Tải bản đầy đủ - 27 (trang)
2 Khái niệm về B- ISDN

2 Khái niệm về B- ISDN

Tải bản đầy đủ - 27trang

Tổng quan B-ISDN



địng hay cố định (PVC). Kết nối trong B-ISDN phục vụ cả chuyển mạch kênh,

chuyển mạch gói đa phương tiện, đơn phương tiện, theo kiểu định hướng kết nối

hoăcvj phi kết nối, điểm-điểm hoặc điểm-đa điểm và đa điểm-đa điểm. Thuật

ngữ B-ISDN được sử dụng nhằm ám chỉ và nhấn mạnh các khía cạnh băng rộng

của ISDN.

Các nguyên tắc cơ bản của B-ISDN bao gồm:

a)



Phương thức chuyển tải không đồng bộ (ATM: Asynchronous



Transfer Mode) là phương thức truyền dành cho B-ISDN. Như vậy có thể khẳng

định ATM sẽ là cơ sở hạ tầng của mạng B-ISDN tương lai.

b)



Về phương diện truyền dẫn hiện tại SDH được coi là phương tiện



truyền dẫn cơ bản của mạng B-ISDN tuy nhiên phương thức truyền không đồng

bộ sẽ được áp dụng trong toàn mạng B-ISDN bao gồm cả chuyển mạch và

truyền dẫn.

c)



B-ISDN hỗ trợ các kết nối điểm-tới-điểm, điểm-tới-đa-điểm, cố



định (permanent), bán cố định (semi-permanent) hay chuyển mạch (SVC) và

cung cấp các dịch vụ thời gian thực, các dịch vụ tương tác, các dịch vụ dành

riêng hay các dịch vụ theo yêu cầu. Các kết nối trong B-ISDN hỗ trợ cả các dịch

vụ theo phương thức chuyển mạch kênh hay chuyển mạch gói, theo kiểu đơn

hay đa phương tiện, cũng như hỗ trợ các dịch vụ có bản chất hướng kết nối hay

không kết nối cả với cấu hình hai hướng lẫn cấu hình một hướng.

d)



Một B-ISDN sẽ có các khả năng thông minh nhằm mục đích cung



cấp các đặc tính dịch vụ cao cấp, hỗ trợ các phương tiện bảo trì và khai thác

mạnh cũng như hỗ trợ việc quản trị và kiểm soát toàn mạng.

e)



Do B-ISDN được xây dựng trên cơ sở các khái niệm của ISDN, nên



mô hình tham chiếu của ISDN cũng là cơ sở đối với B-ISDN.

f)



Mô hình phân lớp theo mô hình giao thức hệ thống mở OSI giống



như đã được sử dụng đối với các giao thức ISDN cũng đựoc sử dụng trong BISDN. Cách tiếp cận này cũng cần phải được sử dụng cho các nghiên cứu về

mọi khía cạnh khác của B-ISDN bao gồm việc truyền thông tin, quá trình kiểm

soát, tính thông minh và quản trị mạng.



5



Tổng quan B-ISDN



g)



Mạng B-ISDN phải bảo đảm khả năng tương thích với những mạng



hiện có và phải bảo đảm khả năng cung cấp các dịch vụ mà các mạng hiện có

đang dùng. Sự ra đời của mạng B-ISDN là bước phát triển tiếp theo của ISDN.

h)



Mạng B-ISDN đựoc phát triển theo từng giai đoạn nhằm đáp ứng



các yêu cầu mới của người sử dụng phù hợp với các tiến bộ của công nghệ.

i)



Việc triển khai mạng B-ISDN có thể được thực hiện bằng rất nhiều



cách khác nhau tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của các nước. Quá trình phát triển

lên B-ISDN không đồng nhất tại các quốc gia và các khu vực.

1.2.2 Các đặc tính của B-ISDN dựa trên công nghệ ATM

Như đã được khẳng định trong các khuyến nghị của ITU-T, mạng BISDN sẽ được xây dựng trên nền tảng của công nghệ ATM. Phương thức truyền

không đồng bộ ATM có một số đặc điểm như sau:

a)



ATM được truyền theo các tế bào có cấu trúc cố định 53 Byte



b)



Với cơ chế ghép kênh thống kê ATM tạo ra khả năng ấn định độ



rộng băng động theo yêu cầu tăng hiệu suất sử dụng.

c)



Với khả năng tạo ra các kênh ảo, đường ảo ATM cung cấp cho



khách hàng kết nối theo yêu cầu chuyển mạch, cố định hay bán cố định mà vẫn

bảo đảm việc sử dụng các tài nguyên của mạng.

d)



ATM cung cấp chất lượng dịch vụ theo yêu cầu. Đặc tính lưu lượng



của mỗi loại dịch vụ trong mạng B-ISDN rất khác nhau đòi hỏi yêu cầu về QoS

khác nhau. ATM có khả năng cung cấp chất lượng dịch vụ từ thấp, trung bình

đến cao tuỳ thuộc vào yêu cầu của dịch vụ trong thời gian thiết lập cuộc gọi.

e)



Với cơ chế bảo dưỡng mềm bằng các tế bào bảo dưỡng lớp thấp,



ATM có khả năng đơn giản hoá vấn đề quản lý mạng.

f)



ATM rất mềm dẻo với các phương tiện truyền dẫn và tốc độ truyền



dẫn.

1.2.3 Các thành phần của B-ISDN

Các phần tử cơ bản cấu thành B-ISDN bao gồm:

a)



Mạng khách hàng, bao gồm các khách hàng riêng rẽ hoặc các nhóm



khách hàng được tập trung, sử dụng một giải rộng các dịch vụ từ băng hẹp đến

6



Tổng quan B-ISDN



băng rộng, thoại và/hoặc phi thoại với nhiều kiểu kết nối khác nhau. Các khách

hàng được kết nối tới mạng thông qua một số loại giao diện chuẩn. Các thành

phần cơ bản của mạng khách hàng bao gồm thiết bị đầu cuối ATM, các thiết bị

kết cuối mạng loại B-NT. Về cơ bản mạng khách hàng tương đối phức tạp và có

nhiều loại cấu hình. Do tồn tại nhiều loại thiết bị của nhiều nhà cung cấp khác

nhau nên mạng này đòi hỏi phải có tiêu chuẩn rõ ràng và tính tương thích của

các thiết bị phải cao.

b)



Mạng truy nhập B-ISDN thực chất nằm trong phạm vi của mạng



khách hàng. Tuy nhiên hiện nay các thiết bị ngày càng đựoc phát triển mạnh và

đa dạng. Các thiết bị truy nhập bao gồm một số loại tổng đài ngoại biên, truy

nhập thuê bao, truy nhập VB-5.x.

c)



Mạng đường trục (ATM backbone), bao gồm hệ thống truyền dẫn



đường trục dung lượng từ cao đến rất cao, thực hiện kết nối các nút của mạng

truy nhập ATM với nhau. Theo quy định của ITU, đường trục tiêu chuẩn cho BISDN là đường trục dựa rên công nghệ truyền dẫn phân cấp số đồng bộ (SDH:

Synchronous Digital Hierarchy).

d)



Hệ thống báo hiệu dựa trên tiêu chuẩn báo hiệu cho ISDN. Điều



này có nghĩa là báo hiệu liên đài tiêu chuẩn vẫn là báo hiệu số 7.

e)



Mạng đồng bộ, cung cấp xung nhịp chuẩn cho toàn mạng, dựa trên



các đồng hồ chủ có độ chính xác rất cao.

f)



Hệ thống quản lý, cung cấp các khả năng khai thác, quản trị và bảo



trì (OA&M: Operation, Administration and Maintenance) tự động cho toàn

mạng.

1.2.4 Phát triển B-ISDN

Mặc dù việc phát triển B-ISDN tuỳ thuộc tình hình cụ thể của từng quốc

gia song những vấn đề sau đây cần phải lưu ý:

a)



B-ISDN dựa trên các khái niệm đã được phát triển cho ISDN và có



thể phát triển lên bằng cách không ngừng kết hợp các chức năng bổ sung của BISDN vào mạng một cách trực tiếp nhằm bảo đảm các dịch vụ tiên tiến mới.

7



Tổng quan B-ISDN



b)



Việc triển khai B-ISDN có thể đòi hỏi một thời gian khá lâu, kéo



dài một, hai thập kỷ hay hơn nữa do các nhà điều hành phải tìm cho được

phương cách kinh tế nhất để phát triển mạng thành B-ISDN. Các giai đoạn phát

triển này (chẳng hạn như triển khai các mạng khu vực đô thị, các mạng cáp

quang thụ động, các mạng nội bộ LAN cũng như cả các mạng dựa trên vệ tinh)

cần phải hài hoà với các khái niệm B-ISDN đầy đủ, bảo đảm tiếp tục hỗ trợ các

giao diện và các dịch vụ hiện có, và rút cục sẽ phải tích hợp vào B-ISDN. Trong

các giai đoạn này, các phương án triển khai thích hợp nhất thiết phải phối hợp

được hoạt động của các dịch vụ B-ISDN và các dịch vụ trong các mạng khác.

c)



Trong quá trình phát triển thành một B-ISDN, một số kết nối điểm



tới điểm (point-to-point) có thể vẫn còn sử dụng một phần các thiết bị chuyển

mạch và truyền dẫn vốn không phải là tối ưu đối với B-ISDN, như các hệ thống

truyền dẫn theo phân cấp số cận đồng bộ (PDH: Plesiochronous Digital

Hierarchy) theo chuẩn G.702 chẳng hạn. Các kết nối như vậy có thể cung cấp

một tốc độ bít dịch vụ tối đa suy giảm tại giao diện mạng-người sử dụng (UNI:

User-Network Interface).

1.3



Công nghệ mới sẽ sử dụng trong mạng viễn thông Công an



1.3.1 ATM

Công nghệ ATM cung cấp chức năng chuyển mạch ở mọi tốc độ, tính

năng này phù hợp cho các dịch vụ tốc độ cao và dịch vụ tốc độ bit thay đổi. Kỹ

thuật này có ưu thế đặc biệt về khả năng truyền tải các loại hình thông tin ở các

tốc độ khác nhau.

Mạng Viễn thông Công an trong tương lai sẽ sử dụng công nghệ này trên

mạng lưới để giải quyết vấn đề cung cấp đa dịch vụ băng rộng như cung cấp các

dịch vụ đa phương tiện, hội nghị Video đa điểm, truyền ảnh động, truyền các

lệnh chỉ huy, tác chiến.... và phải cung cấp được dịch vụ thoại cơ bản trong

mạng B-ISDN tương lai.

1.3.2 SDH

Để đáp ứng dung lượng truyền dẫn lớn, mạng thông tin số đa dịch vụ đã

xuất hiện B-ISDN sẽ đòi hỏi một mạng có hiệu suất lớn hơn. Trong thực tế, B8



Tổng quan B-ISDN



SDN sẽ khích lệ việc sử dụng sợi cáp quang để truyền các dịch vụ có tốc độ cao

trên các mạng số. Hơn nữa vai trò của các thiết bị chuyển mạch, các thiết bị vận

hành và bảo dưỡng sẽ tạo nên một đột biến về quản lý toàn mạng bằng biện

pháp đơn giản và kinh tế nhất.

SDH không chỉ đảm bảo cho hiện tại mà còn chuẩn bị cho các mục tiêu

chiến lược lâu dài. SDH phát triển cho phép liên kết các phần tử của mạng số tại

các giao tiếp nút của mạng. Môi trường truyền dẫn tốt nhất là sợi quang cho

phép trực tiếp biến đổi tín hiệu điện thành quang mà không cần bổ sung thêm

các thông tin khác. Có thể tạo nên hệ có dung lượng khá cao bằng cách ghép

một số nhánh phân bậc hiện có. Điều này cần pahỉ dùng một số kỹ thuật đệm

xung ở tốc độ bit tương đối cao để bù cho những tần số tín hiệu khác nhau đã

được ghép. Mức đầu tiên của SDH sẽ đồng bộ và điều này yêu cầu một chuẩn

đồng hồ của mạng lưới duy nhất. Trên cơ sở này, các mức cao hơn của SDH có

thể thu được bằng cách ghép các luồng đồng bộ tránh được thủ tục đệm.

SDH có thể đảm bảo truyền dẫn thông suốt và xuyên qua mạng lưới và

cũng để đảm bảo làm việc ngay cả khi mất đồng bộ mạng lưới. Có thể coi SDH

đồng bộ ở mức khung đối với tất cả các mức của cấu trúc này cho phép truyền

tín hiệu không đồng bộ trong một đường đồng bộ . SDH là hệ thống truyền dẫn

đầu tiên được nghiên cứu có chú ý đến các nhu cầu chuyển mạch và nối chuyển

tiếp và chức năng điều hành mạng lưới. Những đặc điểm ấy thu được bằng cách

xác định những modul con của mức cơ bản được gọi là các container ảo và các

mào đầu rất lớn dành cho vận hành và bảo dưỡng chúng.

Hiện tại hệ thống truyền dẫn SDH của mạng Công an đang sử dụng là hệ

thống truyền dẫn của VNPT. Về lâu dài, Bộ Công an sẽ có kế hoạch triển khai

mạng truyền dẫn liên tỉnh và đường trục riêng biệt với mạng truyền dẫn quốc gia

để đảm bảo tính an toàn trong điều kiện xảy ra chiến tranh hay trong những tình

huống đặc biệt.



9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Khái niệm về B- ISDN

Tải bản đầy đủ ngay(27 tr)

×