Tải bản đầy đủ - 28 (trang)
- Ô nhiễm môi trường nước. (Nguyên nhân: Nhu cầu nước dùng cho công nghiệp, nông nghiệp, và sinh hoạt tăng nhanh, nguồn nước bị ô nhiễm, nạn chặt phá rừng, . . .)

- Ô nhiễm môi trường nước. (Nguyên nhân: Nhu cầu nước dùng cho công nghiệp, nông nghiệp, và sinh hoạt tăng nhanh, nguồn nước bị ô nhiễm, nạn chặt phá rừng, . . .)

Tải bản đầy đủ - 28trang

Trường tiểu học Lê Thị Hồng Gấm được sự quan tâm của các cấp chính

quyền và toàn xã hội về môi trường trong trường học, đã được công nhận đạt

chuẩn quốc gia mức 2 vào tháng 10 năm 2010 và đang hoàn thành hồ sơ kiểm

định chất lượng giáo dục cơ sở đề nghị đánh giá ngoài.

Chương trình “xanh- sạch- đẹp” trường lớp đã được đưa vào nhà trường,

nhà trường đã được trang bị nguồn nước uống sạch, có nhà vệ sinh cho học sinh

và giáo viên, nhà trường luôn giáo dục ý thức bảo vệ môi trường bằng các công

việc hàng ngày như trồng cây, chăm sóc cây, trồng chậu cây cảnh, vệ sinh

trường lớp. Những nội dung đó đã được nhà trường đưa vào danh mục thi đua

của từng lớp, từng tuần, từng tháng cho mỗi lớp.

*Khó khăn:

Trường nằm trên trục đường Nam Quảng Nam, thuộc phường Hòa Hương,

thành phố Tam Kỳ, dân cư không đông đúc nhưng lại gần chợ, gần lò giết mổ

gia cầm, cạnh trường còn có 2 xưởng cưa xẻ gỗ, 1 xưởng tái chế nhựa từ bao ni

lông phế thải và 1 xưởng cơ khí. Vì vậy, vấn đề ô nhiễm môi trường là không

tránh khỏi.

Khí hậu trên địa bàn tương đối khắc nghiệt, mưa nắng thất thường, bão lũ

thường xuyên xảy ra.

Số lượng cây xanh trong sân trường nhiều nhưng vẫn chưa đảm bảo bóng

mát và môi trường trong lành cho học sinh vì diện tích khuôn viên nhà trường

quá rộng.

Ý thức của người dân và học sinh về môi trường và bảo vệ môi trường chưa

cao. Hầu hết cha mẹ các em HS đều làm nghề nông, buôn gánh bán bưng, và lao

động phổ thông như: thợ nề, thợ mộc, thợ rèn , làm thuê… Đời sống của đại đa

số gia đình các em rất khó khăn, cả lớp có 4 em thuộc diện xóa đói giảm nghèo,

4 em thuộc diện mồ côi; Vì thế các em chưa được gia đình quan tâm một cách

đúng mức về việc học tập cũng như rèn luyện hạnh kiểm. Chưa nói đến việc

ngay bản thân nhiều bậc phụ huynh cũng chưa có nhận thức đúng mức về bảo vệ

môi trường. Đa số học sinh đã được giáo dục bảo vệ môi trường, thế nhưng qua

khảo sát, theo dõi tôi nhận thấy vẫn còn nhiều học sinh do nhận thức bảo vệ môi



trường sống chưa cao nên hầu hết các em còn bộc lộ rất nhiều hành vi có tác

động xấu đến môi trường như:

+ khạc nhổ bừa bãi, vứt rác tứ tung, đi tiêu, đi tiểu không đúng nơi quy

định, chạy chân đất, chơi nhiều trò chơi mất vệ sinh như hốt cát ném nhau ...

+ Trèo cây, bẻ cành, giẫm đạp lên cây trồng, thảm cỏ,... Không tôn trọng,

bảo vệ tài sản của công, vẽ bậy trên tường, bảng, bàn ghế...

+ Tham gia lao động vệ sinh ở trường với thái độ thờ ơ, bắt buộc, chưa

biết gìn giữ an toàn trong lao động vệ sinh, không đeo khẩu trang, đùa nghịch

bằng dụng cụ lao động.

+ Ở nhà các em còn đi bắt chim, trong đó có các loại có ích như chim sâu,

chưa có ý thức bảo vệ cây trồng trong vườn nhà, đường thôn, khối phố.

+ Một số gia đình của các em học sinh nghèo còn sử dụng bao ni- lông

ruột xe để đun nấu thức ăn, sử dụng than tổ ong để nấu rượu, cám heo hằng

ngày, đánh bắt cá bằng hóa chất,...

Từ thực trạng nêu trên, tôi ý thức được rằng trách nhiệm của giáo viên chủ

nhiệm trong việc giáo dục bảo vệ môi trường cho các em là rất lớn, rất cần thiết

và cấp bách.

5. Nội dung nghiên cứu:

 Biện pháp 1: Khảo sát nhận thức học sinh về bảo vệ môi trường



sống.

Mục đích: Để nắm bắt một cách cụ thể tình hình nhận thức của học

sinh về bảo vệ môi trường, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch giáo dục một cách

sát hợp cho từng nhóm đối tượng.

Trong 4 tuần đầu tiên của năm học 2010-2011, tôi tiến hành theo dõi,

khảo sát, điều tra đối với 32 học sinh của lớp 5/2 tôi chủ nhiệm, kết quả như sau:

 Khảo sát nhận thức học sinh về bảo vệ môi trường sống:

Để tìm hiểu nhận thức, nắm bắt khả năng thích ứng và nhu cầu của học

sinh nhằm thực hiện giáo dục môi trường cho học sinh đạt hiệu quả cao, chúng

tôi cũng đã khảo sát bằng phiếu trưng cầu ý kiến từng học sinh và kết quả như

sau:



Chuẩn A: Tốt



Chuẩn B: Khá



Chuẩn C: TB



Chuẩn D: Yếu



TS



có ý thức



có ý thức



có ý thức



chưa có ý thức



HS



BVMT



BVMT



BVMT



BVMT



SL



SL



TL



SL



TL



SL



TL



2



32



TL

6,3%



5



15,6%



4



12,5%



21



65,6%



*Kết quả: Chuẩn A, B, C chiếm < 50%

Chuẩn D



chiếm > 50%



 Khảo sát về hành vi bảo vệ môi trường:



Hành vi tốt



Hành vi xấu



Bảo vệ môi trường



Bảo vệ môi trường



Tổng

số HS

32



SL



TL



SL



TL



8



25%



24



75%



 Biện pháp 2: Nghiên cứu và thực hiện nội dung chương trình lồng

ghép giáo dục môi trường cho học sinh lớp 5 qua các môn học.

Mục đích: Nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho học sinh

thông qua các môn học cụ thể

Trong những năm gần đây, ở bậc tiểu học nói chung và tại trường tiểu học

Lê Thị Hồng Gấm nói riêng, nội dung giáo dục môi trường đã được đưa vào dạy

lồng ghép trong các môn học như: Khoa học, Tự nhiên - Xã hội, Đạo đức, Tiếng

Việt. Bản thân tôi đã tham gia đầy đủ các chuyên đề do Phòng giáo dục cũng

như trường tố chức, tôi đã dành nhiều thời gian để nghiên cứu, soạn bài lựa chọn

nội dung kiến thức, phương pháp giảng dạy thật phù hợp với yêu cầu lồng ghép

cho từng môn học, bài học cụ thể, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học

sinh trên phương châm “chính xác, phù hợp, không gượng ép, có hiệu quả cao”.

*Tích hợp, lồng ghép GDBVMT trong môn Tiếng Việt lớp 5:



Khi dạy môn Tiếng Việt, thông qua các ngữ liệu dùng để dạy kiến thức và

kĩ năng, thể hiện ở các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và

câu, Tập làm văn, tôi cung cấp cho HS những hiểu biết về đặc điểm sinh thái

môi trường, sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên. Từ đó tôi giáo dục cho các em

lòng yêu quý, ý thức bảo vệ môi trường, có hành vi đúng đắn với môi trường

xung quanh.



Ví dụ:

Tuầ

n

11



Bài học

Chính tả

Luật Bảo vệ



Nội dung tích hợp về GDBVMT



TH

- Nâng cao nhận thức và trách nhiệm - Khai thác trực

của HS về BVMT.



môi trường



Kể chuyện

Người đi săn

và con nai



Phương thức



tiếp nội dung

bài.



- Giáo dục ý thức BVMT, không săn - Khai thác trực

bắt các loài động vật trong rừng, góp tiếp nội dung

phần giữ gìn vẻ đẹp của môi trường bài.

thiên nhiên.



Tập đọc

Tiếng vọng



- GV tìm hiểu bài để HS cảm nhận - Khai thác trực

được nỗi băn khoăn, day dứt của tác tiếp nội dung

giả về hành động thiếu ý thức BVMT, bài.

gây ra cái chết đau lòng của con chim

sẻ mẹ, làm cho những con chim non

từ những quả trứng trong tổ “mãi mãi

chẳng ra đời”.



Tuầ



Bài học



n



Nội dung tích hợp về GDBVMT



Phương thức

TH



LT&C



- GV hướng dẫn HS làm Bài tập 2 với - Khai thác gián



Quan hệ từ



ngữ liệu nói về BVMT, từ đó liên hệ tiếp nội dung

về ý thức BVMT cho HS.



Tập làm văn

Luyện tập

làm đơn



bài.



- Hai đề bài làm đơn để HS lựa chọn - Khai thác trực

đều có tác dụng trực tiếp về tiếp nội dung

GDBVMT.



bài.



*Tích hợp, lồng ghép GDBVMT trong môn Môn Khoa học lớp 5:

Nội dung GD BVMT của môn Khoa học được thể hiện chủ yếu qua các

vấn đề:

- Cung cấp cho HS những hiểu biết về môi trường sống gắn bó với các

em, môi trường sống của con người.

- Hình thành các khái niệm ban đầu về môi trường, môi trường tự nhiên,

môi trường nhân tạo, sự ô nhiễm môi trường, bảo vệ môi trường.

- Biết một số tài nguyên thiên nhiên, năng lượng, quan hệ khai thác, sử

dụng và môi trường. Biết mối quan hệ giữa các loài trên chuỗi thức ăn tự nhiên.

- Những tác động của con người làm biến đổi môi trường cũng như sự cần

thiết phải khai thác, bảo vệ môi trường để phát triển bền vững.

- Hình thành cho học sinh những kỹ năng ứng xử, thái độ tôn trọng và bảo

vệ môi trường một cách thíết thực, rèn luyện năng lực nhận biết những vấn đề về

môi trường...

- Tham gia một số hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi, thuyết

phục người thân, bạn bè có ý thức, hành vi bảo vệ môi trường... …

Ví dụ:

Nội dung tích



Chương/Bài



Mức độ



Chủ đề về



hợp GDBVMT



tích hợp



Môi trường

Chủ đề: Con người và sức khoẻ có

- Mối quan hệ

giữa con người

* Con người



môi trường



với môi trường:

con người cần

đến không khí

thức ăn, nước

uống từ môi

trường.



các bài sau: 8, 12, 13, 14,15, 16.

+ Bài 8: Vệ sinh ở tuổi dậy thì.

+ Bài 12: Phòng bệnh sốt rét.

+ Bài 13: Phòng bệnh sốt xuất



Liên



huyết.



hệ / bộ



+ Bài 14: Phồng bệnh viêm não.



phận



+ Bài 15: Phòng bệnh viêm gan A.

+ Bài 16: Phòng tránh HIV /

AIDS.



*Tích hợp, lồng ghép GDBVMT trong môn Môn Lich sử-Địa lí lớp 5:

Thông qua môn học Giúp HS:

- Hiểu biết về MT sống gắn bó với các em, môi trường sống của con ngời

trên đất nước Việt Nam, trong khu vực và trên thế giới.

- Nhận biết được những tác động của con người làm biến đổi MT cũng

như sự cần thiết phải khai thác, bảo vệ MT để phát triển bền vững.

- Hình thành và phát triển năng lực nhận biết những vấn đề về MT và

những kỹ năng ứng xử, bảo vệ MT một cách thiết thực.

- Có ý thức bảo Vệ MT và tham gia các hoạt động bảo Vệ MT xung

quanh phù hợp với lứa tuổi.

Ví dụ:

Môn

Lịch

sử:



Bài

- Bài: Đường Trường Sơn; Xây dựng nhà

máy thủy điện Hòa Bình.



Lớp



Mức độ tích hợp



Lớp - Mức độ liên hê

5



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Ô nhiễm môi trường nước. (Nguyên nhân: Nhu cầu nước dùng cho công nghiệp, nông nghiệp, và sinh hoạt tăng nhanh, nguồn nước bị ô nhiễm, nạn chặt phá rừng, . . .)

Tải bản đầy đủ ngay(28 tr)

×