Tải bản đầy đủ - 106 (trang)
CHƯƠNG 1 VAI TRÒ CỦA QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CHƯƠNG 1 VAI TRÒ CỦA QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 106trang

Ngân hàng là một tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài

chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện

nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền

kinh tế.

Từ những hoạt động của một ngân hàng truyền thống trong thuở sơ khai nhƣ

vậy, hoạt động ngân hàng hiện nay đã phát triển cả về số lƣợng các hoạt động và quy

mô của các hoạt động, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng phát triển nhƣ

hiện nay, các ngân hàng thƣơng mại bên cạnh việc giữ vững các nghiệp vụ truyền

thống thì họ ngày càng chú trọng tới việc phát triển các nghiệp vụ mới. Ngân hàng

thƣơng mại từ chỗ chỉ cho vay ngắn hạn là chủ yếu đã mở rộng cho vay trung và dài

hạn, cho vay để đầu tƣ vào bất động sản. Nhiều ngân hàng mở rộng cho vay tiêu dùng,

kinh doanh chứng khoán, cho thuê tài chính… Các hình thức huy động cũng ngày càng

phong phú. Các loại hình tiền gửi khác nhau đƣợc đƣa ra nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu

của khách hàng. Bên cạnh các hình thức huy động tiền gửi, các ngân hàng đã mở rộng

các hình thức vay nhƣ vay ngân hàng trung ƣơng, vay các ngân hàng khác. Công nghệ

ngân hàng đang góp phần làm thay đổi các hoạt động cơ bản của ngân hàng. Thanh

toán điện tử đang thay thế dần thanh toán thủ công, đẩy nhanh tốc độ, tính thuận tiện,

an toàn trong thanh toán. Các loại thẻ đang thay thế dần tiền giấy và dịch vụ ngân hàng

24 giờ, dịch vụ ngân hàng tại nhà đang tạo ra các tiện ích ngày càng lớn cho dân

chúng.

Lịch sử phát triển của các ngân hàng cũng đã chứng kiến nhiều khủng hoảng và

hoảng loạn ngân hàng trong mỗi quốc gia, khu vực và thế giới, gây tổn thất rất lớn cho

nền kinh tế và mất ổn định chính trị. Có thể nói, các vụ sụp đổ ngân hàng cũng là một

khâu tất yếu trong tiến trình phát triển của ngân hàng. Các nhà quản lý đã và đang

không ngừng cải tiến chính sách quản lý để hạn chế sự sụp đổ và mở đƣờng cho sự

phát triển của ngân hàng. [17, Tr. 19]

Hoạt động của các ngân hàng luôn phải đối mặt với rất nhiều rủi ro tƣơng tự

nhƣ hoạt động của các doanh nghiệp khác, bên cạnh đó còn phải đối mặt với những rủi

ro do hoạt động mang tính chất đặc thù khác biệt so với hoạt động của các doanh



7



nghiệp khác trong nền kinh tế. Chính vì vậy, để có thể nhận diện những rủi ro hoạt

động này, chúng ta hãy khái quát những hoạt động chủ yếu của một ngân hàng thƣơng

mại.

1.1.2. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thƣơng mại

1.1.2.1. Huy động tiền gửi

Đây là một hoạt động tạo ra nguồn vốn cho ngân hàng để cung ứng cho các chủ

thể trong nền kinh tế thông qua việc nhận tiền gửi thanh toán và tiền tiết kiệm của các

chủ thể khác. Ngân hàng mở dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ ngƣời có tiền với

cam kết hoàn trả đúng hạn. Trong cuộc cạnh tranh để tìm và giành đƣợc các khoản tiền

gửi, các ngân hàng đã trả lãi cho tiền gửi nhƣ là phần thƣởng cho khách hàng về việc

sẵn sàng hy sinh nhu cầu tiêu dùng trƣớc mắt và cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời

để kinh doanh.

1.1.2.2.



Cho vay



Các khoản cho vay của ngân hàng đƣợc phân thành những loại cho vay chủ yếu

nhƣ sau:

-



Cho vay thương mại:

Trong giai đoạn đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thƣơng phiếu mà thực tế là



cho vay đối với những ngƣời bán (ngƣời bán chuyển các khoản phải thu cho ngân hàng

để lấy tiền trƣớc). Sau đó là bƣớc chuyển tiếp từ chiết khấu thƣơng phiếu sang cho vay

trực tiếp đối với các khách hàng (là ngƣời mua), giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ

nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh.

-



Cho vay tiêu dùng:

Trong thời kỳ đầu hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với cá



nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng và sự cạnh tranh

trong cho vay đã buộc các ngân hàng phải hƣớng tới ngƣời tiêu dùng nhƣ là một khách

hàng tiềm năng. Đối với nền kinh tế của các nƣớc phát triển, lĩnh vực cho vay tiêu

dùng đã trở thành một trong những lĩnh vực có tốc độ tăng trƣởng nhanh nhất.

-



Cho vay tài trợ dự án



8



Bên cạnh các khoản vay ngắn hạn truyền thống, các ngân hàng ngày càng trở

nên năng động trong việc tài trợ cho việc xây dựng các nhà máy mới đặc biệt là trong

các ngành công nghệ cao. Đây là loại hình cho vay mang lại lợi nhuận lớn cho ngân

hàng song đây cũng là loại hình cho vay ngân hàng gặp phải nhiều rủi ro nhất.

1.1.2.3.



Các hoạt động khác



Các hoạt động khác của ngân hàng thƣơng mại: cho thuê thiết bị trung và dài

hạn;, mua bán ngoại tệ; bảo quản vật có giá; cung cấp các tài khoản giao dịch và thực

hiện thanh toán; quản lý ngân quỹ; tài trợ các hoạt động của Chính phủ; bảo lãnh, cung

cấp dịch vụ uỷ thác và tƣ vấn; cung cấp dịch vụ môi giới đầu tƣ chứng khoán; cung cấp

các dịch vụ bảo hiểm; cung cấp các dịch vụ đại lý.

Nhƣ vậy, hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại hiện đại rất đa dạng. Trong

bài luận văn này hoạt động của ngân hàng sẽ đƣợc xem xét trên hai mảng chính: hoạt

động huy động vốn, đi vay và hoạt động cho vay, đầu tƣ dự án; thu nhập và chi phí của

ngân hàng thƣơng mại cũng đến chủ yếu từ hai mảng hoạt động này.

1.2.



RỦI RO LÃI SUẤT TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG



1.2.1. Khái niệm và phân loại rủi ro lãi suất

Rủi ro lãi suất là nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của ngân hàng khi

lãi suất thị trƣờng biến động. Đây là rủi ro mang tính đặc trƣng của bất kỳ một ngân

hàng thƣơng mại nào. Quá trình chuyển hoá tài sản đƣợc coi nhƣ một chức năng đặc

biệt cơ bản của hệ thống ngân hàng. Quá trình chuyển hoá tài sản bao gồm việc mua

các chứng khoán sơ cấp, tức là sử dụng vốn và phát hành các chứng khoán sơ cấp, tức

là huy động vốn. Kỳ hạn và mức độ thanh khoản của các chứng khoán sơ cấp trong

danh mục đầu tƣ thuộc tài sản có thƣờng không cân xứng với các chứng khoán thứ cấp

thuộc tài sản nợ. Chính sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ làm

cho ngân hàng phải chịu rủi ro lãi suất khi lãi suất trên thị trƣờng biến động.

Rủi ro lãi suất có thể tác động tới thu nhập của ngân hàng hoặc làm giảm giá trị

tài sản của ngân hàng.

a. Rủi ro về thu nhập



9



Là khả năng suy giảm thu nhập lãi ròng của ngân hàng khi lãi suất thị trƣờng

biến động. Đây là sự rủi ro mà sự thay đổi của lãi suất sẽ khiến các chi phí về huy động

vốn và các khoản lãi thu đƣợc từ các khoản cho vay thay đổi những lƣợng khác nhau.

Điều này khiến cho thu nhập của ngân hàng bị thay đổi theo.

b. Rủi ro giảm giá trị tài sản

Loại rủi ro lãi suất này sẽ khiến cho giá trị của tài sản có và tài sản nợ của ngân

hàng thay đổi những lƣợng khác nhau và làm cho giá trị thị trƣờng của vốn chủ sở hữu

thay đổi theo.Thật vậy, giá trị thị trƣờng của tài sản có hay nợ dựa trên khái niệm giá

trị hiện tại của tiền tệ. Do đó nếu lãi suất thị trƣờng tăng lên mức chiết khấu giá trị tài

sản cũng tăng lên và do đó giá trị tài sản có và tài sản nợ giảm xuống. Ngƣợc lại, nếu

lãi suất thị trƣờng giảm thì giá trị tài sản có và tài sản nợ tăng lên. Nhƣ vậy có thể thấy

giá trị ròng cùa ngân hàng luôn thay đổi không ngừng và phụ thuộc vào tình hình lãi

suất trên thị trƣờng.

Mục tiêu quan trọng trong hoạt động quản trị rủi ro lãi suất là bảo vệ thu nhập

dự kiến ở mức tƣơng đối ổn định bất chấp sự thay đổi của lãi suất. Để đạt đƣợc mục

tiêu này, ngân hàng phải duy trì tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) cố định. Đây là hệ số

giúp cho ngân hàng dự báo trƣớc khả năng sinh lãi của ngân hàng thông qua việc kiểm

soát chặt chẽ tài sản sinh lời và tìm kiếm những nguồn vốn có chi phí thấp nhất. Hệ số

này cho thấy nếu chi phí huy động vốn tăng nhanh hơn lãi thu từ cho vay và đầu tƣ

hoặc lãi thu từ cho vay và đầu tƣ giảm nhanh hơn chi phí huy động vốn sẽ làm cho Hệ

số chênh lệch lãi thuần (NIM) bị thu hẹp lại, rủi ro lãi suất sẽ lớn.

Hệ số chênh lệch lãi thuần (NIM)



Thu nhập lãi – Chi phí lãi



=



Tài sản có sinh lời



* 100



[18, Tr.259]

Trong đó:

-



Thu nhập lãi: lãi cho vay, đầu tƣ, lãi tiền gửi tại ngân hàng khác, lãi đầu tƣ

chứng khoán,…



-



Chi phí lãi: chi phí huy động vốn, đi vay,..



-



Tổng tài sản có sinh lời = Tổng tài sản có – Tiền mặt & Tài sản cố định



10



Nhƣ vậy, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng chịu sự tác động của nhiều

yếu tố nhƣ:

- Những thay đổi trong lãi suất

- Những thay đổi trong mức chênh lệch giữa lãi thu từ tài sản có và chi phí phải

trả lãi cho tài sản nợ

- Những thay đổi về giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất mà ngân hàng nắm giữ khi

mở rộng hay thu hẹp quy mô hoạt động của mình.

- Những thay đổi về giá trị tài sản nợ phải trả lãi mà ngân hàng sử dụng để tài

trợ cho danh mục tài sản sinh lời khi mở rộng hoặc thu hẹp hoạt động.

- Những thay đổi về cấu trúc của tài sản có và tài sản nợ mà ngân hàng thực

hiện khi tiến hành chuyển đổi tài sản có – tài sản nợ giữa lãi suất cố định và lãi suất

thay đổi, giữa kỳ hạn ngắn và kỳ hạn dài, giữa tài sản mang lại mức thu nhập thấp với

tài sản mang lại mức thu nhập cao.

Thông qua việc duy trì tỷ lệ thu nhập lãi cận biên chúng ta thấy rằng, việc phối

hợp giữa quản trị tài sản nợ và tài sản có phải luôn luôn đƣợc thực hiện song song, hỗ

trợ lẫn nhau mới có thể bảo vệ thu nhập dự kiến của Ngân hàng khỏi rủi ro lãi suất. Để

có thể thấy rõ hơn quan hệ giữa quản trị tài sản nợ và quản trị tài sản có, chúng ta xem

xét cách phòng chống rủi ro lãi suất thông qua việc xác định - kiểm soát khe hở nhạy

cảm lãi suất và việc quản lý khe hở kỳ hạn của các ngân hàng.

1.2.2. Nguyên nhân của rủi ro lãi suất

1.2.4.1. Sự biến động của lãi suất trên thị trường

Lãi suất là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức thu đƣợc của vốn cho vay trong

thời gian một năm so với số lƣợng của vốn cho vay.

Lợi tức nhƣ là giá cả của hàng hóa tiền tệ đƣợc hình thành trên thị trƣờng trong

điều kiện đặc biệt so với những điều kiện tồn tại của các loại hàng hóa khác. Sự biến

động của lãi suất chịu ảnh hƣởng của các quy luật khách quan – quy luật giá cả trên thị

trƣờng. Quy luật đó lại có mối quan hệ tác động qua lại với các quy luật khác.

Các bộ phận cấu thành lãi suất: Trong nhiều năm qua các ngân hàng đã cố

gắng dự báo về xu hƣớng vận động trong tƣơng lai của lãi suất thị trƣờng nhằm hạn



11



chế rủi ro lãi suất. Tuy nhiên, thực tế là lãi suất đƣợc hình thành do sự tƣơng tác giữa

hàng nghìn lực lƣợng cung cầu trên thị trƣờng nên ngân hàng rất khó có thể đạt đƣợc

một dự báo chính xác. Ngoài ra, một điều gây khó khăn cho việc dự đoán lãi suất là lãi

suất của một khoản vay hay chứng khoán đều đƣợc cấu thành bởi rất nhiều thành phần:

Lãi suất thị

trƣờng của một



Phần bù rủi ro cho vay:



Lãi suất thực của các

chứng khoán không có rủi



khoản vay hay



=



ro (nhƣ lãi suất trái phiếu



của một chứng



chính phủ đƣợc điều



khoán



chỉnh theo lạm phát)



rủi ro không thu hồi

đƣợc nợ, rủi ro lạm



+



phát, rủi ro kỳ hạn, rủi

ro về khả năng tiêu thụ,

rủi ro thu hồi



[18, Tr. 256]

Không những lãi suất thực phi rủi ro (đƣợc điều chỉnh theo lạm phát) luôn thay

đổi theo các biến động của cung – cầu về vốn trên thị trƣờng tài chính mà cả nhận định

của ngƣời cho vay và ngƣời đi vay trên thị trƣờng tài chính về phần bù rủi ro cũng thay

đổi. Điều này khiến cho lãi suất tăng giảm, biến động thất thƣờng.

Khi nền kinh tế suy thoái cùng với đó là sự sụt giảm trong kinh doanh và gia

tăng thất nghiệp, những ngƣời cho vay thƣờng nhận định rằng nhiều doanh nghiệp có

thể sẽ phá sản, nhiều cá nhân sẽ mất việc làm và điều này làm gia tăng rủi ro không thu

hồi đƣợc nợ. Yếu tố phần bù cho rủi ro không thu hồi được nợ tăng lên làm cho lãi suất

mà ngƣời vay phải chịu tăng theo. Tƣơng tự, thông báo về sự leo thang của giá hàng

hóa và dịch vụ sẽ khiến ngƣời cho vay nhận định rằng lạm phát có xu hƣớng gia tăng.

Khi đó, sức mua của các khoản thu nhập từ cho vay sẽ giảm trừ khi ngƣời cho vay tăng

phần bù rủi ro lạm phát để bù đắp cho sự sút giảm về sức mua của đồng tiền. Lãi suất

của nhiều khoản vay và chứng khoán còn chứa đựng phần bù cho rủi ro về khả năng

tiêu thụ vì ngân hàng khó có thể bán đƣợc các công cụ tài chính này trên thị trƣờng với

mức giá hợp lý. Rủi ro thu hồi phát sinh khi ngƣời vay có quyền thanh toán khoản nợ

trƣớc hạn, làm giảm tỷ lệ thu nhập dự kiến của ngƣời cho vay.

Một yếu tố cấu thành cơ bản của lãi suất là phần bù kỳ hạn. Những khoản vay

và chứng khoán kỳ hạn dài hơn có lãi suất cao hơn vì chúng mang xác suất xảy ra rủi



12



ro cao hơn so với chứng khoán ngắn hạn. Các lãi suất ngắn hạn có xu hƣớng biến động

mạnh hơn, tăng nhanh hơn lãi suất dài hạn và giảm nhanh hơn lãi suất dài hạn khi các

mức lãi suất trên thị trƣờng có xu hƣớng giảm xuống.

Vì vậy, các nhà quản trị ngân hàng muốn dự báo chính xác về lãi suất thị trƣờng

cần phải có khả năng dự báo những thay đổi trong sự đánh giá của thị trƣờng đối với

tất cả những nhân tố cấu thành lãi suất đƣợc đề cập ở trên: Lãi suất thực tế không có rủi

ro, phần bù rủi ro không thể thu hồi nợ, phần bù rủi ro lạm phát, phần bù kỳ hạn và

phần bù đối với những rủi ro khác. Trƣớc thực tế nan giải này, các ngân hàng đã buộc

phải chấp nhận rằng ngân hàng không thể kiểm soát và dự đoán chính xác về lãi suất

và do vậy ngân hàng phải cố gắng tìm ra những biện pháp bảo vệ để đối phó với rủi ro

lãi suất.

Phản ứng của các ngân hàng với rủi ro lãi suất. Nhƣ đã đề cập, thay đổi của lãi

suất thị trƣờng tác động tiêu cực tới lợi nhuận ngân hàng do nó làm tăng chi phí nguồn

vốn, giảm thu nhập từ tài sản, hạ thấp giá trị vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Ngoài ra

những biến động lớn về lãi suất trong những thập niên gần đây đã buộc các ngân hàng

đối mặt với một môi trƣờng hoạt động hoàn toàn mới và không thể dự báo trƣớc. Do

vậy, các ngân hàng phải tìm cách quản trị hoạt động của mình để đối phó với rủi ro lãi

suất. Các nhà quản trị ngân hàng thực hiện chiến lƣợc quản lý ngân hàng dƣới sự

hƣớng dẫn của Ủy ban quản lý tài sản và nợ (hoặc Ủy ban quản lý rủi ro). Ủy ban này

không chỉ lựa chọn chiến lƣợc đối phó với rủi ro lãi suất mà còn tham gia hoạch định

các kế hoạch ngắn hạn cũng nhƣ dài hạn, dự trù chiến lƣợc cho ngân hàng, giải quyết

vấn đề thanh khoản cũng nhƣ các vấn đề quản lý khác.

1.2.4.2. Sự không cân xứng về kỳ hạn giữa Tài sản Có và Tài sản Nợ

Thời hạn mà ngân hàng huy động đƣợc nguồn vốn sẽ quyết định tính chất rủi ro

mà nó đƣơng đầu.

- Nếu thời hạn cho vay > thời hạn nguồn vốn tài trợ nó, thì ngân hàng chấp nhận vị

thế tái tài trợ.

- Nếu thời hạn cho vay < thời hạn nguồn vốn tài trợ nó, thì ngân hàng chấp nhận vị

thế tái đầu tƣ.



13



Thí dụ, một ngân hàng có một khoản cho vay 100 tỷ, trong đó 50 tỷ thời hạn 1

năm, lãi suất 6%/năm và 50 tỷ thời hạn 2 năm, lãi suất 7%/năm. Nguồn vốn để cho vay

là nguồn vốn đi vay trên thị trƣờng liên ngân hàng.

* Ngân hàng ở vị thế tái tài trợ

Giả sử lãi suất cho vay trên thị trƣờng liên ngân hàng sẽ là 4%/năm cho thời hạn

1 năm, 5%/năm cho thời hạn 2 năm. Ngân hàng chọn nguồn vốn đi vay có lãi suất

4%/năm, kỳ hạn 1 năm để giảm chi phí:

Các khoản cho vay



Khoản đi vay



50 tỷ thời hạn 1 năm, lãi suất 6%/năm



100 tỷ, thời hạn 1 năm



50 tỷ thời hạn 2 năm, lãi suất 7%/năm

Sau 1 năm ngân hàng thu nợ vay 50 tỷ để trả khoản đi vay trên thị trƣờng liên

ngân hàng và phải huy động một khoản 50 tỷ mới với thời hạn 1 năm. Lúc này lãi suất

huy động mới sẽ quyết định thu nhập ngân hàng đƣợc hƣởng trong năm thứ hai. Nếu

lãi suất liên ngân hàng giảm thì khoản chênh lệch lãi suất ngân hàng đƣợc hƣởng sẽ

tăng, ngƣợc lại thì chênh lệch lãi suất sẽ giảm.

* Ngân hàng ở vị thế tái đầu tƣ

Trƣờng hợp ngân hàng chọn khoản đi vay trên thị trƣờng liên ngân hàng thời

hạn 2 năm, lãi suất 5%/năm

Các khoản cho vay



Khoản đi vay



50 tỷ thời hạn 1 năm, lãi suất 6%/năm



100 tỷ, thời hạn 2 năm, lãi suất 5%/năm



50 tỷ thời hạn 2 năm, lãi suất 7%/năm

Năm thứ nhất, ngân hàng nhận đƣợc chênh lệch lãi suất cho khoản vay 2 năm là

2%/năm và khoản cho vay 1 năm là 1%/năm.

Năm thứ hai ngân hàng vẫn nhận đƣợc chênh lệch lãi suất của khoản cho vay 2

năm là 2%/năm nhƣng chênh lệch lãi suất từ khoản cho vay 1 năm tùy thuộc vào lãi

suất mà ngân hàng tiếp tục tái đầu tƣ. Nếu lãi suất cho vay tăng thì ngân hàng hƣởng

chênh lệch lãi suất, ngƣợc lại thì hƣởng chênh lệch lãi suất giảm, thậm chí sẽ lỗ nếu lãi

suất cho vay thấp hơn lãi suất đi vay thị trƣờng liên ngân hàng cách đây 1 năm.

1.3. QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT



14



1.3.1. Khái niệm và sự cần thiết của quản trị rủi ro lãi suất trong hoạt động

kinh doanh của ngân hàng

Quản trị rủi ro lãi suất chính là việc các ngân hàng thiết lập hệ thống quy trình

nhằm nhận biết, định lƣợng, giám sát, kiểm soát những tổn thất đang và sẽ gây ra đối

với thu nhập của ngân hàng ngân hàng do biến động của lãi suất để từ đó có thể đề ra

những chiến lƣợc, chính sách hoặc sử dụng những công cụ nhằm phòng ngừa, hạn chế

tới mức tối đa những ảnh hƣởng xấu của biến động lãi suất tới thu nhập của ngân hàng

một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục.

Một mục tiêu quan trọng trong quản trị rủi ro lãi suất là hạn chế tới mức tối đa

các ảnh hƣởng xấu của biến động lãi suất tới thu nhập của ngân hàng. Dù lãi suất thay

đổi nhƣ thế nào, ngân hàng luôn mong muốn đạt đƣợc mức thu nhập dự kiến ở mức

tƣơng đối ổn định.

Để đạt đƣợc mục tiêu này, các ngân hàng cần phải tập trung vào những bộ phận

nhạy cảm nhất với lãi suất trong danh mục tài sản có và tài sản nợ. Thông thƣờng, đó là

các tài sản sinh lời nhƣ các khoản cho vay và đầu tƣ (thuộc về bên tài sản có) hay các

khoản tiền huy động, khoản vay trên thị trƣờng tiền tệ (thuộc về bên tài sản nợ).

Ta có thể thấy rõ vị trí của rủi ro lãi suất so với các rủi ro khác theo Basel II qua

bảng sau :



15



Hình 1.2: Nội dung của Basel II xác định rủi ro lãi suất

(Nguồn: http://saga.vn [26])

1.3.2. Nội dung quản trị rủi ro lãi suất

1.3.2.1. Chuẩn mực và thông lệ quốc tế quản trị rủi ro lãi suất

Sau hàng loạt sự sụp đổ của các ngân hàng vào thập kỷ 80, một nhóm các ngân

hàng trung ƣơng và cơ quan giám sát của 10 nƣớc phát triển (G10) đã tập hợp tại thành

phố Basel (Thụy Sỹ) vào năm 1987 nhằm tìm cách ngăn chặn xu hƣớng này. Sau khi

nhóm họp, các cơ quan này đã quyết định hình thành Ủy ban Basel về giám sát ngân

hàng (Basel committee on banking supervision) đƣa ra các nguyên tắc chung để quản

lý hoạt động của các ngân hàng quốc tế

Năm 1988, Ủy ban này đã phê duyệt một văn bản đầu tiên lấy tên: Hiệp ƣớc về

vốn của Basel (Basel I), yêu cầu hoạt động ngân hàng phải nắm giữ một mức vốn tối

thiểu để có thể đối phó với những rủi ro có thể xảy ra. Mức vốn tối thiểu này là một tỷ

lệ phần trăm nhất định trong tổng vốn của ngân hàng, do đó có thể hiểu mức vốn này là

mức vốn tối thiểu tính theo trọng số rủi ro của ngân hàng đó. Mục tiêu của Basel I

nhằm :

- Củng cố sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế

- Thiết lập một hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm cạnh

tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế

Trong hiệp ƣớc Basel I, lần đầu tiên đƣợc công bố năm 1988, rủi ro thị trƣờng

(bao gồm rủi ro lãi suất) không đƣợc đề cập đến. Đến năm 1996, nhận thức đƣợc

những nguy cơ đáng lo ngại của rủi ro lãi suất, Ủy ban Basel đã kết hợp rủi ro thị

trƣờng vào yêu cầu vốn tối thiểu :

Vốn cấp I + II

Rủi ro tín dụng



>=8%



Vốn cấp I + II + III

Rủi ro tín dụng + rủi ro thị trƣờng



>=8%



[25]



Trong sửa đổi này, Ủy ban yêu cầu xác định thêm vốn cấp 3 đƣợc xác định tối

đa bằng 250% phần vốn cấp 1 dùng để phòng ngừa rủi ro thị trƣờng (bao gồm rủi ro lãi

suất) hay nói cách khác có ít nhất 28.5% rủi ro thị trƣờng đƣợc dự phòng bởi vốn cấp

1. Tuy nhiên rủi ro thị trƣờng (bao gồm rủi ro lãi suất) trong Basel I chỉ đƣợc xem xét

đối với các tài sản trong sổ kinh doanh của ngân hàng



16



Basel II đánh dấu một sự đổi mới căn bản đó là sẽ có nhiều mô hình để các ngân

hàng có thể sử dụng mà không theo lối cũ của Basel I (dùng một mô hình để áp dụng

cho tất cả các ngân hàng). Đặc biệt các tính toán sẽ cố gắng tiến sát hơn với rủi ro

nghĩa là Basel II trở nên nhạy cảm với rủi ro hơn.

Cụ thể, đối với rủi ro lãi suất Basel II khuyến nghị các ngân hàng sử sụng mô

hình VAR để xác định rủi ro lãi suất cho ngân hàng của mình. Đối với các ngân hàng

không đủ điều kiện để tiến hành phân tích theo phƣơng pháp này, Ủy ban đề xuất các

hệ số để tính rủi ro lãi suất nhƣ sau:

Bảng 1.1: Bảng tính hệ số rủi ro lãi suất

Đơn vị: %

Kỳ hạn

Hệ số lãi suất

1 tháng hoặc ít hơn

0

6 tháng hoặc ít hơn

0.7

1 năm hoặc ít hơn

1.25

4 năm hoặc ít hơn

2.25

8 năm hoặc ít hơn

3.75

16 năm hoặc ít hơn

5.25

20 năm hoặc ít hơn

7.5

Trên 20 năm

12.5

(Nguồn: BIS 2006 [21, Tr.178])

Một bƣớc chuyển quan trọng trong Basel II về rủi ro lãi suất là Ủy ban cũng yêu

cầu phải giám sát hoạt động quản trị rủi ro lãi suất đối với các sổ ngân hàng và vấn đề

này đƣợc nêu rõ trong trụ cột thứ 2 của Basel II. Trụ cột thứ 2 nhƣ là một cảnh báo

sớm đối với các nhà giám sát, trong đó các ngân hàng sẽ báo cáo và giải thích cách tính

nhƣ mô hình mà mình đã áp dụng trong tính toán các chỉ tiêu do Ủy ban Basel yêu cầu.

Trong trƣờng hợp rủi ro lãi suất mà ngân hàng gặp phải vƣợt quá mức trong tƣơng

quan với số vốn đủ tiêu chuẩn của ngân hàng thì các giám sát sẽ có yêu cầu tăng mức

vốn cần thiết hoặc yêu cầu giảm rủi ro mà ngân hàng đang gặp phải hoặc có thể kết

hợp cả hai biện pháp. Cụ thể, các giám sát đặc biệt chú ý đến các ngân hàng có rủi ro

lãi suất vƣợt quá 20% số vốn cấp 1 và 2. Khi đó, họ phải thực hiện việc thử nghiệm về

tình huống khi mà lãi suất tăng giảm 200 điểm cơ sở (2%) để xem xét tác động của nó



17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1 VAI TRÒ CỦA QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(106 tr)

×