Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đẩy nhanh xã hội hoá đào tạo nghề nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả đầu tư phát triển đào tạo nghề

Đẩy nhanh xã hội hoá đào tạo nghề nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả đầu tư phát triển đào tạo nghề

Tải bản đầy đủ - 0trang

Lý do cơ bản thực hiện cơ chế này là:

- Nhu cầu học nghề và chất lượng đào tạo nghề ngà) càng

cao, kinh phí đầu tư cho đào tạo nghề là quá lớn và ngà) càng

tăng, trong khi nguồn vốn từ ngân sách chi cho đào tạo nghề

không đủ sức tăng tương ứng với yêu cầu kinh phí đào tạc. Hơn

nữa, khác với hệ thống giáo dục phổ thông mang tính ph) cập,

đại trà, cấp học mang tính bắt buộc, được Nhà nước bao cấ) tồn

bộ, còn đào tạo nghề mang tính tự nguyện, lợi ích đem lại (ho cá

nhân nhiều hơn lợi ích đem lại cho xã hội, do đó người h)c trả

tiền là nhằm thực hiện cơng bằng trong giáo dục, công bằng

trong chi ngân sách và dành ngân sách chi cho các lợi ích cồng

cộng khác cần hơn.

- Các nước trên thê giới đều áp dụng cơ chế chia sẻ cii phí

trong đào tạo nghề, ngay cả các nước phát triển như Anh Đức

sau một thời gian khơng thu học phí học nghề thì nay đã tiíp tục

thực hiện việc thu học phí.

- Đối với nước ta chủ trương xã hội hố đào tạo nghề dễn ra

còn chậm so với tiềm năng và mức độ phát triển, chậm hĩn so

với sự chuyển đổi của nền kinh tế. Chủ trương xã hội hố li biện

pháp tích cực huy động sự đóng góp của nhân dân tronị điều

kiện NSNN còn hạn hẹp. Trong những năm gần đây, thực hện xã

hội hoá đào tạo nghề đã thu hút được nhiều nguồn lực xã hú đầu

tư cho đào tạo nghề, việc chia sẻ chi phí đào tạo, thực hiện :ã hội

hố đào tạo nghề là hướng đi cần thiết trong giai đoạn hiệi nay

và chiến lược đào tạo nghề đến năm 2020.

Hiện nay, việc chia sẻ chi phí đào tạo nghề, thực hiện ;ã hội

hoá đào tạo nghề được thể hiện trong Nghị quyết sơ' 0) của

170



Chính phủ về xã hội hóa giáo dục. Tuy nhiên, đơi với đào tạo

nghề cần phải được làm rõ những đặc điểm sau:

- NSNN chi hàng năm cho giáo dục và đào tạo tăng, nhung

chi cho đào tạo nghề có thể khơng bằng mức tăng chung chi cho

giáo dục phổ thông, giáo dục phổ cập. Vì vậy cần phải chủ động

tìm các nguồn vốn ngồi ngân sách.

- Đào tạo nghề là loại hình phổ biến trên tất cả các địa

phương, vùng lãnh thổ, đào tạo mang tính phổ cập cho người

trong độ tuổi lao động, cơ sở dạy nghề cần phải mở rộng về số

lượng và quy mô (khác với đào tạo đại học, cao đẳng là đào tạo

mang tính tinh hoa), cho nên cần đẩy nhanh xã hội hoá.

- Tỷ lệ học sinh học nghề trong các trường ngồi cơng lập

năm 2006 chiếm khoảng 33%, nhưng chỉ tiêu phấn đấu đến

nãm 2010 là 61% đòi hỏi phải tích cực xã hội hóa đào tạo nghề.

Đ ể đẩy nhanh xã hội hoá đào tạo nghê nhằm thu hút và sử

dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư phát triển đào tạo nghề, cần

thực hiện các giải pháp sau :

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức xã

hội về xã hội hoá đào tạo nghề như: Tuyên truyền sâu rộng đến

các cấp uỷ Đảng, chính quyền, cơ sở dạy nghề và nhân dân.

Nghiên cứu làm rõ vấn đề sở hữu, về tính chất hoạt động vì mục

đích lợi nhuận và khơng vì mục đích lợi nhuận, về trách nhiệm

của các tổ chức, cá nhân trong việc mở rộng xã hội hoá.

- Tiếp tục cải thiện mơi trường đầu tư cho đào tạo nghề. Có

chính sách riêng đầu tư phát triển đào tạo nghề, chính sách ấy

cần được ưu đãi hơn so với chính sách đầu tư cho cao đẳng, đại

học (vì hiện nay tỷ lệ lao động đào tạo nghề so với đào tạo cao

171



đẳng, đại học còn thấp, còn mất cân đối giữa đào tạo đại học, cao

đẳng và đào tạo nghề).

- NSNN cần tiếp tục ưu tiên đầu tư phát triển đào tạo nghề.

Nhà nước đầu tư phát triển đào tạo nghề thơng các hình thức

như: Cấp vốn trực tiếp cho hệ thống dạy nghề, hoặc cho người

học vay để học nghề, hoặc cho các tổ chức, cá nhân vay vốn ưu

đãi để đầu tư mở trường, lớp dạy nghề.

- Đẩy nhanh việc thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm

về tài chính, bộ máy, biên chế đối với đơn vị sự nghiệp công lập.

Chuyển đổi cơ sở dạy nghề công lập hoạt động theo cơ chế cung

ứng dịch vụ, đổi mới cơ chế sử dụng ngân sách; chính sách thuế,

đất đai...

- Xây dựng Quỹ hỗ trợ học nghề: Hiện nay, Luật Dạy nghề

quy định Quỹ hỗ trợ học nghề bao gồm nguồn tài chính do các

doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, các nhân đóng góp tự nguyện,

Chính phủ quy định cụ thể về thành lập, quản lý và sử dụng.

Tuy nhiên để đảm bảo công bằng trong đào tạo nghề, ngoài

việc xây dựng Quỹ hỗ trợ học nghề, cần xây dựng quỹ khuyến

học và về lâu dài cần yêu cầu người sử dụng lao động đóng phí

đào tạo nghề mang tính bắt buộc, với mức thu căn cứ vào số

lượng, bậc thợ của người lao động tuyển mới mà doanh nghiệp

không tự đào tạo, đối tượng lao động cần đào tạo lại, đào '.ạo

nâng cao, đào tạo cho lao động nữ.

- Thực hiện cơ chế, chính sách gắn đào tạo với sử dụnt?, đào

tạo với giải quyết việc làm. Các cơ quan QLNN cần có cơ chế,

chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ

chức, cá nhân tiong và ngoài nước đào tạo hoặc truyền nghề cho

172



lao động của mình; khuyến khích các trường đẩy mạnh liên

doanh, liên kết với các cơ sở sản xuất, các ngành kinh tế thông

qua hợp đồng đào tạo, thực hiện đào tạo có địa chỉ, đào tạo theo

yêu cầu của sản xuất; khuyến khích, hỗ trợ phát triển các làng

nghề, phố nghề, thực hiện đào tạo tại chỗ cho chuyển đổi cơ cấu

lao động ở nông thôn.

3.

Đổi mới cơ chê hoạt động, thực hiện cơ chê tự chủ, tự

chịu trách nhiệm của cơ sở dạy nghề

Đổi mới cơ chế hoạt động của cơ sở dạy nghề được thực hiện

đồng thời với việc đổi mới cơ chế tài chính.

Đối với nước ta, thực hiện chủ trương xã hội hoá đào tạo

nghề đã có nhiều phương thức hoạt động mới, khu vực đào tạo

nghể ngồi cơng lập phát triển, khu vực đào tạo nghề công lập

đang chuyển hướng theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Vì

vậy, từng bước chuyển đổi cơ chế quản lý cơ sở dạy nghề theo cơ

chế thị trường là hướng đi cần thiết.

Chuyển đổi cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính đối với cơ sở

dạy nghề, nhất là các cơ sở dạy nghề công lập theo mơ hình cơ

quan sự nghiệp trước đây, chuyển thành “cơ sở dịch vụ đào tạo”,

đây có thể xem như khâu đột phá về thu hút và sử dụng hiệu quả

đầu tư, nâng cao chất lượng đào tạo, tạo ra động lực phát triển. Chỉ

tiêu định hướng đến năm 2010 theo Nghị quyết số 05 của Chính

phủ về xã hội hoá giáo dục, chuyển phần lớn cơ sở dạy nghề công

lập sang cơ chế cung ứng dịch vụ.

Theo mô hình này, các cơ sở dạy nghề chuyển sang loại hình

dịch vụ đào tạo nghề cho xã hội, được thực hiện theo hợp đồng

173



học nghề, được đăng ký hoạt động, được thu và tự hạch toái, tự

chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo, được cạnh tranh tong

môi trường đào tạo.

Từng bước xoá bỏ chỉ tiêu đào tạo, Nhà nước quản lý 5ằng

việc thực hiện kiểm định các cơ sở dạy nghề, thơng báo vé các

khoản đóng góp (học phí và các chi phí học tập) cơng khai trên

các phương tiện thông tin để cho người học lựa chọn dịcỉ vụ.

Từng bước xoá bỏ chỉ tiêu ngân sách, Nhà nước hỗ trợ các cơ sở

dạy nghề bằng hình thức hỗ trợ một phần kinh phí theo số lvợng

học sinh tốt nghiệp (tốt nghiệp quy đổi giữa dài hạn, ngấn 'lạn,

giữa các cấp đào tạo), đặt hàng hoặc đấu thầu đào tạo đố với

những đối tượng mà Nhà nước bao cấp (sẽ được trình bày CI thể

tại mục 3.2.4 của luận án về đổi mới cấp NSNN).

Tạo cơ chế bình đẳng trong cạnh tranh cho các cơ sở dạy

nghề như: Bình đẳng về chỉ tiêu đào tạo, về văn bằng tốt ngiiệp,

về học liên thông lên cấp cao hơn, về cấp hoặc cho thuê đất đai,

nhà xưởng, về thuế.

Chuyển đổi mô hình các cơ sở dạy nghề thành “cơ sở dịci vụ

đào tạo” là việc làm khó khăn, tác động đến hệ thống cá: cơ

quan quản lý, đến các cơ sở và tác động đến cả người học Để

thực hiện chuyển đổi mơ hình cần thực hiện từng bước, đồnị bộ,

có sự chuẩn bị cho từng bước đi, từng bước tổng kết rút ánh

nghiệm, thực hiện đại trà và các bước tiếp theo.

Với cách đặt vấn đề như vậy, quá trình chuyển đổi co chế

hoạt động, cơ chế tài chính của các cơ sở dạy nghề, theo tác giả

cần thực hiện các biện pháp sau:

174



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đẩy nhanh xã hội hoá đào tạo nghề nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả đầu tư phát triển đào tạo nghề

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×