Tải bản đầy đủ - 106 (trang)
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TIẾP THEO

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TIẾP THEO

Tải bản đầy đủ - 106trang

của khách hàng, lợi nhuận của khách hàng, chi phí hoạt động của ngân hàng, môi

trƣờng kinh tế và triển vọng phát triển.

-



Lãi suất thị trƣờng: Lãi suất do Ngân hàng đƣa ra nếu quá xa rời với mặt bằng

lãi suất của thị trƣờng thì sẽ không huy động đƣợc tiền gửi (nếu lãi suất quá

thấp) hoặc sẽ không cho vay đƣợc (nếu lãi suất quá cao). Vì vậy, lãi suất kinh

doanh ngân hàng cần xem xét đến lãi suất thị trƣờng.



-



Lợi nhuận của khách hàng: Ngân hàng chỉ có thể tồn tại và phát triển khi các

khách hàng sử dụng vốn vay của ngân hàng một cách có hiệu quả, nhƣ vậy lợi

nhuận của khách hàng gắn liền với lợi nhuận của ngân hàng. Mức lãi suất của

ngân hàng phải nhỏ hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân của các doanh nghiệp hoạt

động trong những ngành nghề, lĩnh vực kinh tế nhất định.



-



Chi phí hoạt động của ngân hàng: Lãi suất cho vay đƣợc ấn định sao cho thu

nhập từ lãi trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng phải bù đắp đủ chi phí và

tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng.



-



Môi trƣờng kinh tế và triển vọng phát triển của nền kinh tế: Trong môi trƣờng

kinh tế ổn định thì lãi suất ngân hàng thƣờng thấp vì ít rủi ro, thu nhập của nhà

kinh doanh ổn định. Ngƣợc lại, nền kinh tế chƣa ổn định thì lãi suất ngân hàng

cao vì chỉ có lãi suất cao mới đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tƣ. Một nền kinh tế có

triển vọng phát triển cao sẽ làm tăng cầu về vốn dẫn đến lãi suất tăng và ngƣợc

lại.



-



Trong cơ chế tự do hóa lãi suất thì lãi suất do cung cầu vốn trên thị trƣờng tiền

tệ quyết định nhƣng lãi suất này lại chịu tác động của những nhân tố trên do vậy

ngân hàng nên nghiên cứu những nhân tố tác động đó để có chính sách lãi suất

thích hợp.

3.1.1.3. Định hướng điều hành lãi suất theo cơ chế linh hoạt

Hiện tại, Ban điều hành tại Trụ sở chính của Ngân hàng nông nghiệp và phát



triển nông thôn Việt Nam đều có văn bản chỉ đạo về lãi suất huy động vốn và cho vay

đối với toàn bộ hệ thống trong từng thời kỳ phù hợp với các văn bản điều hành lãi suất

của Ngân hàng nhà nƣớc. Căn cứ vào đó các chi nhánh ấn định ra các mức lãi suất huy



73



động vốn và cho vay cố định phù hợp với tình hình cạnh tranh giữa các ngân hàng trên

địa bàn chi nhánh đó hoạt động, đối tƣợng khách hàng mục tiêu của chi nhánh, song

mức lãi suất này thƣờng chỉ phân theo kỳ hạn huy động, cho vay (ngắn hạn, trung hạn,

dài hạn) chứ chƣa dựa trên việc đánh giá hiệu quả của nguồn vốn huy động hoặc cho

vay cụ thể. Do vậy, trong thời gian tới, Ngân hàng nên chuyển sang phƣơng thức quản

trị lãi suất linh hoạt. Để thực hiện phƣơng thức quản trị lãi suất linh hoạt, ngân hàng

nên thực hiện:

-



Xây dựng mục tiêu đạt đƣợc về tài sản có cần phải thực hiện của năm kế hoạch;



-



Xây dựng tiêu chuẩn để áp dụng khi thƣơng lƣợng lãi suất đối với khách hàng,

tiêu chuẩn này có thể căn cứ vào các tiêu chí xếp hạng khách hàng đƣợc xây

dựng bởi hệ thống Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

Nhờ vậy, từng nhân viên tác nghiệp có căn cứ thống nhất để thƣơng lƣợng với

khách hàng về lãi suất mà nhà quản trị ngân hàng vẫn có cơ sở để kiểm soát,

tránh đƣợc những trƣờng hợp lạm dụng, ƣu đãi về lãi suất đối với ngân hàng do

nhân viên tác nghiệp gây ra.

Sự thƣơng lƣợng về lãi suất sẽ giúp nhân viên ngân hàng linh hoạt hơn trong



giao dịch với khách hàng về lãi suất, có thể thƣơng lƣợng với lãi suất cao hơn, thấp

hơn hoặc bằng lãi suất quy định. Sự bù qua lại giữa các loại tài sản có là chiến lƣợc để

đạt đƣợc lãi suất mong muốn. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng đạt đƣợc mục tiêu thỏa

mãn nhu cầu của khách hàng về lãi suất có định hƣớng.

Cơ chế phân biệt lãi suất áp dụng đối với từng loại hình cho vay, nhóm khách

hàng và mức độ rủi ro của khoản vay:

Ngân hàng xây dựng các tiêu thức để áp dụng lãi suất đối với từng loại hình cho

vay, nhóm khách hàng và mức độ rủi ro của khoản vay nhƣ sau:

-



Lãi suất cho vay thông thƣờng: Áp dụng đối với khách hàng cá nhân vay tiêu

dùng có hội đủ các điều kiện cho vay theo quy định của ngân hàng; các khoản

vay có kỳ hạn dài, thời gian thu hồi vốn lâu; kinh doanh trong những ngành

nghề, lĩnh vực có mức độ rủi ro cao; các khách hàng chƣa khẳng định đƣợc uy

tín trong quan hệ tín dụng với ngân hàng và trên thị trƣờng.



74



-



Lãi suất cho vay ƣu đãi: Lãi suất này cho phép đƣợc giảm theo một tỷ lệ nhất

định so với lãi suất cho vay thông thƣờng dựa vào các tiêu thức phân loại khách

hàng nhƣ sau:

+ Phân loại khách hàng theo tiêu thức mối quan hệ giữa khách hàng và ngân



hàng: Lãi suất ƣu đãi với khách hàng đã có quan hệ vay nhiều lần và có uy tín;

khách hàng có quan hệ thanh toán và sử dụng nhiều, thƣờng xuyên dịch vụ của

ngân hàng, có số dƣ tiền gửi thanh toán lớn.

+ Phân loại khách hàng theo tiêu thức ngành nghề: ngân hàng nên dành lãi suất

ƣu đãi đối với những ngành, lĩnh vực sản xuất và kinh doanh phục vụ cho mục tiêu

phát triển: những khách hàng hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu, những ngành

nghề phục vụ cho nông nghiệp, phát triển nông thôn.

+ Phân loại khách hàng theo tiêu thức tỷ suất lợi nhuận theo từng dự án có khả

năng đạt đƣợc. Theo nguyên tắc này những dự án có tỷ suất lợi nhuận cao áp dụng

lãi suất cho vay cao hơn dự án có tỷ suất lợi nhuận thấp song vẫn đảm bảo nguyên

tắc lãi suất cho vay nhỏ hơn tỷ suất lợi nhuận của dự án.

Tiêu thức này có thể thực hiện đƣợc vì ngân hàng vẫn đảm bảo đƣợc lợi ích cho

khách hàng vay vốn khi hoàn trả xong lãi vay, dự án vẫn có lãi, về phía ngân hàng có

thể đảm bảo điều hòa lãi suất cho vay bình quân thực hiện đƣợc lợi nhuận dự tính.

Muốn thực hiện đƣợc tiêu thức này, đòi hỏi công tác thẩm định dự án đầu tƣ của

ngân hàng phải đƣợc coi trọng trên cơ sở xác định tỷ suất lợi nhuận kỳ báo cáo và tính

toán tỷ suất lợi nhuận của dự án xin vay vốn để quy định lãi suất cho vay hợp lý.

+ Phân loại khách hàng theo tiêu thức tỷ lệ vốn vay trong tổng số vốn tự có của

doanh nghiệp. Theo nguyên tắc này, áp dụng lãi suất cho vay ƣu đãi đối với những

doanh nghiệp có tỷ lệ vốn vay trong tổng số vốn tự có của doanh nghiệp từ 50% trở

lên. Tiêu thức này nhằm hạn chế bớt rủi ro cho ngân hàng.

+ Phân loại khách hàng theo tiêu thức dự án hoặc hình thức cho vay có mức độ

rủi ro cao hay thấp: Những dự án có mức độ rủi ro cao thì lãi suất cho vay phải cao

hơn những dự án có khả năng mức độ rủi ro thấp; cho vay chiết khấu thƣơng phiếu



75



và các giấy tờ có giá thì mức độ rủi ro thấp hơn cho vay ứng trƣớc đối với các

phƣơng án vay.

Phân quyền và trách nhiệm của các bộ phận trong quyết định lãi suất tiền gửi và

cho vay.

Một chính sách lãi suất linh hoạt phải đƣợc xây dựng, vận hành một cách đồng

bộ, thống nhất, phân định trách nhiệm, quyền hạn của những bộ phận, cá nhân tham gia

vào quá trình hình thành nên lãi suất đối với từng khoản tiền gửi và cho vay.

3.1.2. Quản trị lãi suất huy động

-



Thực hiện các biện pháp để nâng cao thanh toán không dùng tiền mặt nhằm

nâng cao khả năng tạo tiền gửi của hệ thống ngân hàng góp phần hạ thấp chi phí

đầu vào.

Để góp phần hạ thấp đƣợc lãi suất bình quân đầu vào, ngân hàng nên quan tâm



đến việc nâng cao tiền gửi thanh toán của khách hàng, muốn vậy cần phải nâng cao

chất lƣợng phục vụ của khách hàng, khả năng đáp ứng các nhu cầu của khách hàng một

cách nhanh nhất, tốt nhất, cụ thể:

Ngân hàng xây dựng quy trình thanh toán nhanh chóng, an toàn, bảo mật; áp

dụng công nghệ thanh toán hiện đại để phục vụ khách hàng: giao dịch qua Internet,

giao dịch qua điện thoại di động, qua máy ATM,... Đồng thời, ngân hàng cũng nghiên

cứu để đƣa ra các sản phẩm quản lý tài khoản tiền gửi thanh toán cho khách hàng một

cách linh hoạt, đem lại lợi ích về mặt tài chính tốt nhất cho khách hàng.

-



Phƣơng pháp xác định chi phí huy động vốn (lãi suất huy động vốn)

Sự quan tâm chọn lựa các phƣơng pháp xác định chi phí huy động vốn sẽ giúp



cho ngân hàng tính toán chính xác một cách tƣơng đối chi phí huy động vốn đƣợc coi

là yếu tố cơ bản để xác định mức lợi nhuận mà ngân hàng cần thu đƣợc từ các tài sản

có sinh lợi và tìm kiếm cho mình một tổ hợp các nguồn vốn khác nhau trên thị trƣờng

với mức chi phí thấp nhất. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng có cơ sở để nhận định việc sử

dụng nguồn vốn huy động có ảnh hƣởng đến rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất đến mức

độ nào. Hầu hết các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam đều xác định chi phí huy động

vốn theo phƣơng pháp chi phí trung bình theo nguyên giá



76



Chi phí trả lãi



Lãi suất bình quân đầu vào =



Tổng vốn huy động và đi vay



Thƣớc đo chi phí huy động bình quân sẽ có ý nghĩa khi sử dụng để đánh giá tình

hình huy động vốn trong quá khứ.

Tuy nhiên, phƣơng pháp này có nhiều hạn chế nhƣ trong nguồn vốn huy động

của ngân hàng có một bộ phận không mang lại lợi nhuận cho ngân hàng (dự trữ bắt

buộc, dự trữ thanh toán,...), chi phí huy động vốn cần bao hàm cả các chi phí khác có

liên quan đến việc huy động vốn (chi phí tác nghiệp,...). Bên cạnh đó, chi phí theo

nguyên giá này sẽ thiếu độ tin cậy nếu đƣợc ngân hàng sử dụng làm cơ sở để quyết

định sẽ lựa chọn huy động vốn theo loại nào hoặc sẽ định giá tài sản có ra sao khi lãi

suất biến động mạnh.

Để khắc phục những hạn chế của phƣơng pháp trên, ngân hàng nên xác định chi

phí huy động vốn theo phƣơng pháp lãi suất cho vay hòa vốn.

Chi phí trả lãi + Chi phí huy động khác



Lãi suất cho vay hòa vốn =



Tổng tài sản có sinh lời



Lãi suất cho vay hòa vốn là mức lãi suất cho vay tối thiểu chỉ đủ để ngân hàng

bù đắp cho chi phí huy động vốn.

Với phƣơng pháp này sẽ giúp nhà quản trị ngân hàng có mục tiêu tỷ suất sinh

lời trƣớc thuế định hƣớng trƣớc khi quyết định cho vay hay đầu tƣ mới đảm bỏa bù đắp

đƣợc chi phí huy động vốn và có lãi.

Trong thực tế, vốn huy động có nhiều loại lãi suất khác nhau với nhiều kỳ hạn

khác nhau. Do đó, lãi suất của vốn huy động phải đƣợc tính trên tổng thể nguồn vốn

mà Ngân hàng huy động đƣợc. Việc tính toán này phải mang tính chất thƣờng xuyên,

định kỳ nhằm đánh giá đƣợc một cách tổng quan chi phí đầu vào từ đó ngân hàng có cơ

sở để hoạch định chính sách lãi suất đầu ra, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả.

-



Thực hiện tốt mối tƣơng quan giữa lãi suất đầu vào với chỉ số lạm phát, lãi suất

thị trƣờng liên ngân hàng và lãi suất tái cấp vốn.



77



Lãi suất tín dụng đƣợc hiểu là giá cả tín dụng, giá cả này trong điều kiện của

nền kinh tế thị trƣờng phải bảo đảm quyền lợi chính đáng của ngƣời gửi tiền (tiền gửi

không bị mất giá và có lãi) nghĩa là chính sách lãi suất cần đƣợc xây dựng trên cơ sở

lãi suất huy động lớn hơn tỷ lệ lạm phát. Thực hiện, duy trì mối tƣơng quan nhƣ trên

còn tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng thu hút vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế một

cách vững chắc.

Bên cạnh đó, khi xác định lãi suất đầu vào, ngân hàng cần quan tâm đến mối

tƣơng quan với lãi suất trên thị trƣờng liên ngân hàng và lãi suất tái chiết khấu của

Ngân hàng nhà nƣớc nhằm đảm bảo lãi suất đầu vào nhỏ hơn lãi suất trên thị trƣờng

liên ngân hàng và nhỏ hơn lãi suất tái chiết khấu.

Duy trì mối tƣơng quan này sẽ thúc đẩy ngân hàng tìm những biện pháp tốt nhất

để thu hút nguồn vốn huy động cho nhu cầu sử dụng của mình trƣớc khi đi vay trên thị

trƣờng liên ngân hàng và vay Ngân hàng nhà nƣớc nhằm hạ thấp đƣợc chi phí đầu vào.

3.1.3. Quản trị lãi suất cho vay

-



Mức lãi suất đầu ra cần đảm bảo duy trì, phát triển hoạt động của ngân hàng và

đảm bảo cho sự cạnh tranh lành mạnh.

Thu nhập từ hoạt động tín dụng hiện tại vẫn chiếm một tỷ trọng tƣơng đối lớn



(trên 80%) so với tổng thu nhập từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nhƣ vậy, để

cho ngân hàng có thể duy trì, phát triển đƣợc hoạt động kinh doanh của mình đòi hỏi

lãi suất đầu ra của ngân hàng phải trang trải đƣợc các chi phí hợp lý, bù đắp đƣợc rủi ro

và có lãi, nghĩa là: lãi suất cho vay phải lớn hơn lãi suất huy động; lãi suất cho vay phải

nhỏ hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân của các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh trong

nền kinh tế.

-



Định giá lãi suất theo hƣớng kết hợp các phƣơng thức định giá, đặc biệt chú

trọng định giá hƣớng vào cảm nhận giá trị của khách hàng.

Lãi suất là một loại giá cả do thị trƣờng quyết định nhƣng lại chịu tác động của



nhiều nhân tố do đó sẽ ảnh hƣởng đến chính sách lãi suất của từng ngân hàng thƣơng

mại khác nhau.



78



Nếu chỉ dựa vào phƣơng thức định giá hƣớng vào chi phí (kỹ thuật định giá

truyền thống) trên cơ sở tính toán chi phí tham gia vào giá thành dịch vụ làm cơ sở

định giá các khoản vay thì thỏa mãn đƣợc chỉ tiêu lợi nhuận dự tính của ngân hàng

nhƣng có thể không phù hợp với lãi suất thị trƣờng. Chẳng hạn nhƣ do chi phí đầu vào

của ngân hàng quá cao dẫn đến ngân hàng phải định giá lãi suất cho vay cũng cao theo

để đảm bảo lợi nhuận của mình, mức lãi suất này có thể sẽ không đƣợc thị trƣờng chấp

nhận. Hoặc ở một số ngân hàng thƣơng mại chỉ thuần túy định giá hƣớng vào cạnh

tranh trên thị trƣờng bằng cách đƣa ra mức lãi suất cho vay thì không thể cao hơn mặt

bằng lãi suất thị trƣờng dẫn đến ngân hàng sẽ không chủ động xác định đƣợc lợi nhuận

của ngân hàng hoặc có thể bị giảm sút lợi nhuận hoặc thu lỗ do cứ phải chạy theo lãi

suất thị trƣờng.

Do vậy, ngân hàng cần kết hợp phƣơng thức định giá hƣớng vào chi phí và định

giá hƣớng vào cạnh tranh trên thị trƣờng (tham khảo giá thị trƣờng) từ đó điều chỉnh lại

chi phí đầu vào để giảm thấp đƣợc lãi suất đầu ra phù hợp với lãi suất cạnh tranh trên

thị trƣờng.

Chiến lƣợc cung cấp sản phẩm của các ngân hàng thƣơng mại hiện đại là cung

cấp sản phẩm trọn gói cho khách hàng từ cho vay đến dịch vụ thanh toán, mua bán

ngoại tệ, quản lý dòng tiền,… từ đó ngoài nguồn thu từ lãi cho vay ngân hàng còn thu

đƣợc phí cung cấp dịch vụ cho khách hàng.

Vì vậy, nếu chỉ dừng lại ở hai kỹ thuật định giá trên thì khả năng cạnh tranh của

ngân hàng sẽ bị giới hạn, ngân hàng cần đặc biệt kết hợp với kỹ thuật định giá hƣớng

vào cảm nhận giá trị của khách hàng. Ngân hàng có thể thƣơng lƣợng một mức lãi suất

cho vay thấp hơn với những đối tƣợng khách hàng mà ngân hàng xét thấy đó là những

khách hàng mục tiêu từ đó có thể giữ và thu hút thêm nhiều khách hàng mới, đảm bảo

lợi ích cho cả đôi bên.

3.2. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI

SUẤT TẠI NGÂN HÀNG

3.2.1. Hoàn thiện mô hình quản trị rủi ro lãi suất



79



Hoàn thiện mô hình quản trị rủi ro lãi suất bao gồm việc hoàn thiện bộ máy quản trị

rủi ro lãi suất và quy trình quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng.

3.2.1.1. Hoàn thiện bộ máy quản trị rủi ro lãi suất

Bộ máy quản trị rủi ro lãi suất phải thống nhất với bộ máy quản trị điều hành, mô

hình tổ chức của ngân hàng. Nhƣ vậy, cấp cao nhất thực hiện quản trị rủi ro lãi suất

chính là Hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị xây dựng chiến lƣợc, chính sách quản trị

rủi ro lãi suất. Bộ máy tiếp theo chính là Ban điều hành, Ban điều hành căn cứ vào

chiến lƣợc và chính sách quản trị rủi ro lãi suất đã đƣợc Hội đồng quản trị xây dựng để

đề ra cách thức thực hiện bằng việc đƣa ra các kế hoạch, các hạn mức và phân cấp mức

phán quyết để các chi nhánh trong hệ thống thực hiện. Các chi nhánh trong hệ thống

Ngân hàng chính là các đơn vị trực tiếp thực hiện các chỉ đạo của Ban điều hành trong

quản trị rủi ro lãi suất: thực hiện quản trị tài sản nợ - tài sản có, vốn chủ sở hữu đối với

Bảng cân đối kế toán của mình.

Để bộ máy quản trị rủi ro lãi suất vận hành tốt, Ngân hàng phải quy định chức

năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng bộ phận trong quá trình quản trị phù

hợp với quy trình quản trị rủi ro lãi suất của Ngân hàng đã đƣợc xây dựng. Quy trình

quản trị rủi ro lãi suất đƣợc xây dựng hoàn thiện tới đâu, nếu bộ máy thực hiện không

tốt thì quy trình rủi ro cũng không thể phát huy đƣợc hiệu quả. Các chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng cá nhân, từng bộ phận đƣợc trình bày cụ thể trong

mục 3.2.1.2 dƣới đây gắn liền với từng khâu trong quy trình quản trị rủi ro lãi suất của

Ngân hàng.

3.2.1.2. Hoàn thiện quy trình quản trị rủi ro lãi suất

Hoàn thiện quy trình quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng bao gồm hoàn thiện các

công việc nhƣ sau: quy định trách nhiệm về rủi ro lãi suất của Hội đồng quản trị và Ban

điều hành; các chính sách và thủ tục quản trị rủi ro phù hợp; các chức năng đo lƣờng,

giám sát và kiểm soát rủi ro; kiểm soát nội bộ; thông tin cung cấp cho các đơn vị giám

sát; mức độ an toàn vốn.

Hội đồng quản trị có trách nhiệm cuối cùng cho sự hiểu biết về bản chất và mức độ

rủi ro lãi suất của Ngân hàng. Thực hiện trách nhiệm của mình, Hội đồng quản trị cần



80



phê duyệt các chiến lƣợc và chính sách liên quan tới Quản trị rủi ro lãi suất, xem xét lại

các mục tiêu tổng thể của Ngân hàng liên quan tới rủi ro lãi suất của Ngân hàng, cung

cấp các hƣớng dẫn rõ ràng về mức độ chấp nhận rủi ro lãi suất của Ngân hàng và đảm

bảo rằng Ban điều hành sẽ thực hiện các bƣớc cần thiết nhằm giám sát và kiểm soát các

rủi ro nhất quán với các chính sách và chiến lƣợc đã đƣợc phê duyệt. Hội đồng quản trị

cần đƣợc thông báo thƣờng xuyên về mức độ rủi ro lãi suất của Ngân hàng nhằm đánh

giá công tác giám sát và kiểm soát rủi ro lãi suất so với các hƣớng dẫn của Hội đồng

quản trị về các cấp độ rủi ro đƣợc chấp nhận tại Ngân hàng.

Ban điều hành phải đảm bảo rằng cơ cấu hoạt động kinh doanh của ngân hàng và

mức độ rủi ro lãi suất chấp nhận đƣợc quản lý hiệu quả và phải đảm bảo các thủ tục và

chính sách phù hợp đƣợc thiết lập nhằm kiểm soát và hạn chế các rủi ro, cũng nhƣ đủ

nguồn lực đáp ứng cho công tác đánh giá và kiểm soát rủi ro lãi suất. Đồng thời, đảm

bảo thông tin xem xét lại định kỳ đủ chi tiết và kịp thời cho phép hiểu và đánh giá hiệu

quả của ban điều hành trong giám sát và kiểm soát những rủi ro này trong việc tuân thủ

các chính sách đã đƣợc phê duyệt; đảm bảo rằng Hội đồng quản trị hoặc một trong các

ủy ban của mình định kỳ tái đánh giá chính sách quản trị rủi ro lãi suất cũng nhƣ chiến

lƣợc kinh doanh tổng thể có ảnh hƣởng tới rủi ro lãi suất của Ngân hàng.

Ban điều hành chịu trách nhiệm: thiết lập và phát triển các thủ tục quản trị rủi ro lãi

suất cả trong thời gian dài hạn và thời gian ngắn hạn; duy trì rõ ràng quyền hạn và

trách nhiệm quản lý và kiểm soát rủi ro này; thực hiện các chiến lƣợc một cách giới

hạn những rủi ro liên kết với mỗi chiến lƣợc và đảm bảo tuân thủ pháp luật và các quy

định; duy trì giới hạn thích hợp về rủi ro này; duy trì hệ thống đầy đủ và tiêu chuẩn đo

lƣờng rủi ro; duy trì các tiêu chuẩn để đánh giá và đo lƣờng hiệu quả; duy trì báo cáo

rủi ro lãi suất toàn diện và quy trình, thủ tục xem xét lại quản trị rủi ro lãi suất; duy trì

hiệu quả kiểm soát nội bộ và tiêu chuẩn đạo đức; bảo đảm rằng các báo cáo rủi ro lãi

suất cung cấp thông tin tổng hợp cũng nhƣ hỗ trợ đầy đủ, chi tiết cho phép đánh giá sự

nhạy cảm của Ngân hàng khi điều kiện thị trƣờng thay đổi và các yếu tố rủi ro quan

trọng khác; định kỳ xem xét lại chính sách và quy trình quản trị rủi ro lãi suất để đảm

bảo rằng chúng vẫn còn thích hợp và đủ mạnh vào mọi lúc; đảm bảo rằng hoạt động



81



phân tích và quản trị rủi ro liên quan tới rủi ro lãi suất đƣợc thực hiện bởi đội ngũ nhân

viên có thẩm quyền với kiến thức và kỹ thuật, kinh nghiệm phù hợp với tính chất,

phạm vi hoạt động của Ngân hàng; đảm bảo rằng nhân viên có đủ kiến thức sâu và

rộng.

Ngân hàng cần xác định rõ các cá nhân và/hoặc các hội đồng/ủy ban có trách nhiệm

trong việc quản trị rủi ro lãi suất và đảm bảo phân tách trách nhiệm thích hợp trong các

cấu phần quan trọng của quy trình quản trị rủi ro nhằm tránh các xung đột tiềm tàng về

lợi ích. Ngân hàng nên có các bộ phận chức năng đo lƣờng, giám sát và kiểm soát rủi

ro với nhiệm vụ đƣợc xác định rõ ràng, tƣơng đối độc lập với các bộ phận nghiệp vụ

của ngân hàng và thực hiện báo cáo các khoản mục rủi ro trực tiếp cho Ban điều hành

và Hội đồng quản trị. Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam là

Ngân hàng có quy mô lớn và hoạt động kinh doanh phức tạp nên có đơn vị độc lập chịu

trách nhiệm thiết kế và theo dõi các chức năng đo lƣờng, giám sát và kiểm soát rủi ro

lãi suất của Ngân hàng.

Các chính sách và thủ tục về rủi ro lãi suất của Ngân hàng cần đƣợc xây dựng rõ

ràng, phù hợp với bản chất và mức độ phức tạp của các hoạt động ngân hàng. Các

chính sách trên nên đƣợc áp dụng trên cơ sở hợp nhất hoặc tại từng đơn vị thành viên

nếu phù hợp, đặc biệt với trƣờng hợp nhận định có khác biệt về mặt luật pháp và trở

ngại về luân chuyển tiền tệ giữa các đơn vị thành viên. Ngân hàng nên có chính sách và

thủ tục rõ ràng để hạn chế và kiểm soát rủi ro lãi suất. Các chính sách và thủ tục nên

phân định rõ ràng trách nhiệm và quyền hạn về quyết định rủi ro lãi suất, chiến lƣợc

phòng ngừa rủi ro và các trạng thái nắm giữ. Chính sách rủi ro lãi suất nên xác định các

thông số định lƣợng và mức độ rủi ro lãi suất mà Ngân hàng chấp nhận. Tất cả chính

sách rủi ro lãi suất nên đƣợc xem xét định kỳ và sửa đổi khi cần thiết. Ngân hàng nên

xác định cụ thể và phê duyệt các thủ tục cần thiết cho các ngoại lệ đối với các chính

sách, các hạn mức và ủy quyền.

Việc Ngân hàng xác định các rủi ro tiềm ẩn trong các sản phẩm và dịch vụ mới, và

đảm bảo các rủi ro trên đã đƣợc xét duyệt qua các thủ tục và quy trình phù hợp trƣớc

khi giới thiệu và triển khai là hết sức quan trọng. Các đề xuất quản lý hoặc phòng ngừa



82



quan trọng hoặc các sáng kiến quản trị rủi ro trong tiến trình thực hiện cần đƣợc phê

duyệt trƣớc bởi Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng/Ủy ban đƣợc ủy quyền phù hợp.

Ngân hàng cần sở hữu các hệ thống đo lƣờng rủi ro lãi suất cho phép nắm bắt tất cả

các nguồn rủi ro lãi suất trọng yếu và đánh giá mức độ ảnh hƣởng của các biến động lãi

suất theo cách thức thống nhất với phạm vi của các hoạt động đó. Hệ thống đo lƣờng

và giám sát rủi ro này sẽ cung cấp mức rủi ro lãi suất hiện hành của Ngân hàng và xác

định bất kỳ các rủi ro lãi suất lớn có thể phát sinh trong tƣơng lai. Hệ thống đo lƣờng

nên: đánh giá tất cả các rủi ro lãi suất cơ bản liên kết Tài sản Nợ - Tài sản Có và các

công cụ ngoại bảng của Ngân hàng; các khái niệm tài chính đƣợc chấp nhận chung và

công cụ đo lƣờng rủi ro; có các dẫn chứng giả định và thông số. Các cán bộ quản trị rủi

ro và quản lý kinh doanh cần am hiểu rõ các giả định đƣợc sử dụng trong hệ thống. Các

giả định đƣợc sử dụng trong đánh giá độ nhạy cảm lãi suất của các khoản mục, công cụ

phức tạp với thời gian đáo hạn không chắc chắn cần phải tuân theo các tiêu chuẩn nhất

định và cần xem xét lại.

Ngân hàng phải thiết lập và áp dụng các hạn mức hoạt động và các biện pháp khác

nhằm duy trì mức rủi ro trong phạm vi phù hợp với các chính sách nội bộ. Các hạn

mức này có thể đƣợc áp dụng trên danh mục cá nhận, các hoạt động hoặc các đơn vị

kinh doanh. Một hệ thống hạn mức thích hợp sẽ giúp cho nhà quản trị ngân hàng kiểm

soát rủi ro lãi suất, thảo luận về cơ hội và rủi ro, giám sát rủi ro thực tế với dung sai rủi

ro xác định trƣớc. Hệ thống hạn mức phải đảm bảo rằng các trƣờng hợp vƣợt quá định

mức trƣớc nhận đƣợc sự quan tâm của nhà quản lý. Hệ thống hạn mức có thể đƣợc

thiết lập trên cơ sở tổng hợp cũng nhƣ theo từng loại danh mục và công cụ. Các hạn

mức đƣợc thiết lập phải đảm bảo phù hợp với quy mô, mức độ phức tạp và mức vốn

của ngân hàng, cũng nhƣ khả năng của ngân hàng để đo lƣờng và quản trị rủi ro của

mình, đồng thời phải nhất quán trong việc xem xét các ảnh hƣởng của thay đổi lãi suất

đối với thu nhập ròng của Ngân hàng. Các hạn mức sau đây cần đƣợc theo dõi: hạn

mức yếu tố nhạy cảm, hạn mức GAP.



83



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TIẾP THEO

Tải bản đầy đủ ngay(106 tr)

×