Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬP KHẨU VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬP KHẨU VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tốt nghiệp



Khoa thương mại quốc tế



lựa chọn thị trường cung cấp cho mình. Việc nhập khẩu hàng hóa từ thị trường nào cần

tính đến những lợi ích thu được cũng như những chi phí phải bỏ ra khi nhập khẩu từ thị

trường đó.

- Về mơi trường pháp luật: Cũng như các hoạt động thương mại quốc tế khác, hoạt

động nhập khẩu cũng chịu sự điều chỉnh của một số nguồn luật như: Luật thương mại,

các điều ước quốc tế và ngoại thương, luật quốc gia của các nước hữu quan, tập quán

TMQT… Do đó, khi tham gia nhập khẩu, mỗi doanh nghiệp cần nắm rõ nguồn luật điều

chỉnh hợp đồng nhập khẩu để tránh những tranh chấp phát sinh.

- Chủ thể hoạt động nhập khẩu: Theo nghị định số 57 của Chính phủ năm 1998, các

doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều có quyền tham gia nhập khẩu. Chủng loại

hàng hóa trong nhập khẩu chịu sự tác động của chính sách nhà nước với nhập khẩu.

Trong đó, một số loại hàng hóa được khuyến khích nhập khẩu, một số loại lại bị cấm

nhập khẩu hoặc bị quản lý bằng thuế, hạn ngạch, giấy phép.

- Về phương thức thanh toán: Các phương thức thanh toán trong nhập khẩu khá đa

dạng. Các doanh nghiệp tham gia vào nhập khẩu có thể sử dụng các phương thức thanh

tốn sau: tín dụng chứng từ, L/C, chuyển tiền…với các cơng cụ thanh toán như: tiền mặt,

séc, hối phiếu…

- Về nguồn vốn: Nguồn vốn trong nhập khẩu được vận động theo phương thức T-HT’. Trong đó, vốn T ban đầu được vận động dưới hình thức đồng tiền ngoại tệ. Còn doanh

thu hình thành dưới hình thức đồng bản tệ.

Mục đích của nhập khẩu là lợi nhuận, được hình thành khi (T’/T) > tỷ giá hối đối

hiện hành.

2.1.3. Vai trò của nhập khẩu

Nhập khẩu là hoạt động không thể thiếu đối với mỗi quốc gia. Đây cũng là nhân tố

quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khóa của sự tăng trưởng. Trong điều kiện nền

kinh tế hàng hóa ở nước ta hiện nay, nhập khẩu có vai trò hết sức to lớn.

a. Đối với nền kinh tế quốc dân:

- Nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo

hướng cơng nghiệp hóa đất nước

GVHD: T.S Nguyễn Bích Thủy



7



SVTH: Trần Mai Hương



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa thương mại quốc tế



Cơng nghiệp hóa là q trình chuyển đổi nền kinh tế một cách cơ bản từ lao động thủ

cơng sang lao động bằng cơ khí ngày càng hiện đại hơn.

- Nhập khẩu đem lại cho nền kinh tế những cơng nghệ hiện đại máy móc, thiết bị

tiên tiến, hồn thiện và có năng lực sản xuất hơn những thứ đã có trong nước. Từ đó nó

làm tăng hiệu quả sản xuất, tăng sản lượng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân.

- Nhập khẩu góp phần đáng kể vào việc xóa bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ nền

kinh tế đóng tự cung tự cấp. Ngồi ra, nó còn đưa tới việc xóa bỏ nhanh chóng các chủ

thể kinh doanh các sản phẩm lạc hậu không thể chấp nhận được, góp phần hồn thiện cơ

chế quản lý xuất nhập khẩu của nhà nước.

- Nhập khẩu là để tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ tiên tiến, hiện đại

cho sản xuất và các loại hàng hóa cho tiêu dùng mà trong nước khơng sản xuất hoặc

trong nước có sản xuất nhưng khơng đáp ứng nhu cầu.

- Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân.

Nhập khẩu có vai trò làm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của nhân dân về hàng

tiêu dùng mà trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu.

Thơng qua nhập khẩu, nhân dân có nhiều sự lựa chọn sản phẩm hơn cho cuộc sống, góp

phần giảm bớt khoảng cách về mức sống so với các nước khác.

Nhập khẩu đồng thời tạo ra tính cạnh tranh cho sản xuất trong nước. Trên cơ sở đó

buộc các doanh nghiệp trong nước không ngừng nâng cao chất lượng, kiểu dáng, mẫu

mã, chủng loại cho sản phẩm của mình. Rõ ràng, trên phương diện này, nhập khẩu đã

đem lại một tác động kép tích cực cho nền kinh tế.

- Nhập khẩu còn để thay thế sản xuất nghĩa là nhập khẩu những thứ mà sản xuất

trong nước sẽ khơng có lợi bằng nhập khẩu. Như vậy sẽ làm tác động tích cực đến sự

phát triển cân đối và khai thác tiềm năng, thế mạnh của nền kinh tế quốc dân về sức lao

động, vốn, cơ sở vật chất, tài nguyên và khoa học kĩ thuật.

- Nhập khẩu có vai trò tích cực thúc đẩy xuất khẩu. Sự tác động này thể hiện ở chỗ

nhập khẩu tạo đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu, điều này đặc biệt quan trọng đối với

các nước đang và kém phát triển như Việt Nam, vì khả năng sản xuất của các quốc gia

này còn hạn chế. Điều này thể hiện rõ quan niệm hiện nay “ lấy nhập khẩu để nuôi xuất

GVHD: T.S Nguyễn Bích Thủy



8



SVTH: Trần Mai Hương



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa thương mại quốc tế



khẩu” và sự phát triển gia công xuất khẩu ở Trung Quốc hay ở Việt Nam đã chứng minh

cho điều này.

b. Đối với các doanh nghiệp:

- Nhập khẩu giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được cả vốn và chi phí cho q trình

nghiên cứu cũng như thời gian và số lượng đội ngũ khoa học nghiên cứu mà vẫn thu

được kết quả tương đối về phát triển khoa học kỹ thuật.

- Nhập khẩu giúp các doanh nghiệp nhanh chóng nắm bắt, đón đầu những thành tựu

mới của khoa học kỹ thuật, những công nghệ tiên tiến mà nếu không thực hiện nhập khẩu

thì các doanh nghiệp sẽ ngày càng trở nên lạc hậu so với khu vực và thế giới.

- Hàng hóa nhập khẩu khơng những mở rộng q trình sản xuất của doanh nghiệp

mà còn góp phần khơng nhỏ vào việc nâng cao đời sống tinh thần, nâng cao tầm hiểu biết

về sự phát triển trên toàn cầu cũng như góp phần cải thiện điều kiện làm việc cho người

lao động thơng qua việc nhập khẩu máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất mới an toàn

hiệu quả.

Tuy nhập khẩu có vai trò to lớn như vậy nhưng nó cũng có những mặt hạn chế. Tức

là nếu nhập khẩu tràn lan thì sẽ dẫn đến nền sản xuất trong nước sẽ bị suy yếu. Vì vậy cần

có chính sách đúng đắn, có sự kiểm sốt chặt chẽ, kịp thời, hợp lí để khai thác triệt để vai

trò của nhập khẩu và hạn chế những hiện tượng xấu phát triển như: trốn thuế, tha hóa cán

bộ…

2.1.4. Các hình thức nhập khẩu

2.1.4.1. Nhập khẩu ủy thác

Nhập khẩu ủy thác là phương thức mà doanh nghiệp này ủy thác cho doanh nghiệp

có chức năng giao dịch trực tiếp tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của mình. Bên nhận ủy

thác sẽ tiến hành đàm phán với đối tác nước ngoài để làm thủ tục nhập khẩu theo yêu cầu

của bên ủy thác và được hưởng một khoản thù lao gọi là phí ủy thác.

- Theo phương thức này, doanh nghiệp nhập khẩu (doanh nghiệp nhận ủy thác)

không phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch (nếu có), khơng phải nghiên cứu thị trường

tiêu thụ hàng nhập khẩu mà chỉ đứng ra làm đại diện cho bên ủy thác giao dịch, ký kết



GVHD: T.S Nguyễn Bích Thủy



9



SVTH: Trần Mai Hương



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa thương mại quốc tế



hợp đồng, làm thủ tục nhập khẩu hàng cũng như thay mặt cho bên ủy thác khiếu nại, bồi

thường với bên nước ngồi khi có tổn thất.

- Các doanh nghiệp được ủy thác nhập khẩu chỉ được tính kim ngạch nhập khẩu chứ

khơng được tính doanh số, doanh thu. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp phải lập hai hợp

đồng: Hợp đồng mua bán hàng hóa với người nước ngoài, hợp đồng ủy thác với bên ủy

thác.

2.1.4.2. Nhập khẩu trực tiếp

Là hình thức nhập khẩu mà bên mua và bên bán trực tiếp giao dịch với nhau, hàng

hóa được mua trực tiếp từ nước ngồi mà khơng thông qua trung gian. Bên xuất khẩu trực

tiếp giao hàng cho bên nhập khẩu.

- Doanh nghiệp phải chịu mọi rủi ro, tổn thất, trách nhiệm pháp lý cũng như lợi

nhuận thu được và chịu mọi nghĩa vụ về thuế liên quan đến hàng hóa nhập khẩu về.

- Hình thức này có ưu điểm là lợi nhuận cao hơn so với hình thức nhập khẩu ủy thác

vì khơng phải chia sẻ lợi nhuận cho trung gian. Tuy nhiên, nhược điểm là độ rủi ro cao vì

doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm với tồn bộ hoạt động của mình trong suốt quá

trình nhập khẩu.

2.1.4.3. Nhập khẩu liên doanh

Là hoạt động nhập khẩu hàng hóa trên cơ sở liên kết một cách tự nguyện giữa các

doanh nghiệp (trong đó có ít nhất một doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp

kỹ năng để cùng giao dịch và đề ra các chủ trương biện pháp có liên quan đến nhập khẩu,

thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hướng có lợi cho các bên tham gia, lãi cùng hưởng

rủi ro cùng gánh chịu.

- Các bên tham gia chỉ phải góp một phần vốn nhất định và tỷ lệ phân chia lãi lỗ

phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp giữa các bên.

- Theo phương thức này, doanh nghiệp đứng ra nhập hàng sẽ được kim ngạch nhập

khẩu nhưng khi đưa hàng về tiêu thụ chỉ được tính doanh số bán hàng trên số hàng theo

tỷ lệ vốn góp và chịu thuế trên doanh số đó. Doanh nghiệp đứng ra nhập khẩu phải lập

hai hợp đồng: một hợp đồng với đối tác nước ngoài, một hợp đồng với đối tác liên doanh.



GVHD: T.S Nguyễn Bích Thủy



10



SVTH: Trần Mai Hương



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa thương mại quốc tế



2.1.4.4. Nhập khẩu hàng đổi hàng

Là hình thức nhập khẩu đi đơi với xuất khẩu, thanh tốn trong hoạt động này khơng

dùng tiền mà dùng hàng hóa. Mục đích của nhập khẩu hàng đổi hàng là vừa thu lãi từ

hoạt động nhập khẩu, vừa xuất khẩu được hàng hóa trong nước.

- Phương thức này mang lại lợi ích lớn hơn cho các bên tham gia hợp đồng, mặt

khác có thể tiến hành cùng một lúc cả hoạt động xuất và nhập khẩu.

- Hàng hóa xuất và nhập cũng là bạn hàng trong hoạt động xuất khẩu.

- Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp được tính cả kim ngạch nhập khẩu trực tiếp

và kim ngạch xuất khẩu, doanh số tiêu thụ trên cả hai loại mặt hàng.

2.1.4.5. Nhập khẩu gia cơng

Là hình thức nhập khẩu theo đó bên nhập khẩu cũng chính là bên nhận gia cơng tiến

hành nhập khẩu nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm về để tiến hành gia công theo hợp

đồng ký giữa hai bên. Hàng hóa nhập khẩu có thể do bên đặt gia cơng bán đứt cho bên

nhận gia công hoặc do bên đặt gia công chuyển sang cho.

2.1.4.6. Nhập khẩu tái xuất

Là hoạt động nhập khẩu hàng hóa nhưng khơng phải để tiêu thụ ở nội địa mà để xuất

sang nước thứ ba nào đó nhằm thu lợi nhuận. Hàng nhập khẩu này không được qua chế

biến ở nước tái xuất. Như vậy, phương thức nhập khẩu này được thực hiện thông qua ba

nước: nước xuất khẩu, nước nhập khẩu và nước tái xuất.

- Doanh nghiệp nhập khẩu ở nước tái xuất phải tính tốn chi phí, ghép mỗi bạn hàng

xuất và nhập bảo đảm sao cho có thể thu được số tiền lớn hơn tổng chi phí bỏ ra để tiến

hành hoạt động.

- Doanh nghiệp tái xuất lập hai bản hợp đồng: Hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng nhập

khẩu và không chịu thuế xuất nhập khẩu đối với mặt hàng kinh doanh.

- Để đảm bảo thanh toán, hợp đồng tái xuất thường sử dụng thư tín dụng giáp lưng.

- Hàng hóa khơng nhất thiết phải qua nước tái xuất mà có thể nhập thẳng về nước

thứ ba (các hoạt động giao dịch thì vẫn liên quan đến nước tái xuất).

Với nhiều phương thức nhập khẩu như vậy, các doanh nghiệp cần phải tiến hành

nghiên cứu kỹ lưỡng môi trường kinh doanh để từ đó ứng dụng các phương thức một

GVHD: T.S Nguyễn Bích Thủy



11



SVTH: Trần Mai Hương



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa thương mại quốc tế



cách linh hoạt và phù hợp nhất. Không nên chỉ áp dụng một hay một vài phương pháp

cho mọi thị trường, mọi đối tác.

2.2. Kinh doanh nhập khẩu

2.2.1. Khái niệm

Kinh doanh nhập khẩu ở đây là nhập khẩu từ các tổ chức kinh tế, các Cơng ty nước

ngồi, tiến hành tiêu thụ hàng hoá, vật tư ở thị trường nội địa hoặc tái xuất với mục tiêu

lợi nhuận và nối liền sản xuất giữa các quốc gia với nhau.

Mặt khác, kinh doanh nhập khẩu đảm bảo sự phát triển ổn định của các ngành kinh tế

mũi nhọn của mỗi nước mà khả năng sản xuất trong nước chưa đảm bảo vật tư, thiết bị kỹ

thuật đáp ứng nhu cầu phát triển, khai thác triệt để lợi thế so sánh của quốc gia, góp phần

thực hiện chun mơn hố trong phân cơng lao động quốc tế, kết hợp hài hồ và có hiệu

quả giữa nhập khẩu và cải thiện cán cân thanh toán.

2.2.2. Đặc điểm

Kinh doanh nhập khẩu là kinh doanh trên phạm vi quốc tế nên dịa bàn rộng, thủ tục

phức tạp, thời gian thực hiện lâu.Kinh doanh nhập khẩu phụ thuộc vào kiến thức kinh

doanh, trình độ quản lý, trình độ nghiệp vụ ngoại thương, sự nhanh nhạy nắm bắt thơng

tin.

2.2.3. Vai trò

- Kinh doanh nhập khẩu làm đa dạng hóa về mặt hàng , quy cách cho phép thỏa mãn

hơn nhu cầu trong nước, mở rộng khả năng tieu dùng của một nước, phục vụ nhu cầu

ngày càng tăng của người tiêu dùng.

- Kinh doanh nhập khẩu thúc đẩy mạnh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật,

chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

- Taọ sự cạnh tranh giữa hàng hóa nội và ngoại, tức là tạo ra động lực cho các nhà sản

xuất trong nước và không ngừng vươn lên để tồn tại, tạo ra sự phát triển thực chất của sản

xuất xã hội và thanh lọc các đơn vị sản xuất yếu kém.

- Tạo thuận lợi cho việc chuyển giao cơng nghệ, do đó tạo sự phát triển vượt bậc của

sản xuất hàng hóa, tiết kiệm chi phí và thời gian, tạo sự đồng đều và sự phát triển trong

nước.

GVHD: T.S Nguyễn Bích Thủy



12



SVTH: Trần Mai Hương



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa thương mại quốc tế



-Xóa bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ triệt để chế độ tự cung tự cấp của nền kinh tế

đóng.

- Kinh doanh nhập khẩu là cầu nối thông suốt nền kinh tế thị trường trong và ngoài

nước với nhau, tạo điều kiện cho phân công lao động và hợp tác quốc tế, phát huy được

lợi thế so sánh của đất nước trên cơ sở chun mơn hóa.

2.3. Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu

2.3.1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh nhập khẩu

2.3.1.1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh

Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố

đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp nhằm thu được kết quả cao

nhất với chi phí thấp nhất. Hiệu quả kinh doanh khơng chỉ là thước đo trình độ tổ chức

quản lý kinh doanh mà hiệu quả kinh doanh là vấn đề sống còn với mỗi doanh nghiệp.

2.3.1.2. Khái niệm hiệu quả kinh doanh nhập khẩu

Hoạt động kinh doanh nhập khẩu là một hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, do

đó quan điểm về hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp cũng dựa trên quan

điểm hiệu quả kinh doanh nói chung, hay hiệu quả kinh doanh nhập khẩu là mức độ tiết

kiệm chi phí và mức tăng hiệu quả kinh tế tính riêng cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu

hay nói cách khác nó phản ánh trình độ sử dụng nguồn nhân lực để đạt được kết quả cao

nhất với chi phí thấp nhất.

Từ khái niệm trên có thể đưa ra công thức đánh giá hiệu quả kinh doanh nhập khẩu:

 Dạng thuận:

Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu = Kết quả đầu ra/Chi phí đầu vào

Chỉ tiêu này biểu thị mỗi đơn vị đầu vào có khả năng tạo ra bao nhiêu đơn vị đầu ra.

 Dạng nghịch:

Hiệu quả kinh doanh xuất khẩu = Chi phí đầu vào/Kết quả đầu ra

Chỉ tiêu này cho biết để có một đơn vị đầu ra cần bao nhiêu đơn vị đầu vào.

Kết quả đầu ra được đo bằng các chỉ tiêu như giá trị tổng sản lượng, doanh thu thuần,

lợi tức gộp... Yếu tố đầu vào bao gồm: lao động, đối tượng lao động, vốn kinh doanh...



GVHD: T.S Nguyễn Bích Thủy



13



SVTH: Trần Mai Hương



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa thương mại quốc tế



2.3.2. Phân loại hiệu quả kinh doanh nhập khẩu

* Căn cứ theo phương pháp tính hiệu quả: có hai loại hiệu quả kinh doanh nhập

khẩu là: hiệu quả kinh doanh tương đối và hiệu quả kinh doanh tuyệt đối.

Hiệu quả kinh doanh tương đối: là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố

sản xuất của doanh nghiệp. Ký hiệu: KQ là kết quả đạt được, CF là chi phí bỏ ra. Ta có

cơng thức:

Cơng thức 1: = KQ/CF

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng chi phí bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu đồng kết quả. Nó

thể hiện sức sản xuất của các yếu tố đầu vào và việc sử dụng vốn kinh doanh của doanh

nghiệp. Doanh nghiệp hoạt động hiệu quả khi > 1 hay KQ> CF. Chỉ tiêu này càng cao thì

doanh nghiệp càng kinh doanh hiệu quả và ngược lại.

Công thức 2: = CF/KQ

Chỉ tiêu này phản ánh thu về một đồng kết quả thì phải bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí.

Với chỉ tiêu này, doanh nghiệp hoạt động hiệu quả khi < 1, tức là CF< KQ. Chỉ tiêu này

càng thấp thì doanh nghiệp càng kinh doanh hiệu quả và ngược lại.

 Căn cứ theo phạm vi tính hiệu quả:

Hiệu quả kinh doanh tổng hợp: Hiệu quả kinh doanh tính chung cho tồn doanh

nghiệp, cho tất cả các bộ phận của doanh nghiệp. Cho biết kết quả thực hiện các mục tiêu

doanh nghiệp đề ra trong giai đoạn nhất định.

Hiệu quả kinh doanh bộ phận: Hiệu quả kinh doanh tính chung cho từng bộ phận,

từng hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp hoặc từng yếu tố sản xuất.

 Căn cứ theo thời gian mang lại hiệu quả

Hiệu quả kinh doanh trước mắt là hiệu quả được đánh giá, xem xét trong khoảng thời

gian ngắn trước mắt và mang tính tạm thời. Tuy nhiên đó là căn cứ để các nhà quản trị

tính tốn để cân nhắc đảm bảo hiệu quả lâu dài cho doanh nghiệp mình.

Hiệu quả kinh doanh lâu dài là hiệu quả được đánh giá xem xét trong khoảng thời

gian dài, thường được gắn với các chiến lược, kế hoạch phát triển bền vững của doanh

nghiệp.



GVHD: T.S Nguyễn Bích Thủy



14



SVTH: Trần Mai Hương



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa thương mại quốc tế



2.3.3. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh nhập khẩu

2.3.3.1. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh nhập khẩu tổng hợp

a. Chỉ tiêu lợi nhuận nhập khẩu

Lợi nhuận nhập khẩu= Doanh thu nhập khẩu – Chi phí nhập khẩu

Lợi nhuận nhập khẩu là chỉ tiêu tổng hợp biểu hiện kết quả của q trình kinh doanh

nhập khẩu. Nó phản ánh các mặt số lượng và chất lượng hoạt động nhập khẩu của doanh

nghiệp, phản ánh kết quả việc sử dụng các yếu tố cơ bản của sản xuất như lao động, vật

tư, tài sản cố định… Tuy nhiên, chỉ tiêu lợi nhuận chưa cho biết hiệu quả kinh doanh

nhập khẩu được tạo ra từ nguồn lực nào, loại chi phí nào.

b.Tỷ suất lợi nhuận

 Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu

Là chỉ tiêu tương đối phản ánh quan hệ giữa tổng mức lợi nhuận đạt được trong kỳ

với tổng doanh thu bán hàng trong kỳ. Công thức xác định:

Pr= 100% x

Trong đó: Pr: tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu trong kỳ

P: Tổng lợi nhuận nhập khẩu thu được trong kỳ

R: Tổng doanh thu nhập khẩu trong kỳ

Ý nghĩa: Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu phản ánh kết quả hoạt động sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cho thấy cứ một đồng doanh thu thì sẽ mang lại bao

nhiêu đồng lợi nhuận. Nếu tỷ suất lợi nhuận càng cao chứng tỏ hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp đạt hiệu quả tốt, chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp là hợp lệ và ngược lại. Tỷ số này mang giá trị dương nghĩa là cơng ty kinh doanh

có lãi , mang giá trị âm cơng ty kinh doanh thua lỗ.



GVHD: T.S Nguyễn Bích Thủy



15



SVTH: Trần Mai Hương



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa thương mại quốc tế



 Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí

Là chỉ tiêu tương đối phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa tổng lợi nhuận và tổng chi phí kinh

doanh trong kỳ. Cơng thức xác định:

= 100% x

Trong đó: : tỷ suất lợi nhuận theo chi phí trong kỳ

P: Tổng lợi nhuận nhập khẩu thu được trong kỳ

C: Tổng chi phí từ hoạt động nhập khẩu trong kỳ

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng chi phí bỏ ra thì thu được bao nhiêu

đồng lợi nhuận, chỉ tiêu này càng lớn thì chứng tỏ với một mức chi phí thấp thì cho phép

mang lại lợi nhuận cao cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

 Tỷ suất lợi nhuận theo vốn kinh doanh

Là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận đạt được trong kỳ so với số vốn bình quân sử dụng

trong kỳ bao gồm vốn cố định và vốn lưu động. Công thức xác định:

= 100% x

Trong đó: : tỷ suất lợi nhuận trên tổng nguồn vốn

P: Tổng lợi nhuận nhập khẩu thu được trong kỳ

V: Tổng nguồn vốn kinh doanh bình quân trong kỳ

Ý nghĩa: Chỉ tiêu kinh tế này phản ánh trình độ sử dụng tài sản vật tư tiền vốn của

doanh nghiệp hay nói cách khác phản ánh mức sinh lời của vốn kinh doanh, tức là cứ một

đồng vốn kinh doanh bỏ ra trong kỳ sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ suất lợi

nhuận trên vốn càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp

là tốt.

c.Tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu

Tỷ suất ngoại tệ nhập khẩu: là lượng nội tệ thu được khi bỏ ra một đơn vị ngoại tệ để

nhập khẩu.

Tỷ suất ngoại tệ nhập khẩu: =

: lượng nội tệ thu được khi bán hàng hóa trên thị trường trong nước

GVHD: T.S Nguyễn Bích Thủy



16



SVTH: Trần Mai Hương



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa thương mại quốc tế



: số ngoại tệ bỏ ra để nhập khẩu

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng ngoại tệ bỏ ra sẽ thu về được bao nhiêu

đồng nội tệ.

2.3.3.2. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh nhập khẩu bộ phận

a. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động

 Số vòng quay của vốn lưu động

Là quan hệ tỷ lệ giữa tổng doanh thu thuần nhập khẩu so với mức dư bình quân số

vốn lưu động nhập khẩu trong kỳ. Cơng thức:

Svlđ= 100% x

Trong đó: Svlđ: số vòng quay vốn lưu động nhập khẩu

: doanh thu thuần nhập khẩu

Vlđ: Mức dư bình quân vốn lưu động nhập khẩu trong kỳ

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn lưu động bỏ vào kinh doanh nhập

khẩu thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu hay vốn lưu động quay ngược bao nhiêu

vòng trong một kỳ kinh doanh nhập khẩu. Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn

lưu động cho nhập khẩu của doanh nghiệp càng lớn.

 Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động

Là quan hệ tỷ lệ giữa số vốn lưu động nhập khẩu bình quân trong kỳ so với doanh thu

thuần nhập khẩu trong kỳ. Công thức xác định:

Hvlđ= 100% x

Hvlđ: Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động

: Doanh thu thuần nhập khẩu trong kỳ

: Vốn lưu động nhập khẩu bình quân trong kỳ

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này chỉ rõ để có một đồng doanh thu thuần nhập khẩu phải sử dụng

bao nhiêu đồng vốn lưu động bình quân. Chỉ tiêu này càng chứng tỏ hiệu quả sử dụng

vốn lưu động nhập khẩu càng cao thì số vốn cần tiết kiệm được nhiều và ngược lại.



GVHD: T.S Nguyễn Bích Thủy



17



SVTH: Trần Mai Hương



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬP KHẨU VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×