thức hiện có để đạt

được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực. Phạm vi của mục

đích đây không chỉ có yếu tố vật chất (lãi, lợi nhuận, thu nhập) mà còn có cả

yếu tố lợi ích xã hội và tinh thần.

Định đề này được Homans diễn đạt theo kiểu định lý toán học như sau:

khi lựa chọn trong số các cách hành động có thể có, cá nhân sẽ chọn cách

nào mà họ cho là tích của xác suất thành công của hành động đó với giá trị

mà phần thưởng của hành động đó là lớn nhất. Tức là Homans đã nhấn mạnh

đến đặc trưng thứ hai của sự lựa chọn hợp lý là quá trình tối ưu hoá. Như vậy

chúng ta thấy rằng, khi con người lựa chọn các hành động, họ cần nghĩ đến

những gì họ đạt được, ở đây khi người nông dân tham gia vào những hoạt

động giải trí văn hóa thì họ nghĩ rằng họ sẽ được phục hồi lại sức khỏe, đặc

biệt là về mặt tinh thần sau những giờ lao động vất vả. Họ sẽ được tiếp thu

những cái văn hóa cũ của dân tộc và những cái tinh hoa mới thông qua

những cải tiến kỹ thuật công nghệ. Đó là quãng thời gian họ dùng vào hoạt

động không kiếm ra tiền nhưng họ vẫn có thể duy trì vì những lợi ích giá trị

to lớn của nó mang lại. Khi họ đi xem hội hè, họ có cơ hội được giao lưu học

hỏi với những người khác về kinh nghiệm trồng cấy, làm ăn, họ được chia sẻ

những hoạt động khác. Những hoạt động như xem ti vi, nghe đài, đọc báo…

họ có thể nắm rõ được những thông tin về mọi mặt của cuộc sống.

1.1.2.3 Lý thuyết biến đổi xã hội

Biến đổi xã hội (tiếng Anh: Social change) là một quá trình qua đó những

khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và

các hệ thống phân tầng xã hội được thay đổi theo thời gian.

Cũng giống như tự nhiên, mọi xã hội không ngừng biến đổi. Sự ổn định của

xã hội chỉ là sự ổn định của bề ngoài, còn thực tế nó không ngừng thay đổi

bên trong bản thân nó. Bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hóa nào, cho dù



15



nó có bảo thủ và cổ truyền đến đâu chăng nữa cũng luôn biến đổi; sự biến đổi

trong xã hội hiện đại ngày càng rõ hơn, nhanh hơn, và điều này cho thấy rõ

hơn là sự biến đổi đó không còn là điều mới mẻ, nó đã trở thành chuyện

thường ngày. Mọi cái đều biến đổi và xã hội cũng giống như các hiện thực

khác, không ngừng vận động và thay đổi. Tất cả các xã hội đều ở trong một

thực trạng đứng yên trong sự vận động liên tục. Có nhiều cách quan niệm về

sự biến đổi xã hội, như:

- Phạm vi rộng: biến đổi xã hội là một sự thay đổi so sánh với một tình

trạng xã hội hoặc một nếp sống có trước;

- Phạm vi hẹp: biến đổi xã hội là sự biến đổi về cấu trúc xã hội hay tổ

chức xã hội của xã hội đó, mà sự biến đổi này ảnh hưởng sâu sắc đến

phần lớn các thành viên của một xã hội;

Riêng những biến đổi chỉ tác động đến một số ít cá nhân, thì ít được các nhà

xã hội học quan tâm và chú ý.

Auguste Comte đưa ra thuật ngữ xã hội học đã tin tưởng rằng khi các

nhà xã hội học xác định những nguồn gốc của sự biến đổi xã hội, thì họ có thể

giúp chương trình cho một tương lai tốt hơn. Auguste Comte cho rằng, biến

đổi xã hội là:

- Chắc chắn xảy ra;

-



Sẽ theo một con đường phát triển;



-



Những tiến bộ đương nhiên hướng tới một xã hội tốt hơn.

Auguste Comte tin tưởng rằng, thông qua biến đổi xã hội, nhân loại

chuyển từ người nguyên thủy dốt nát đến con người được giáo dục, và

những cái mà chúng ta được học hoặc được phát triển tiến về con đường

tách khỏi sự sắp đặt của Thượng đế vì sự tiến bộ của nhân loại.



16



Như vậy chúng ta thấy rằng, sự biến đổi xã hội là cái quy luật tất yếu, con

người dù muốn hay không thì biến đổi vẫn diễn ra. Trong thời kì hội nhập hiện

nay, muốn hay không muốn thì xã hội nông thôn nói chung và xã hội nông

thôn đồng bằng Bắc Bộ cũng có những biến đổi cả về tích cực lẫn tiêu cực.

Những hoạt động văn hóa cổ truyền ít nhiều bị mai một đi, những cách thức

giải trí văn hóa mới được thay bằng. Người nông dân cần có sự cân nhắc, thay

đổi, lựa chọn để tham gia cho phù hợp với thời gian, với nhu cầu của mình.

1. 2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Những nghiên cứu đầu tiên về giải trí xuất hiện rất lâu trong lịch sử loài

người, những tác phẩm của Aristote, Platon và các tác giả khác bàn về bản

chất, chức năng của giải trí trong đời sống của con người. Nhưng phải đến

cuối thế kỉ 19 giải trí và những vấn đề liên quan (thời gian nhàn rỗi…) mới

được thực sự quan tâm. Hiện nay đã hình thành khoa học về nhàn rỗi với tư

cách là khoa học liên ngành, trong số các khoa học về giải trí có mặt của xã

hội học về giải trí, một chuyên ngành có đối tượng nghiên cứu là thời gian rỗi

trong mối tương tác với quỹ thời gian, đặc biệt là thời gian lao động và trong

mối quan hệ với các thiết chế xã hội, cơ cấu văn hoá, văn hoá và các quá trình

xã hội. Sự biến đổi về khoa học kỹ thuật, kinh tế kéo theo hàng loạt những

biến đổi về xã hội, văn hóa …Chúng ta thấy có rất nhiều tác giả trong ngành

khoa học xã hội nói chung và xã hội học, văn hóa học nói riêng đã có những

công trình nghiên cứu, những bài viết, bình luận, nhận xét về vấn đề này:

Bài viết “Xu hướng biến đổi trong văn hóa và lối sống ở Việt Nam” của

PGS.TS Mai Văn Hai và TS Phạm Việt Dũng đăng trên tạp chí Thông tin

khoa học xã hội số 2 năm 2010 đã khái quát những xu hướng biến đổi trong

văn hóa lối sống ở Viêt Nam cũng như làm rõ những nguyên nhân, những

yếu tố ảnh hưởng đến những biến đổi đó. Bài viết tập trung đi sâu vào phân

tích sự thay đổi của các mối quan hệ của cá nhân với gia đình, hàng xóm,



17



láng giềng, các biến đổi về giá trị triết lý sống của cá nhân và các nhóm xã

hội… Tuy nhiên các tác giả chưa đề cập đến những vấn đề về giải trí văn hóa

của người dân đặc biệt là của người nông dân nói riêng.

PGS.TS Nguyễn Văn Dân với bài viết “Đời sống văn hóa của người

Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới” đăng trên Thông tin khoa học xã hội số

9 năm 2008 đề cập đến thực trạng đời sống văn hóa nói chung hiện nay, đó là

sự tiếp thu các giá trị văn hóa thế giới làm giàu cho văn hóa Việt Nam, sự

phục hồi và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống và những vấn đề nảy

sinh trong việc kế thừa truyền thống và tiếp thu văn hóa thế giới. Nội dung

bài viết mang tầm vĩ mô rõ nét, tuy nhiên toàn bộ bài viết này chưa đề cập

đến sự biến đổi trong việc tham gia các hoạt động giải trí văn hóa của người

dân.

GS Hoàng Chí Bảo có bài viết “Biến đổi xã hội ở Việt Nam qua hơn 20

năm đổi mới”. Bài viết đã nhận diện những biến đổi xã hội ở Việt Nam qua

hơn 20 năm đổi mới trên phương diện lý luận, hiện trạng và chính sách. Biến

đổi cơ cấu kinh tế trong nền kinh tế thị trường đã dẫn đến biến đổi cơ cấu xã

hội – một trong những biến đổi điển hình nhất ở Việt Nam trong đổi mới. Sự

thay đổi về cơ cấu xã hội đó đã dẫn tới mức chênh lệch trong tiền lương, thu

nhập và dẫn tới phân hóa giàu nghèo. Từ đó kéo theo sự biến đổi các thiết

chế, thể chế xã hội và các quan hệ xã hội, biến đổi nhu cầu và lối sống. Tuy

vậy, bài viết chưa nói đến sự biến đổi trong việc tham gia các hoạt động giải

trí văn hóa của người dân với tư cách là một khía cạnh của sự biến đổi xã hội

nói chung.

Bài viết “Biến đổi cơ cấu xã hội ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới”

của tác giả Nguyễn Đình Tấn đăng trên Tạp chí thông tin khoa học xã hội số

3 năm 2010 đề cập đến sự biến đổi về cơ cấu xã hội giai cấp, giai tầng; cơ cấu

xã hội dân số, cơ cấu xã hội lãnh thổ và các phân hệ cơ cấu xã hội cơ bản



18



khác như cơ cấu xã hội tôn giáo, cơ cấu xã hội dân tộc. Tuy nhiên bài viết

mới chỉ nói đến các vấn đề chung của sự biến đổi cơ cấu xã hội mà chưa cập

đến sự biến đổi về lối sống, hoạt động sinh hoạt văn hóa.

Tác giả Trần Ngọc Hiên với bài viết “Nguồn gốc của những biến đổi xã

hội nông thôn Việt Nam và phương hướng phát triển”, đăng trên Tạp chí

Thông tin khoa học xã hội số 3 năm 2007, nội dung bài viết đưa ra những yếu

tố được xem là nguồn gốc dẫn đến sự biến đổi xã hội nông thôn Việt Nam

như: sự phát triển kinh tế thị trường ở nông thôn. Trong phần phương hướng

phát triển xã hội nông thôn trong giai đoạn trước mắt, tác giả có đề xuất cần

phải thúc đẩy mạnh tiến trình dân chủ hóa công khai, minh bạch, bảo đảm

thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, nhất là phát huy tính sáng

tạo của trí thức và thanh niên. Tuy nhiên tác giả chưa đưa ra những biến đổi

về mặt hoạt động giải trí văn hóa của người nông dân và những yếu tố tác

động.

Một công trình nghiên cứu thực sự khoa học về giải trí là Phan Thanh Tá

“Thời gian rỗi của thanh niên Hà Nội”. Đối tượng là thời gian nhàn rỗi, còn

hoạt động giải trí chỉ được phân tích dưới góc độ là những hoạt động xảy ra

trong thời gian rỗi và nó được nhìn nhận dưới góc nhìn của văn hoá học.

Nghiên cứu tập trung vào phân tích thời gian rảnh rỗi của thanh niên trong

phạm vi khu vực nội thành của thủ đô, những hoạt động mà họ thường tham

gia. Dưới góc độ chuyên ngành xã hội học trong thời gian gần đây có một số

công trình nghiên cứu về giải trí của tác giả như: Đinh Thị Vân Chi “Mấy

nhận xét về sự biến đổi nhu cầu giải trí của thanh niên Hà Nội hiện nay”. Tác

giả đã nhấn mạnh đến đối tượng được nghiên cứu lứa tuổi 15 đến 30 tuổi,

đang sinh sống và học tập và làm việc trong các ngành của nội thành Hà Nội.

Những hoạt động họ thường tham gia và ưa thích, xu hướng của việc biến đổi

trong việc tham gia giải trí và những yếu tố dẫn đến những biến đổi đó.



19



Nghiên cứu về biến đổi kinh tế - xã hội ở Việt Nam nói chung không phải

là một đề tài mới mẻ, tuy nhiên không phải trong công trình nghiên cứu nào

về biến đổi xã hội cũng đề cập đến sự biến đổi về việc tham gia các hoạt động

giải trí văn hóa của người dân. Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ tập trung vào

phân tích sự biến đổi xã hội ở các khía cạnh: điều kiện kinh tế, y tế, giáo dục,

văn hóa nói chung hoặc nghiên cứu sự tham gia của một nhóm xã hội vào các

hoạt động cộng đồng xã hội. Vì vậy, học viên đã lựa chọn đề tài “Tìm hiểu

một số biến đổi các hoạt động giải trí văn hoá của nông dân đồng bằng Bắc

bộ hiện nay” nghiên cứu trường hợp thành phố Hải Phòng làm đề tài luận văn

thạc sỹ với mong muốn đóng góp làm phong phú những các cứ liệu vào hệ

thống nghiên cứu về biến đổi xã hội nói chung.

1.3 Các khái niệm công cụ

1.3.1 Người nông dân

Theo định nghĩa của “Bách khoa toàn thư mở Wikipedia” nông dân là những

người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp. Nông dân

sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất

chính là đất đai. Tùy từng quốc gia, từng thời kì lịch sử, người nông dân có

quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất. Họ hình thành nên giai cấp nông dân,

có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội. Trong lịch sử, nhiều nền văn minh lấy

nông nghiệp làm nền tảng đã phát triển giai cấp nông dân, được tổ chức chặt

chẽ nhất là trong nền văn minh Ai Cập. Đến thời kỳ Hy Lạp, La Mã, hình

thành dần tầng lớp tiểu nông từ những cơ sở ruộng đất lớn của chủ đất hay

chúa đất. Tiếp đó, ở nông thôn tầng lớp phú nông, địa chủ, cùng với tư sản

thành thị. Ngày nay, nông dân có sinh hoạt tổ chức khác nhau trên từng địa

phương, quốc gia. Nhìn chung, nông dân là những người nghèo, bị phụ thuộc

vào các tầng lớp trên. Ở các quốc gia vùng châu thổ các sông lớn ở Đông Nam

Á, người nông dân lao động nặng nhọc nhưng hiệu quả công việc và năng suất



20



lao động thấp. Ở các nước phương Tây, trung nông là tầng lớp quan trọng,

tầng lớp tiểu nông ngày các ít đi. Ở Mỹ, chủ trang trại có sự hợp đồng với các

công ty vật tư, hóa chất, cơ khí và sử dụng các nhân công tạm thời. Các chủ

trang trại chiếm 10% dân cơ nhưng nông dân làm ra hai phần sản lượng nông

nghiệp của Mỹ.

1.3.2 Khái niệm nhu cầu giải trí

Có 6 nhu cầu xã hội cơ bản của con người trong đó có nhu cầu giải trí - tái

sáng tạo. Đó là nhu cầu nghỉ ngơi và tinh thần bằng chuyển trạng thái hoạt

động: từ các hoạt động sinh tồn sinh vật sang các hoạt động thẩm mỹ. Nhu cầu

chính yếu là tái nhận thức hiện thực theo phương thức thẩm mỹ. Các nhu cầu

phụ thuộc là sự sản xuất và tiêu thụ tác phẩm biểu tượng tính, sự phát triển các

năng lực cảm thụ thẩm mỹ, chế độ thời gian rỗi, thiết chế thời gian rỗi và

phương tiện giải trí.

Giải trí là một dạng hoạt động của con người đáp ứng nhu cầu phát triển của

con người về thể chất, trí tuệ (theo Bách khoa toàn thư mở). Nó không chỉ là

nhu cầu của mỗi cá nhân mà là nhu cầu của đời sống cộng đồng. Theo tác giả

Đoàn Văn Chúc, có bốn dạng hoạt động mà con người phải thực hiện trong đó

có hoạt động thuộc đời sống tinh thần của mỗi cá nhân như thưởng thức nghệ

thuật, chơi các trò chơi, sinh hoạt văn hóa, đặc biệt là hoạt động tham gia các

hoạt động giải trí văn hóa để thỏa mãn nhu cầu tinh thần của mỗi người. Dưới

góc độ văn hoá, nhu cầu giải trí được xác định là nhu cầu sản xuất và tiêu thụ

các tác phẩm văn hoá.

1.3.3 Khái niệm giải trí văn hóa

Trong xã hội hiện đại ngày nay, có rất nhiều hình thức giải trí, nó tùy thuộc

vào sở thích vào nhu cầu, điều kiện vật chất của mỗi người. Tuy nhiên chúng

ta cần phân biệt giải trí văn hóa với các loại hình giải trí khác. Theo cách hiểu



21



của tác giả thì “Giải trí văn hóa là loại hình giải trí mà con người tham gia

vào có mục đích cụ thể, được pháp luật cho phép và phù hợp với thuần phong

mỹ tục của cộng đồng”. Như vậy chúng ta thấy rằng nếu hiểu theo nghĩa như

vậy thì nhưng hoạt động như xem tivi, đi lễ chùa, đi nhà thờ, đọc báo, nghe

đài, sinh hoạt tại những câu lạc bộ… là những hoạt động giải trí văn hóa, bổ

ích của người dân. Có những hoạt động phi văn hóa, đối lập với giải trí văn

hóa, đó là những hoạt động giải trí mà con người tham gia vào nhưng không

được sự cho phép của pháp luật và phong tục tập quán. Ví dụ những hoạt động

như hút ma túy, mại dâm, đánh bạc, các cược…. đó là những hoạt động mà

pháp luật Việt Nam không cho phép. Đối với nhiều người coi đó là cách giả trí

tốt đối với họ, nhưng thực sự đó là những hoạt động ảnh hưởng lớn tới xã hội,

gia đình và tới bản thân cá nhân khi họ tham gia vào. Những hoạt động đó có

thể coi là những tệ nạn xã hội.

1.3.4 Khái niệm thời gian rỗi

Trong bất kỳ thời đại nào con người cũng tiêu dùng thời gian rỗi cho bốn loại

hoạt động:

- Hoạt động lao động xã hội

- Hoạt động thuộc các quan hệ cá nhân trong đời sống xã hội

- Hoạt động duy trì, bảo vệ đời sống vật chất cá nhân nhằm thoả mãn

các nhu cầu cá nhân.

- Hoạt động thuộc đời sống tinh thần của cá nhân.

Loại hoạt động thứ tư là số thời gian còn lại của mỗi người sau khi đã làm

xong ba loại bổn phận trên. Người ta gọi đó là thời gian rỗi, đặc điểm của nó

là con người có thể tự do làm những gì mình thích, và đó là sự chuyển từ hoạt

động tất yếu, cưỡng bức sang tự do, tự giác, tự nguyện.



22



Theo tác giả Chu Khắc trong bài viết “Vấn đề quỹ thời gian trong sinh hoạt

gia đình hàng ngày”, các nhà xã hội học đã chia quỹ thời gian ra làm ba bộ

phận:

- Thời gian lao động sản xuất là thời gian người lao động dành cho hoạt

động sản xuất và công tác ở cơ quan, xí nghiệp, nhà máy... ;

- Thời gian ngoài sản xuất hoặc thời gian sinh hoạt cần thiết là thời gian thực

hiện những công việc bức thiết và thỏa đáng cho các nhu cầu sống (nhiều

tác giả gọi thời gian này là thời gian tự do);

- Thời gian rỗi là lúc con người được thảnh thơi hoàn toàn và tùy thích cá

nhân mà lựa chọn hình thức tự thể hiện

Trong bài viết này, thời gian rỗi được hiểu là thời gian con người thoát khỏi

công việc kiếm sống và tự do lựa chọn các hình thức thể hiện.

1.3.5 Biến đổi xã hội

Biến đổi là những thay đổi có thể diễn ra theo chiều hướng tiến bộ,

nhưng có thể không diễn ra theo hướng tiến bộ mà lại suy thoái, thoái triển

hoặc có thay đổi, song không phải là sự đi lên hay đi xuống mà có thể chỉ là

sự mở rộng hoặc thu hẹp. Biến đổi xã hội luôn được các nhà nghiên cứu về xã

hội, đặc biệt là các nhà xã hội học quan tâm. Các nhà xã hội học kinh điển

như Karl Marx, A. Comte, H. Spencer hay E. Durkhiem luôn coi biến đổi xã

hội là vấn đề cơ bản của xã hội. Nếu không có sự biến đổi xã hội thì các xã

hội sẽ luôn ở trạng thái gốc. Biến đổi xã hội là một quá trình xã hội về những

thay đổi trong cơ cấu của một hệ thống xã hội.

Một cách hiểu rộng nhất về biến đổi xã hội cho đó là một sự thay đổi so sánh

với một tình trạng xã hội hoặc một nếp sống có trước. Tuy nhiên có một khái

niệm về biến đổi xã hội khá phổ biến và được nhiều người chấp nhận, đó là:

“Biến đổi xã hội là một quá trình qua đó những khuôn mẫu của các hành vi xã



23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Tải bản đầy đủ ngay(117 tr)

×