Tải bản đầy đủ - 91 (trang)
2 Các thời kỳ sinh trưởng, phát triển của các dòng, giống đậu tương trong vụ Đông (2006)

2 Các thời kỳ sinh trưởng, phát triển của các dòng, giống đậu tương trong vụ Đông (2006)

Tải bản đầy đủ - 91trang

49



7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18



T4.33

7

33

T4.31

7

43

T4.10

7

45

T4.21

7

43

2501

7

34

T24

7

33

DT2006

7

33

VN10

7

33

VN11

7

32

Tp hon 4

7

33

VX93

7

47

DT96

9

35

- Số ngày từ gieo đến mọc của các giống



53

20

97

56

13

84

63

18

89

59

16

89

51

17

93

47

14

89

46

13

85

47

14

91

45

13

81

46

13

89

60

13

89

45

10

89

tham gia thí nghiệm hầu hết là 7



ngày, trừ hai giống D3.2.1 và DT96 có số ngày nhiều hơn là 9 ngày. Nh vậy

sự chênh lệch giữa các giống là không lớn.

- Thời gian từ gieo đến ra bắt đầu ra hoa của các giống tham gia thí

nghiệm giao động từ 28 47 ngày. Đây là thời kỳ sinh trởng sinh dỡng quyết

định đến kích thớc, số lá, số đốt, số hoa của cây. Trong thời kỳ này còn xảy ra

quá trình phân hoá mầm hoa, tích luỹ chất hữu cơ cho quá trình ra hoa, tạo

quả. ở thời kỳ này, đậu tơng phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh, nhiệt độ, độ

ẩm và độ dài ngày. Nhiệt độ tối thích cho thời kỳ sinh trởng thân lá là 20

25oC. Vào thời kỳ ra hoa nhiệt độ thích hợp là 22 28 o C, nếu gặp điều kiện

bất thuận nh lạnh, ẩm ớt trong thời kỳ này sẽ ảnh hởng xấu đến tốc độ ra hoa,

hình thành đốt và phân hóa mầm hoa.

Kết quả bảng 4.3 cho thấy: giống có thời gian từ gieo đến ra hoa ngắn nhất

là D36 chỉ có 28 ngày. Các giống D229, Eo- 18, Eo- 16, Đ250, D3.2.1,

ĐT4.33, Đ2501, ĐT24, ĐT2006, ĐVN11, ĐVN10, Tạp hoàn 4 từ 32 33

ngày; các giống có thời gian dài nhất là ĐT4.3.1, ĐT4.10, ĐT4.21 từ 43 45

ngày.

- Thời gian từ gieo đến kết thúc hoa thay đổi theo giống và thời vụ, các

giống đậu tơng có thời gian ra hoa kéo dài là đặc điểm có lợi cho trong quá

trình chọn giống, là sự điều tiết nhằm khắc phục khi gặp thời tiết bất thuận.



50



Quá trình này phụ thuộc bản chất di truyền của giống song cũng chịu ảnh hởng của yếu tố ngoại cảnh. Khi nở hoa trong điều kiện thuận lợi các giống có

xu hớng về thời gian nở hoa ngắn hơn. Kết quả theo dõi trình bảy ở bảng 4.3

cho thấy các giống có thời gian từ mọc đến kết thúc hoa là khác nhau từ 42

63 ngày: có 10 giống thời gian từ gieo đến kết thúc ra hoa là 42 47 ngày,

các giống D3.2.1, ĐT4.10, ĐT4.21 là có thời gian 60 ngày. Giống ra hoa kéo

dài nhất là 20 27 ngày là ĐT4.33 và D3.2.1.

Nh vậy, yếu tố nhiệt độ trung bình 24,7 0C trong những ngày đầu tháng

11/2006 cũng đã tác động thuận lợi đến các mẫu giống thí nghiệm.

- Thời gian sinh trởng( là thời gian từ gieo đến khi quả chín):

Khi hạt đậu tơng phình to kín khoang hạt trong quả, trong hạt lúc đầu

chứa 90% độ ẩm, sau giảm xuống chỉ còn 15 20%, đồng thời với sự tích

luỹ chất khô lúc này toàn bộ lá đã chuyển sang màu vàng (hầu hết các giống

đều rụng lá), đây là thời kỳ chín sinh lý. Khi theo dõi 18 giống cho thấy : thời

gian sinh trởng của các giống tham gia thí nghiệm khác nhau từ 81- 97 ngày,

đa số chiếm nhiều từ 81 89 ngày. Giống Eo 16, Eo- 18, ĐVN11, Đ4.3.1

có thời gian sinh trởng ngắn nhất từ 81- 84 ngày, giống D36, ĐVN10 là 91

ngày, giống có thời gian sinh trởng dài nhất là ĐT4.33 là 97 ngày.

Có thể phân thành 3 nhóm theo thời gian từ khi mọc đến chín.

- Nhóm chín rất sớm (81 ngày): có một giống là ĐVN11.

- Nhóm chín sớm từ 82 đến 89 ngày có 13 giống (D229, E018, E016, 250,

D321, T4.31, T4.10, T4.21, T24, DT2006, Tp hon 4, VX93, DT96.).

- Nhóm chín trung bình từ 91 đến 97 ngày có 4 giống: D36, ĐT4.33,

Đ2501, ĐVN10.

- Theo Lawn, R.J, (1992) [63], những giống có thời gian từ mọc đến ra

hoa mà ngắn thì năng suất sẽ thấp. Do đó bằng con đờng lai tạo, chọn ra

những giống có thời gian từ mọc đến ra hoa dài để tăng năng suất. Thời gian

sinh trởng (mọc thu hoạch) có ảnh hởng rất nhiều đến năng suất và thời vụ



51



gieo trồng. Giống có thời gian sinh trởng ngắn thì sự tích luỹ chất khô thấp,

do đó năng suất kinh tế sẽ thấp. Các giống có thời gian sinh trởng dài, sự tích

luỹ chất khô cao và thờng đạt năng suất kinh tế cao.

4.2.1 ng thỏi tng trng chiều cao cây của các dòng, giống đậu tơng qua cỏc thi k sinh trng phỏt trin.

Thân là một bộ phận quan trọng của cây trồng nói chung và của cây đậu

tơng nói riêng. Thân vừa mang bộ lá, vừa là nơi trung gian vận chuyển các sản

phẩm đồng hoá từ lá về quả và hạt, vận chuyển các chất khoáng và nớc từ rễ

lên lá, điểm sinh trởng, quả và hạt. Chiều cao cây là một chỉ tiêu phản ánh quá

trình sinh trởng của cây. Chiều cao cây có liên quan chặt chẽ đến một số đặc

điểm nông học khác của cây: khả năng chống đổ, số lá/ cây. Chiều cao cây

của các giống đợc quyết định bởi bản chất di truyền, nên các giống khác nhau

thì có chiều cao cây khác nhau. Đồng thời chiều cao cây cũng chịu sự tác

động rất lớn của các yếu tố ngoại cảnh: chế độ nớc, nhiệt độ, ánh sáng, độ

ẩmVì vậy, cùng một giống đậu tơng đem trồng ở từng vụ, và từng điều kiện

sinh thái khác nhau thì chiều cao thân chính cũng khác nhau. Kết quả nghiên

cứu về chiều cao cây trình bày ở bảng 4.4:

Qua bảng 4.4 cho thấy:

Chiều cao cây của các giống tăng dần từ mọc mầm cho đến giai đoạn bắt

đầu hình thành hạt (R5). Tốc độ tăng chiều cao nhanh nhất là giai đoạn từ bắt

đầu hoa (R1) đến giai đoạn bắt đầu quả (R3), sau đó cây sinh trởng chậm dần

và ngừng tăng trởng về chiều cao ở giai đoạn hình thành hạt (R5).



Chiều



cao cây biến động nhiều theo giống, ở thời kỳ quả chín, giống DT2006 có

chiều cao cây là 40,8cm thấp nhất trong các giống, giống ĐT4.21 cao tới

63,9cm, gấp rỡi giống DT2006. Điều này cho thấy chiều cao cây có liên quan

chặt chẽ với đặc điểm di truyền của giống. Các giống có thân chính quá cao

thờng dễ đổ khi gặp ma, gióKhi cây đổ sẽ làm giảm năng suất rất nhiều,từ

13% hoặc hơn nữa (Kilen, T.C.,1975)[61]. Cây đổ còn gây khó khăn cho quá



52



trình thu hoạch.

Ngợc lại, khi cây quá thấp, tuy cứng cây, ít đổ, nhng những giống này thờng có số lá/ cây thấp, do đó diện tích lá, thời gian diện tích lá thấp, dẫn đến

khả năng tích luỹ chất khô thấp, do đó không thể đạt năng suất cao đợc.



53



Bảng 4.4 : Động thái tăng trởng chiều cao cây của các dòng, giống đậu tơng qua các thời kỳ sinh trởng, phát triển (cm)

TT



Thời kỳ R1



R3



R5



R7



1

2



Giống

D229

D36



24,9

29,9



37,4

39,5



57,6

50,5



59,5

57,8



3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18



E018

E016

250

D321

T4.33

T4.31

T4.10

T4.21

2501

T24

DT2006

VN10

VN11

Tp hon 4

VX93

DT96



25,4

26,9

21,4

23,2

24,1

25,5

32,8

23,4

31,0

24,7

26,1

26,8

25,9

21,6

25,5

21,4



36,6

34,1

30,0

29,2

47,4

31,9

40,3

42,6

36,1

40,5

38,5

36,9

32,0

37,4

38,2

41,5



37,4

42,3

28,9

41,5

65,6

49,4

46,6

60,1

42,4

52,4

38,5

40,5

38,1

46,5

48,5

50,7



45,2

45,7

48,5

50,6

61,9

52,8

48,3

63,9

48,9

55,9

40,8

44,5

42,1

51,6

58,8

52,9



54



Hỡnh 4.1: ng thỏi tng trng chiu cao cõy thi k R7



55



4.2.2. Ch s din tớch lỏ ca cỏc dũng, ging u tng qua cỏc thi

k sinh trng, phỏt trin

Lá là bộ phận quan trọng giữ vai trò chủ đạo trong mọi hoạt động sống

của cây nói chung và của cây đậu tơng nói riêng. Vai trò quan trọng nhất của

lá là quang hợp. Đối với trồng trọt thì quang hợp là nguồn gốc để tạo ra năng

suất và phẩm chất cây trồng, quyết định 90 -95% năng suất cây trồng. Sự sinh

trởng và phát triển của bộ lá là một quá trình mang những đặc điểm sinh lý

theo thời gian sinh trởng và chín, sự tác động về những biến đổi về mặt sinh lý

và cấu trúc bên trong cũng nh hình thái bên ngoài, và nó cũng chịu ảnh hởng

sâu sắc bởi điền kiện ngoại cảnh nh chế độ ánh sáng, dinh dỡng khoáng, chế

độ nớc, nhiệt độ không khí. Từ đó cho thấy sự cần thiết nghiên cứu bộ lá, sự

sinh trởng phát triển của bộ lá trong việc nghiên cứu yếu tố sinh lý hạn chế

năng suất đậu tơng.

Sự phát triển của bộ lá phản ánh rất rõ sự sinh trởng, phát triển của cây

trồng. Trong điều kiện ánh sáng đầy đủ với ngỡng nhiệt độ thích hợp và chăm

sóc hợp lý, chỉ số diện tích lá (LAI) là yếu tố quan trọng quyết định năng suất

sinh vật học của cây trồng. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa LAI với năng suất,

nhất là năng suất kinh tế không phải luôn luôn xảy ra thuận chiều, đặc biệt là

những giống cây trồng có yêu cầu tơng đối khắt khe với điều kiện ngoại cảnh

để phân hoá mầm hoa, đậu quả. LAI phụ thuộc vào số cây/đơn vị diện tích và

giống cây trồng. Các giống khác nhau ở giai đoạn khác nhau có LAI khác

nhau.

Kết quả nghiên cứu về trị số trung bình của chỉ số diện tích lá đợc trình

bày ở bảng 4.5 :



56



Bảng 4.5: Chỉ số diện tích lá của các dòng, giống đậu tơng qua các

thời kỳ sinh trởng phát triển (m2 lá/ m2 đất)

Thời kỳ

Giống

D229

D36

E018

E016

250

D321

T4.33

T4.31

T4.10

T4.21

2501

T24

DT2006

VN10

VN11

Tp hon 4

VX93

DT96



V5



R1



R3



R5



R7



0,92

0,86

0,88

0,72

0,85

0,70

0,93

0,90

0,84

1,16

0,95

0,82

0,86

0,95

0,94

087

0,78

0,82



1,70

1,65

1,40

1,35

1,68

1,18

1,54

1,82

1,74

1,56

2,30

1,69

1,73

1,82

1,78

1,85

1,76

1,80



2,18

2,26

2,01

2,05

2,19

1,29

2,09

1,62

2,70

2,10

2,52

3,16

3,24

2.75

1.98

2.20

2.50

2.65



2,98

3,10

2,34

2,24

2,64

1,38

2,45

2,14

3,48

2,22

3,00

3,90

3,55

3,20

2,86

2,95

3.15

3.02



0,54

0,58

0,55

0,65

0,60

0,74

0,50

0,38

0,65

0,75

0,44

0,78

0,65

0,48

0,22

0,32

0,24

0,54



Biu 4.2: Ch s din tớch lỏ ca cỏc ging u tng qua cỏc thi

k sinh trng phỏt trin.



57



Kết quả bảng 4.5 cho thấy :

Trong điều kiện vụ Đông diện tích lá của các giống đậu tơng tăng dần từ

khi có lá thật đầu tiên đến thời kỳ bắt đầu làm hạt (R5) là thời kỳ cây đạt diện

tích lá cao nhất. Diện tích lá tăng nhanh nhất là từ giai đoạn bắt đầu ra hoa

(R1) đến bắt đầu hình thành quả (R3). Diện tích lá giảm nhanh nhất là ở giai

đoạn bắt đầu chín (R7). Giữa các giống, diện tích lá khác nhau rất nhiều, diện

tích lá cao nhất của giống D321 chỉ đạt 1,37m 2lá/m2đất, một số giống đạt tới

3m2lá/m2đất, giống D36:3,10; ĐT4.10: 3,48; DT2006: 3,55; ĐT24 đạt 3,90

m2lá/m2đất. Điều này cho thấy chỉ số diện tích lá của mỗi giống đợc quyết

định rất lớn bởi yếu tố di truyền (tức là kiểu gen). Do đó nó cũng cho thấy khả

năng cải tiến diện tích lá qua các con đờng lai tạo, để tạo ra những giống có

bộ lá thích hợp, cho năng suất cao . Theo nhiều tác giả thì chỉ số diện tích lá

trên dới 4 là thích hợp nhất đối với cây đậu tơng để đạt năng suất cao và ổn

định (Whigham, D.K.,1983.)[70]. Nh vậy chỉ số diện tích lá của các giống vẫn

cha đạt đến ngỡng chỉ số diện tích lá tối thích cho năng suất cao. Đây cũng là

một yếu tố hạn chế năng suất đậu tơng đông.

4.2.3. Trọng lợng riêng lá của các dòng, giống đậu tơng qua các thời

kỳ sinh trởng, phát triển.

Trọng lợng riêng lá là trọng lợng khô của một đơn vị diện tích lá, đơn

vị tính là gam/dm2 lá hoặc gam/m2lá. Trọng lợng riêng lá (Specific leaf weight

SLW) có liên quan chặt chẽ với bề dày lá.

Ngoài khái niệm trọng lợng riêng lá, nhiều tác giả còn dùng khái

niệm diện tích lá của một đơn vị trọng lợng lá là số nghịch đảo của trọng lợng

riêng lá. Kết quả nghiên cứu về trọng lợng riêng lá của các dòng, giống đậu tơng đợc trình bày ở bảng 4.6:



58



Bảng 4.6: Trọng lợng riêng lá của các giống đậu tơng qua

các thời kỳ sinh trởng và phát triển (gam/dm2 lá)

Thời kỳ

Giống

D229

D36

E018

E016

250

D321

T4.33

T4.31

T4.10

T4.21

2501

T24

DT2006

VN10

VN11

Tp hon 4

VX93

DT96



V5



R1



R3



R5



R7



0,27

0,25

0,26

0,25

0,26

0,25

0,24

0,24

0,24

0,24

0,24

0,25

0,25

0,24

0,26

0,25

0,24

0,25



0,29

0,28

0,31

0,35

0,31

0,25

0,28

0,26

0,29

0,31

0,28

0,26

0,27

0,25

0,26

0,28

0,26

0,27



0,38

0,39

0,44

0,45

0,40

0,36

0,39

0,35

0,37

0,34

0,36

0,38

0,33

0,34

0,36

0,37

0,35

0,36



0,54

0,52

0,52

0,53

0,51

0,48

0,49

0,44

0,46

0,46

0,56

0,40

0,50

0,51

0,45

0,46

0,48

0,46



0,80

0,68

0,76

0,80

0,75

0,69

0,75

0,81

0,75

0,70

1,02

0,76

0,69

0,78

0,80

0,72

0,70

0,74



59



Biu 4.3: Trng lng cht khụ cõy ca cỏc ging u tng qua

cỏc thi k sinh trng phỏt trin.

Kết quả bảng 4.6 cho thấy:

ở tất cả các giống đậu tơng nghiên cứu, trọng lợng riêng lá tăng liên tục

theo thời gian sinh trởng và phát triển. ở thời kỳ quả bắt đầu chín (R7) trọng

lợng riêng lá đạt cao nhất, và lớn gấp 3 lần so với thời kỳ có 5 lá thật (V5).

Trong cùng một thời kỳ biến động về trọng lợng riêng lá giữa các giống không

lớn, khoảng 20%. Nhng ở thời kỳ hạt bắt đầu phát triển (R5) trọng lợng riêng

lá giữa các giống bắt đầu có sự sai khác nhau, nhất là thời kỳ quả bắt đầu chín,

trọng lợng riêng lá giữa các giống chênh lệch nhau gần gấp 2 lần. Trọng lợng

riêng lá ở thời kỳ V5 giao động rất ít, từ 0,24 0,26, ở thời kỳ R1 giao động

từ 0,25 ở giống D321 đến 0,31g/dm2lá ở giống Eo 18 và ĐT4.21, thời kỳ

R7 trọng lợng riêng lá giao động từ 0,68 ở giống D36 đến 1,02g/dm 2lá ở

giống Đ2501.

Khi nghiên cứu về tỷ số diện tích lá của các tầng lá khác nhau, Bowes,

G,. và cộng sự, (1972) [47], cho rằng trọng lợng riêng lá và cờng độ đồng hoá

CO2 tăng lên khi cờng độ ánh sáng tăng. Dornhoff G.M,(1970) [52], đã chú ý

mối quan hệ tơng quan giữa trọng lợng riêng lá và cờng độ quang hợp, ông đề

nghị coi nó nh là một chỉ tiêu để chọn giống có cờng độ quang hợp cao.

Koller, H.R., (1972) [62], cho rằng trọng lợng riêng lá ở các tầng lá khác nhau

có chiều hớng tăng dần từ gốc đến ngọn. Các tác giả cũng cho thấy trọng lợng

riêng lá biến động trong khoảng từ 0,3 0,5gam/dm 2lá. Giá trị tối đa đạt lúc

ra hoa rộ, sau đó giảm xuống thấp nhất khoảng 0,37 gam/dm 2lá vào thời kỳ

tạo hạt và sau đó lại tăng dần đến 0,5gam/dm2lá vào thời kỳ cuối.

Nh vậy kết quả nghiên cứu về trọng lợng riêng lá trong điều kiện vụ đông

ở nớc ta có sự khác biệt là: trọng lợng riêng lá tăng dần suốt thời kỳ bắt đầu ra

hoa (R1) đến thời kỳ bắt đầu quả chín (R7). Đây là một vấn đề đáng quan tâm,

vì trọng lợng riêng lá đậu tơng cao vào thời kỳ cuối có liên quan chặt chẽ với sự



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Các thời kỳ sinh trưởng, phát triển của các dòng, giống đậu tương trong vụ Đông (2006)

Tải bản đầy đủ ngay(91 tr)

×