Tải bản đầy đủ - 123 (trang)
So sánh tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam trước và sau cuộc khủng khoảng tài chính toàn cầu cho thấy một số đặc điểm sau:

So sánh tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam trước và sau cuộc khủng khoảng tài chính toàn cầu cho thấy một số đặc điểm sau:

Tải bản đầy đủ - 123trang

76



cho thấy một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, tỷ trọng vốn đầu tư FDI đóng góp vào tổng vốn đầu tư toàn xã hội

giai đoạn sau tăng gấp đôi giai đoạn trước khủng khoảng kinh tế: Giai đoạn 2000 –

2007, tổng vốn đầu tư FDI chiếm 20,3% trong cơ cấu đầu tư vốn toàn xã hội (chiếm

13,3% vào cả thời kỳ 2000-2006 và đạt 27% trong năm 2007) thì con số này tăng

lên trên 24% trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đặc biệt là năm 2008, chiếm hơn

30% (Hình 2.13 mục 2.13)

Thứ hai, ảnh hưởng của khủng khoảng kinh tế làm cho tốc độ GDP của khu

vực FDI giảm so với những năm trước khủng khoảng kinh tế nhưng tỷ trọng đóp

góp vào GDP cả nước giai đoạn sau vẫn cao hơn giai đoạn trước: bình quân khoảng

16,25% /năm trong giai đoạn 2000 – 2007 thì con số này tiếp tục tăng trong trong

các năm 2008 – 2013 với bình quân 19%). (Hình 2.14 và Hình 2.15). Cho thấy, sự

ảnh hưởng của cuộc khủng khoảng kinh tế đã tác động làm giảm mức tăng trưởng

GDP của khu vực FDI.

Thứ ba, FDI cả 2 giai đoạn, lĩnh vực đầu tư chủ yếu vào khu vực công

nghiệp xây dựng và chế biến với mức công nghệ trung bình và thấp. Nhưng tốc độ

tăng trưởng ngành công nghiệp khu vực FDI luôn có tốc độ tăng trưởng cao hơn

tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp chung của cả nước (Hình 2.16).

Thứ tư, FDI đóng góp vào quá trình xuất nhập khẩu duy trì tỷ lệ ở mức

ổn định hơn so với cả nước, giai đoạn sau còn có những đóng góp tích cực làm

xu hướng thay đổi tích cực của cán cân thương mại (từ một nước nhập siêu

thành xuất siêu trong những năm 2012, 201, Hình 2.18).

Tóm tắt chương 2

Sau khi đi đánh giá thực trạng thu hút vốn FDI vào Việt Nam trong giai đoạn

2000 – 2013, và tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam cho thấy có

những mặt tích như sau; (i) về cơ bản, cả vốn đăng ký và vốn đăng ký FDI đều tăng

về quy mô và dần ổn định; (ii) khu vực FDI có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn các

khu vực kinh tế khác và đóng góp tỷ trọng ngày càng lớn vào GDP làm thúc đẩy



77



tăng trưởng kinh tế; (iii) đóng góp trong việc cải thiện cán cân thương mại khi hoạt

động xuất nhập khẩu chiếm tỷ trọng ngày càng cao vào hoạt động xuất nhập khẩu

của cả nước. Đặc biệt, từ 2012 đến nay, đưa Việt Nam chuyển từ nước nhập siêu đã

bắt đầu chuyển sang xuất siêu nhờ xuất siêu của khu vực doanh nghiệp FDI lớn

trong khi khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn tiếp tục nhập siêu; (vi) mặc dù khu

vực doanh nghiệp FDI chiếm tỷ trọng không cao trong toàn bộ khu vực doanh

nghiệp về các chỉ tiêu như số doanh nghiệp, lao động, vốn và doanh thu, nhưng khu

vực này lại chiếm tỷ trọng cao về lợi nhuận và nộp ngân sách nhà nước; (v) đóng

góp phần đáng kể vào giải quyết việc làm của nền kinh tế; nâng cao thu nhập bình

quân lao động so với mặt bằng thu nhập chung của cả nước. Bên cạnh những mặt

tích cực thì khu vực FDI còn một số hạn chế: (i) cơ cấu phân bố FDI ảnh hưởng làm

mất cân đối tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế; (ii) tình trạng chuyển giá “ lãi

thật, lỗ giả” kéo dài và gia tăng làm thất thu nguồn ngân sách nhà nước; (iii) gia

tăng nguy cơ chuyển giao công nghệ lạc hậu; (iv) gây ô nhiễm môi trường vv…



78



CHƯƠNG 3

MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA

FDI TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

Nội dung chương này nhằm ước lượng mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng

kinh tế trong giai đoạn 2000 – 2013 của 63 tỉnh/ thành phố trên cả nước thông qua

phương pháp kinh tế lượng. Qua đó kiểm định thực chứng về mối quan hệ và vai trò

của FDI tới tăng trưởng kinh tế và ảnh hưởng của các yếu tố tới FDI trong đó có

tăng trưởng kinh tế giữa 2 thời kỳ trước và sau cuộc khủng khoảng toàn cầu.



3.1. Số liệu và mô tả biến số

3.1.1. Số liệu

Số liệu sử dụng cho mô hình định lượng là bộ số liệu mảng được thu thập

và tính toán từ Tổng cục Thống kê, Bộ số liệu mảng được xây dựng dựa trên bộ

điều tra tỉnh của 63 tỉnh/ thành của cả nước giai đoạn 2000 – 2013.



3.1.2. Mô tả biến số

Biến GDP (Nghìn USD) là giá trị của GDP thực tế của mỗi tỉnh/ thành phố

qua các năm, được tính theo giá so sánh năm 1994 và được quy đổi sang USD theo

tỷ giá cuối kỳ. Biến này đại diện cho quy mô gia tăng sản lượng, thu nhập của mỗi

tỉnh/ thành phố, phản ánh mức sống hay sức mua tại thị trường địa phương.

Biến FDI (Nghìn USD) được phản ánh giá trị dòng vốn FDI giải ngân vào

các tỉnh/ thành phố hàng năm. Giá trị này được xác định theo dòng vốn FDI đăng

ký mới hằng năm chứ không phải giá trị tích lũy.

Biến Pop (Người) đại diện cho lực lượng lao động tiềm năng thông qua

quy mô dân số tại mỗi tỉnh/ thành. Khu vực có quy mô dân số lớn thường có lợi

thế hơn các khu vực lân cận trong việc thu hút FDI.

Biến (Open) phản ánh độ mở cửa kinh tế, được xác định bằng cách lấy tổng

kim ngạch xuất nhập khẩu chia cho GDP thực tế hàng năm của mỗi tỉnh/ thành.



79



Bảng 3.1. Mô tả thống kê của các biến được sử dụng



Variable



Obs



Mean



Std. Dev



Min



Max



Ln_GDP



388



9.315.065



11.773



6.182.085



1.355.033



Ln_FDI



88



7.204.683



2.230.913



0.3869617



1.202.203



Ln_Pop



388



7.022.214



0.5636424



5.627.621



8.968.142



Open



388



0.7475099



1.280.961



0



1.355.746



Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ dữ liệu nghiên cứu dựa trên phần mềm Stata

Nhìn vào bảng mô tả thống kê trên cho thấy mức độ dao động của các biến

Ln_Pop, Open là tương đối ổn định qua các năm. Ln_GDP, Ln_FDI phản ánh thu

nhập và lượng vốn FDI thực hiện giữa các tỉnh/ thành phố không đồng đều, đây là

do sự phân bổ các vùng miền của Việt Nam có sự chênh lệch rõ rệt giữa các vùng

cao, các tình/ thành phố lân cận và thành phố lớn.

Bảng 3.2. Ma trận tương quan giữa các biến số



LN_GDP



LN_FDI



LN_Pop



LN_GDP



1



LN_FDI



0.03620



1



LN_Pop



-0.01015



0.033407



1



Open



-0.05367



-0.033889



-0.010343



Open



1



Nguồn: Kết quả tính toán từ dữ liệu nghiên cứu dựa trên phần mềm Stata

Có thể nhận thấy các cặp biến trong mô hình đều có hệ số tương quan rất nhỏ

(nhỏ hơn 0,1) cho thấy mối quan hệ giữa các biến có hiện tượng đa cộng tuyến là rất

nhỏ. Mặt khác hệ số phóng đại VIF4 của các biến đều nhỏ hơn 1,1 và giá trị VIF

trung bình bằng 1,001114 (quy ước chung là VIF ≥ 10 mới có dấu hiệu đa cộng

tuyến). Theo đó, các biến được đưa vào mô hình không có hiện tượng đa cộng

4



VIFij = 1/ (1 – R2ij ). Theo như Allisson thì VIF ≥ 2,5 hay R2j > 0,6 hay Rj > 0,775 đã được xem là có



hiện tượng đa cộng tuyến) trang 238 giáo trình “ Kinh tế lượng”, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân (2014).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

So sánh tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam trước và sau cuộc khủng khoảng tài chính toàn cầu cho thấy một số đặc điểm sau:

Tải bản đầy đủ ngay(123 tr)

×