Tải bản đầy đủ - 95 (trang)
CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN DABACO VIỆT NAM

CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN DABACO VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 95trang

Nguồn: Báo cảo tổng hợp 6 tháng đầu năm 2011 của Công ty DaBaCo

Biểu đồ 2.1: Tỷ trọng doanh thu theo nhóm sản phẩm của DABACO 6 tháng đầu

năm 2011



Nguồn: Báo cáo tổng hợp của Công ty DaBaCo

Biểu đồ 2.2: Cơ cấu doanh thu các sản phẩm của DABACO qua các năm 2008

đến 2011.

Trong sáu loại sản phẩm, dịch vụ công ty đang cung cấp cho thị trường, thức

ăn chăn nuôi là sản phẩm luôn chiếm tỷ trọng doanh thu cao nhất, trên 70%, nó

đóng vai trò lớn trong sự tăng trưởng của công ty trong những năm qua. Bên cạnh

sản phẩm thức ăn chăn nuôi, DABACO đã và đang đa dạng hóa hoạt động của mình

theo cả chiều sâu và chiều rộng. Về chiều sâu, Công ty tiến dần đến hoạt động khép

kín từ giống- thức ăn- gia công, chế biến và xuất khẩu thực phẩm. Về chiều rộng,

công ty phát triển các dịch vụ nhà hàng, hệ thống siêu thị, xây dựng cơ sở hạn tầng,

khu đô thị và kinh doanh bất động sản.

Về hình thức sở hữu, hiện tại DABACO là doanh nghiệp không phải là

doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11, và luật

chứng khoán 70/2006/QH11.



Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ nắm giữ cổ phần của nhà nước, cá nhân, tổ chức trong và

ngoài nước tại DABACO tại năm 2011



2.2 Thực trạng quản trị lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Tập Đoàn Dabaco Việt

Nam

Nội dung của phần này tập trung trình bày và phân tích thực trạng việc xác

định lợi nhuận và phân phối lợi nhuận với tư cách là kết quả cuối cùng từ hoạt động

sản xuất kinh doanh của DABACO mẹ.

Xác định doanh thu,doanh thu của Công ty Cổ phần Dabaco được xác định

trên cơ sở doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh thu từ hoạt động tài

chính và doanh thu từ hoạt động khác. Cơ sở xác định doanh thu là cơ sở dồn tích,

nhất quán trong các kỳ kế toán,doanh nghiệp áp dụng tính thuế gía trị gia tăng theo

phương pháp khấu trừ nên việc xác định doanh thu của doanh nghiệp tương đối

chính xác.

Khi xác định các khoản làm giảm doanh thu, được thông báo minh bạch

trong doanh nghiệp giúp việc xác định các khoản giảm giá tương đối dễ dàng, thống

nhất trong toàn doanh nghiệp làm cho việc xác định doanh thu thuần của hoạt động

sản xuất của doanh nghiệp tương đối chính xác.

Giữa công ty mẹ và công ty con, trao đổi hàng hóa cho nhau để làm nguyên

liệu cho hoạt động sản xuất của mình và để bán đến tay người tiêu dùng cuối cùng.

Tuy nhiên việc xây dựng giá bán cho công ty con mới chỉ dừng ở mức tuân thủ

pháp luật, chưa có hệ thống giá được xây dựng khoa học giúp xác định chính xác

lợi nhuận của công ty mẹ và công ty con một cách chính xác.

Doanh thu hoạt động tài chính của công ty mẹ dừng lại ở việc xác định các

khoản lãi cho vay đối với cá nhân, ngân hàng, các khoản chiết khấu thanh toán,

chênh lệch tỷ giá hối đoái đã thực hiện. Khoản lợi nhuận của công ty con không

được chia và ghi nhận là doanh thu hoạt động tài chính.

Xác định các loại chi phí của danh nghiệp, Chi phí quản lý liên quan đến

nhiều dự án, công ty con chưa có cách thức xác định chính xác, chắc chắn.

Việc xác định chi phí nguyên vật liệu sản xuất được tuân theo định mức, và

được mã hóa tự động trên cơ sở công nghệ tiên tiến giúp doanh nghiệp xác định

chính xác chi phí nguyên vật liệu trong sản xuất sản phẩm.

Đối với chi phí quảng cáo, tiếp thị khuyến mại: Chi phí quảng cáo khuyến

mại, được xác định chung vào chi phí bán hàng của doanh nghiệp, không chi tiết chi

phí quảng cáo cụ thể, ở mục chi phí dịch vụ mua ngoài dành cho bán hàng hóa sản

phẩm. Doanh nghiệp xác định chi phí quảng cáo trên cơ sở không làm tăng giá

thành sản phẩm điều này không hợp lý.

Việc xác định chi phí giá vốn hàng bán cho hoạt động bán con giống và sản

phẩm chăn nuôi tương đối khó khăn do không có tiêu thức rõ ràng để ghi nhận chi



phí con giống bố mẹ.

Việc ghi nhận giá vốn bất động sản chuyển giao được xác định dựa trên chi

phí trực tiếp liên quan đến bất động sản tại thời điểm doanh thu được ghi nhận một

cách tương đối chắc chắn, theo các giai đoạn của hợp đồng chuyển giao bất động

sản. Việc xác định doanh thu chuyển giao bất động sản được xác định các mốc thời

điểm rõ ràng, nhất quán trong các kỳ kế toán. Tuy nhiên, việc xác định những chi

phí gián tiếp liên quan đến bất động sản như chi phí nhân viên quản lý, chi phí bán

hàng lại tương đối khó khăn doanh nghiệp dự tính chưa có cơ sở vững chắc

Xác định lợi nhuận,việc xác định lợi nhuận kế hoạch mới chỉ thực hiện ở cấp

tập đoàn, không chi tiết cụ thể hóa đến từng đơn vị hạch toán phụ thuộc và công ty

con. Việc giao kế hoạch cho các công ty con mới chỉ được giao trên chỉ tiêu doanh

số, doanh thu, không có kế hoạch lợi nhuận cuối cùng. Điều này gây khó khăn cho

doanh nghiệp trong việc đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh riêng cho

từng đơn vị. Xác định lợi nhuận thực hiện, chưa theo dõi được kết quả tổng hợp tại

công ty mẹ và cụ thể tại công ty con trong những khoảng thời gian ngắn hơn, như

qúy, tuần, tháng, mới chỉ dừng lại ở khoảng thời quý và năm.

Phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp,doanh nghiệp xác định lợi nhuận của

công ty con, công ty mẹ trong kỳ có ý nghĩa nhiều cho việc tính thu nhập chịu thuế,

chấp hành các quy định của pháp luật. Bản thân từng công ty con không phân phối

lợi nhuận.Việc phân phối lợi nhuận chỉ được tập trung tại tổng công ty dựa trên báo

cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh hợp nhất. Tính tự chủ, độc lập trong kết

quả lợi nhuận của các công ty con tương đối thấp

Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp luôn ở mức cao và có xu hướng

tăng trong giai đoạn hiện tại và một vài năm tới, ROE của DaBaCo ở mức cao trên

15% và đang có xu hướng tăng lên, năm 2010 lên đến 23.09%, năm 2011 dự kiến

ROE của DaBaCo là 25%. Tỷ lệ ROE cao và tăng một phần do DaBaCo sử dụng

đòn bẩy tài chính trong kinh doanh, một mặt do doanh nghiệp quản trị tốt doanh

thu, chi phí và lợi nhuận. Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế/ doanh thu thuần ở mức cao và

bước tăng tỷ lệ này ngày càng lớn. Từ năm 2008 đến năm 2009, bước tăng tỷ lệ lợi

nhuận sau thuế/ doanh thu là 1%, xong từ năm 2009 đến năm 2010 tỷ lệ này tăng

lên 3.24%.

Doanh nghiệp hiện đang theo chính sách cổ tức ổn định, và chi trả cổ tức

bằng tiền mặt, tỷ lệ duy trì ổn định trong các năm với mức cao trong ngành chế biến

thức ăn chăn nuôi với tỷ lệ 15%/ vốn góp và có kế hoạch 20%/ vốn góp trong năm

2011.



Bảng 2. 2: Tổng hợp tỷ lệ chia cổ tức của ba công ty lớn trong ngành chế biến

thức ăn chăn nuôi

Năm 2008

Công ty Cổ phần Tập Đoàn 15%/ vốn góp

DaBaCo Việt nam

Công ty Cổ phần chăn nuôi 15%vốn góp

Việt nam

Công ty Cổ phần Thuỷ sản 3.9%/ vốn góp

Việt Thắng



Năm 2009



Năm 2010



15%/ vốn góp 15%/ vốn góp

15%vốn góp



15%vốn góp



10%/ vốn góp 0%



(Nguồn: Bản cáo bạch, quyết định phân chia lợi nhuận của các công ty)



Qua các năm, mức trích vào quỹ phát triển sản xuất được trích lập luôn ở

mức cao là 60% lợi nhuận sau khi đã chi cổ tức cộng với khoản còn lại sau khi chi

vào các quỹ dự phòng tài chính và khen thưởng phúc lợi cũng được chia vào quỹ

này. Doanh nghiệp không giới hạn tối đa % lợi nhuận trích lập vào quỹ phát triển

sản xuất, điều này phù hợp với thực tế, doanh nghiệp tăng trưởng bền vững.10% lợi

nhuận sau thuế được chia vào quỹ dự phòng tài chính, 10% lợi nhuận sau thuế được

phân chia vào quỹ khen thưởng phúc lợi.

2.3 Đánh giá thực trạng quản trị lợi nhuận của Công ty Cổ phần Tập

Đoàn Dabaco Việt Nam

Kết quả đạt đuợc

Có thể tóm lại một số kết quả mà Công Ty Cổ phần Tập Đoàn DABACO

Việt Nam mẹ đạt được như sau: Xác định lợi nhuận hợp nhất tương đối chính

xác.Việc phân chia lợi nhuận giải quyết tốt nhu cầu tăng trưởng mở rộng đồng thời

đảm bảo tỷ lệ thu nhập ổn định cho cổ đông; Chính sách cổ tức tăng trưởng ồn định

giúp công ty dễ dàng trong việc hoạch định chiến lược, tham gia vào thị trường

chứng khoán, phát hành thành công các đợt cổ phiếu và trái phiếu; Việc trích lập

quỹ khen thưởng phát huy tích cực tinh thần trách nhiệm, năng suất lao động của

đội ngũ cán bộ quản lý tại DABACO mẹ; Công ty chủ động, tích cực trong việc

phân phối lợi nhuận theo cơ hội tăng trưởng, không phụ thuộc vào quy định của

nhà nước; đồng thời, Doanh nghiệp tích lũy được kinh nghiệm trong việc phân phối

lợi nhuận và sử dụng các quỹ chuyên dùng của toàn bộ tập đoàn tạo tiền đề, cơ sở

cho việc phân phối lợi nhuận của công ty mẹ và công ty con;Quỹ dự phòng tài

chính được trích lập giúp doanh nghiệp giảm những tổn thất do những rủi ro không

mong muốn liên quan đến công nợ, đầu tư tài chính.

Hạn chế & nguyên nhân



Bên cạnh những kết quả đã đạt được, quản trị lợi nhuận của công ty Dabaco

còn một số hạn chế sau: Tính chính xác của lợi nhuận bị giảm do xác định chi phí

chung liên quan tới hoạt động kinh doanh bât động sản và họat động chăn nuôi gia

súc thiếu chính xác; Lợi nhuận của công ty mẹ bị thiếu sót do không phân phối lợi

nhuận của công ty con; phân phối lợi nhuận tập trung, làm cho những công ty thành

viên yếu kém, hoạt động thua lỗ ỷ lại vào lợi nhuận của toàn bộ công ty; Cơ chế xác

định giá sản phẩm chuyển giao giữa công ty mẹ và công ty con không được xác

định dẫn đến cơ sở đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty mẹ

và công ty con chưa phục vụ tốt cho quyết định chi phí lợi nhuận của từng công ty;

Việc không trích lập quỹ phát triển khoa học kỹ thuật làm doanh nghiệp tăng một

khoản thuế thu nhập doanh nghiệp, trong khi vấn đề phát triển khoa học kỹ thuật là

vẫn đề luôn được công ty đặt ra để thực hiện; Việc xác định lợi nhuận tổng hợp của

công ty mẹ vẫn chậm, chưa xác định chính xác được với khoảng thời gian ngắn hơn

như tuần, tháng.

Nguyên nhân chủ quan của những hạn chế trên phai kể đến: Cơ cấu tổ chức

của công ty chưa cho phép xác định các trung tâm lợi nhuận riêng rẽ hoàn toàn,

chức năng quản lý cấp chiến lược và cấp tác nghiệp không phân định rõ ràng gây

khó khăn cho việc xác định chi nhí, lợi nhuận. Công ty tổ chức các phòng ban

không thật sự sâu sát vói từng mảng hoạt động cụa thể, nhất là hoạt động tài chính

và kế toán. Cơ chế kiểm soát tài chính của doanh nghiệp mới dừng lại ở mức tuân

thủ quy định của pháp luật, doanh nghiệp chưa có bộ phận kiểm soát nội bộ. Cán bộ

quản lý doanh nghiệp chưa chú trọng đến quản trị lợi nhuận. Doanh nghiệp đang

phát triển trở thành tập đoàn kinh tế hùng mạnh trong khi việc quản trị tài chính

chưa đáp ứng được sự thay đổi của mô hình quản lý mới

Nguyên nhân khách quan của thực trạng trên là thị trường tài chính chưa

phát triển, doanh nghiệp buộc phải dành phần lớn lợi nhuận để đáp ưng nhu cầu đầu

tư; Nhà nước chưa có cơ chế tài chính cụ thể cho doanh nghiệp tư nhân;Mô hình tập

đoàn kinh tế đang được áp dụng tại những tổng công ty nhà nước lớn. Cơ sở lý

thuyết và thực tiễn của quản trị tài chính nói chung và quản trị lợi nhuận nói riêng

của mô hình này chưa được phổ biến, nhất là đối với doanh nghiệp tư nhân, khả

năng tiếp cận và ứng dụng mô hình quàn lý tài chính mói còn nhiều hạn chế; Các tổ

chức hội nghề nghiệp như Hội đồng kế toán quốc gia , Hội kiểm toán của Việt Nam

đang trên đà phát triển và hội nhập với quốc tế, nên những chuẩn mực kế toán được

đưa ra để doanh nghiệp nghiệp thực hành các nghiệp vụ tài chính vẫn đang được

nghiên cứu, hoàn thiện; Tình hình lạm phát tăng cao, lãi suất ngân hàng cao và



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN DABACO VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(95 tr)

×