Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU VÀ CÁC YẾU TỐ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU VÀ CÁC YẾU TỐ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Theo lý luận Thương mại quốc tế, xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch vụ

cho nước ngồi nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng nước ngoài.

Theo Luật Thương mại Việt Nam 2005 (khoản 1 – Điều 28): “Xuất khẩu hàng

hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc

biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định

của pháp luật”.

Xuất khẩu là hoạt động nhằm mục đích tiêu thụ một phần tổng sản phẩm xã

hội ra nước ngoài. Xuất khẩu là một hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi

quốc tế. Xuất khẩu không chỉ là những hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ

thống các quan hệ mua bán trong thương mại có tổ chức nhằm mục đích đẩy mạnh

sản xuất hàng hóa, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ổn định và từng bước nâng cao đời

sống cho nhân dân. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên diện rộng về không gian và

thời gian, trong thời gian ngắn hoặc kéo dài hàng năm. Có thể trên phạm vi quốc gia

hay trên nhiều quốc gia khác nhau.

2.1.2 Đặc điểm hoạt động xuất khẩu

Hoạt động xuất khẩu là hoạt động kinh doanh trong đó hàng hóa và dịch vụ

được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Vì vậy, hoạt động xuất khẩu có những đặc

điểm riêng biệt như sau:

Thứ nhất là nguồn lực áp dụng: HĐXK là hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ

của các thương nhân trong và ngoài nước. Do vậy, hai bên phải tuân thủ các hiệp

định thương mại, điều ước quốc tế và luật pháp của hai nước cũng như của nước thứ

ba.

Thứ hai là chủ thể của hợp đồng xuất khẩu: Là những tổ chức, cá nhân có trụ

sở kinh doanh đặt tại hai quốc gia khác nhau.

Thứ ba là sự di chuyển hàng hóa: Hàng hóa được dịch chuyển qua biên giới từ

nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu hay được di chuyển ra vào trong các khu vực

hải quan đặc biệt thông qua thủ tục hải quan... Phương tiện vận chuyển có thể là tàu

thủy, tàu hỏa, máy bay, xe vận tải tùy theo thỏa thuận của hai bên để phù hợp với

điều kiện của từng công ty.

Thứ tư là hình thức mua bán: Thường là mua bán qua hợp đồng xuất nhập

khẩu với khối lượng mua lớn sẽ mang lại hiệu quả cao hơn.



5



Thứ năm là phương thức thanh toán: Đồng tiền thanh toán trong hoạt động

xuất khẩu là ngoại tệ hay có nguồn gốc ngoại tệ đối với một hay cả hai bên ký kết

hợp đồng. Thông thường tiền tệ được gửi đi từ nước nhập khẩu sang nước xuất khẩu

qua hệ thống ngân hàng. Khi có tranh chấp thì hai bên tự giải quyết hoặc đưa ra

trọng tài thương mại quốc tế của một trong hai quốc gia đã được quy định cụ thể tại

hợp đồng mua bán hàng hóa.

2.1.3 Hình thức xuất khẩu

Trong kinh doanh quốc tế có nhiều phương thức xuất khẩu khác nhau, mỗi

phương thức có đặc điểm riêng và kỹ thuật tiến hành riêng. Tuy nhiên trong thực tế,

xuất khẩu thường sử dụng một trong những phương thức chủ yếu sau:



 Xuất khẩu trực tiếp

Đây là hình thức mà việc xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ do chính doanh

nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước tới khách hàng

nước ngồi thơng qua các tổ chức của mình. Trong trường hợp doanh nghiệp tham

gia xuất khẩu là doanh nghiệp thương mại không tự sản xuất ra sản phẩm thì việc

xuất khẩu bao gồm hai cơng đoạn:

- Thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu với các đơn vị, địa phương trong nước

- Đàm phán ký kết với doanh nghiệp nước ngồi, giao hàng và thanh tốn

tiền hàng với đối tác.

Đây là hình thức xuất khẩu chủ yếu trong thương mại quốc tế. Với hình thức

này, người xuất khẩu sẽ giảm được chi phí trung gian do đó tăng thêm lợi nhuận cho

doanh nghiệp, có nhiều điều kiện phát huy tính độc lập của doanh nghiệp và chủ

động trong việc tiêu thụ hàng hóa của mình.



 Xuất khẩu ủy thác

Xuất khẩu ủy thác là hình thức kinh doanh trong đó đơn vị xuất nhập khẩu

đóng vai trò là người trung gian thay cho đơn vị sản xuất, tiến hành ký kết hợp đồng

xuất khẩu, tiến hành làm các thủ tục cần thiết để xuất khẩu cho nhà sản xuất và qua

đó nhận được một số tiền nhất định gọi là phí ủy thác.

Hình thức này bao gồm các bước sau:

- Ký kết hợp đồng xuất khẩu ủy thác với đơn vị trong nước



6



- Ký hợp đồng xuất khẩu, giao hàng và thanh toán tiền hàng với bên nước

ngồi

- Nhận phí ủy thác xuất khẩu từ đơn vị trong nước

Với hình thức này, người nhận ủy thác hiểu rõ thị trường pháp luật và tập quán

địa phương, do đó họ có khả năng đẩy mạnh việc bn bán và giảm bớt rủi ro cho

người ủy thác. Người nhận ủy thác không cần bỏ vốn vào kinh doanh, vừa tạo ra

công ăn việc làm cho nhân viên đồng thời thu về một khoản lợi nhuận đáng kể cho

doanh nghiệp.



 Tái xuất khẩu

Đây là hình thức xuất khẩu trở lại ra nước ngồi những hàng hóa trước đây đã

nhập khẩu, chưa qua chế biến ở nước tái xuất. Qua hợp đồng tái xuất bao gồm nhập

khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về số ngoại tệ lớn hơn số ngoại tệ đã bỏ ra ban

đầu. Hợp đồng này luôn thu hút ba nước là nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước

nhập khẩu. Vì vậy, người ta gọi giao dịch tái xuất là giao dịch ba bên hay giao dịch

tam giác.

Với hình thức xuất khẩu này, doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận cao mà

không phải tổ chức sản xuất, đầu tư vào nhà xưởng máy móc, thiết bị, khả năng thu

hồi vốn cũng nhanh hơn.



 Gia công quốc tế

Gia cơng quốc tế là hình thức kinh doanh trong đó một bên gọi là bên nhận gia

cơng ngun vật liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác gọi là bên đặt gia

công. Bên nhận gia công sẽ chế biến ra thành phẩm giao cho bên đặt gia cơng và

nhận thù lao gọi là phí gia cơng.Đối với bên đặt gia cơng: Hình thức này giúp họ lợi

dụng về giá rẻ của nguyên phụ liệu và nhân công của nước nhận gia cơng.Đối với

bên nhận gia cơng: Hình thức này giúp họ giải quyết công ăn việc làm cho nhân

công lao động trong nước hoặc nhập được thiết bị hay cơng nghệ mới về nước

mình, nhằm xây dựng một nền công nghiệp dân tộc văn minh hơn.



 Buôn bán đối lưu

Buôn bán đối lưu là một trong những phương thức giao dịch xuất khẩu trong

đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán hàng đồng thời là người

mua hàng, lượng trao đổi với nhau có giá trị tương đương.

7



Các bên tham gia luôn phải quan tâm đến sự cân bằng trong trao đổi hàng hóa.

Sự cân bằng này được thể hiện ở những khía cạnh sau:

- Cân bằng về mặt hàng

- Cân bằng về tổng giá trị hàng hóa giao nhau

- Cân bằng về điều kiện giao hàng

Hình thức bn bán đối lưu này có các loại hình như nghiệp vụ hàng đổi hàng,

nghiệp vụ bù trừ và nghiệp vụ mua đối lưu. Ngoài các hình thức trên còn có các

hình thức khác như đấu giá quốc tế, đấu thầu, hội chợ, triển lãm…

2.1.4 Vai trò hoạt động xuất khẩu

Xuất khẩu là nội dung chính của hoạt động ngoại thương và là hoạt động đầu

tiên trong hoạt động thương mại quốc tế, xuất khẩu ngày càng đóng vai trò quan

trọng trong q trình phát triển kinh tế của từng quốc gia cũng như trên toàn thế

giới.



 Đối với nền kinh tế quốc dân

Xuất khẩu là nhiệm vụ kinh doanh trên phạm vi quốc tế. Nó là một bộ phận cơ

bản của hoạt động kinh tế đối ngoại, là phương tiện thúc đẩy phát triển kinh tế, giúp

chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từng bước nâng cao đời sống nhân dân. Với một nền

kinh tế đang phát triển như nước ta, cơ sở vật chất còn yếu kém, thiếu đồng bộ, hơn

nữa dân số phát triển nhanh thì vấn đề thúc đẩy xuất khẩu là một chiến lược lâu dài.

Thứ nhất, xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ cơng

nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Ở các nước đang phát triển và kém phát triển,

một trong những vật cản chính đối với sự tăng trưởng kinh tế là thiếu tiềm lực về

vốn. Vì vậy, nguồn vốn huy động từ nước ngoài được coi là nguồn chủ yếu của họ

cho quá trình phát triển. Nhưng mọi cơ hội đầu tư hoặc vay nợ từ nước ngoài và

quốc tế chỉ tăng lên khi chủ đầu tư và người cho vay thấy được khả năng xuất khẩu

của nước đó, vì đây là nguồn chính để đảm bảo nước này có thể trả nợ được.

Thứ hai, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát

triển. Dưới tác động của xuất khẩu, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới đã,

đang và sẽ thay đổi mạnh mẽ hoạt động xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế

của các quốc gia từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.



8



Thứ ba, xuất khẩu có tác động tích cực đối với việc giải quyết công ăn việc

làm, cải thiện đời sống nhân dân.

Thứ tư, xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế đối

ngoại. Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại có sự tác động qua lại, phụ

thuộc lẫn nhau. Hoạt động xuất khẩu là một loại hoạt động cơ bản, là hình thức ban

đầu của kinh tế đối ngoại, từ đó thúc đẩy các mối quan hệ khác như du lịch quốc tế,

bảo hiểm quốc tế, tín dụng quốc tế,...cùng phát triển theo. Ngược lại sự phát triển

của các ngành này lại tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu phát triển.



 Đối với doanh nghiệp

Cùng với sự bùng nổ của nền kinh tế toàn cầu, xu hướng vươn ra thị trường

thế giới là một xu hướng tất yếu cho tất cả các quốc gia và doanh nghiệp. Hoạt động

xuất khẩu của doanh nghiệp có vai trò to lớn đối với bản thân doanh nghiệp khi

tham gia vào thương mại quốc tế.

Thứ nhất, thơng qua xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước có điều kiện

tham gia vào các cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng.

Những yếu tố này đòi hỏi các doanh nghiệp phải hình thành cơ cấu sản xuất phù

hợp với thị trường.

Thứ hai, sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao

động, tạo ra nguồn thu ổn định cho họ, tạo nguồn ngoại tệ để nhập khẩu hàng tiêu

dùng. Nó vừa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nhân dân, vừa thu được lợi

nhuận. Sản xuất hàng xuất khẩu còn đặt ra cho doanh nghiệp phải ln ln đổi mới

và hồn thiện cơng tác quản lý kinh doanh, đồng thời tạo nguồn vốn để tiếp tục đầu

tư vào sản xuất không chỉ về chiều rộng mà cả về chiều sâu.

Thứ ba, xuất khẩu tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng thị trường, mở

rộng quan hệ kinh doanh với các bạn hàng trong và ngoài nước, trên cơ sở hai bên

cùng có lợi. Vì vậy xuất khẩu giúp doanh nghiệp tăng được doanh thu và lợi nhuận,

đồng thời chia sẻ được rủi ro mất mát trong hoạt động kinh doanh, tăng cường uy

tín kinh doanh của doanh nghiệp.

Thứ tư, xuất khẩu khuyến khích phát triển các mạng lưới kinh doanh của

doanh nghiệp, chẳng hạn như hoạt động đầu tư, nghiên cứu và phát triển, các hoạt

động sản xuất, marketing cũng như sự phân phối và mở rộng kinh doanh.



9



Như vậy, hoạt động xuất khẩu có vai trò quan trọng và có tác động tích cực tới

sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cũng như sự phát triển kinh tế của quốc

gia.

2.2 Các yếu tố thị trường xuất khẩu ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu

2.2.1 Một số khái niệm về thị trường, thị trường xuất khẩu, phân loại, đặc

điểm và vai trò của thị trường xuất khẩu

a) Khái niệm về thị trường

- Theo trường phái Cổ điển thì: “Thị trường là nơi diễn ra các trao đổi, mua

bán hàng hố. Theo định nghĩa này thì thị trường được ví như "một cái chợ " có đầy

đủ khơng gian và thời gian, dung lượng cụ thể, xong nó chỉ phù hợp với thời kì sản

xuất chưa phát triển các hình thức mua bán trao đổi còn đơn giản. Khi nền kinh tế

hàng hố phát triển tới trình độ cao, các hình thức mua bán trao đổi trở lên phức tạp

đa dạng phong phú thì khái niệm này khơng còn phù hợp.

- Theo MC CARTHY: “Thị trường có thể hiểu là một nhóm khách hàng tiềm

năng với những nhu cầu tương tự (giống nhau) và những người bán đưa ra sản

phẩm khác nhau với cách thức khác nhau để thoả mãn nhu cầu đó”. Khái niệm này

khơng những nói lên được bản chất của thị trường mà còn giúp cho doanh nghiệp

xác định được mục tiêu, phương hướng kinh doanh của mình.

b) Khái niệm về thị trường xuất khẩu

Trên cơ sở khái niệm MC Carthy thị trường của xuất khẩu của doanh nghiệp

được định nghĩa như sau: “Thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp là tập hợp những

khách hàng nước ngoài tiềm năng của doanh nghiệp tức là những khách hàng nước

ngoài đang mua hoặc sẽ mua sản phẩm của doanh nghiệp ấy.”

c) Phân loại thị trường xuất khẩu:

- Căn cứ vào mối quan hệ trực tiếp hay gián tiếp với khách hàng: thị trường

xuất khẩu trực tiếp, thị trường xuất khẩu gián tiếp.

- Căn cứ vào thời gian thiết lập mối quan hệ với khách hàng: thị trường xuất

khẩu truyền thống và thị trường xuất khẩu mới.

- Căn cứ vào đối tượng hàng hóa hay dịch vụ trao đổi: thị trường xuất khẩu

gạo, thị trường xuất khẩu nông sản, thị trường xuất khẩu đồ thủ công mỹ nghệ…



10



- Căn cứ vào mức độ hạn chế xuất khẩu của chính phủ có: thị trường xuất

khẩu hạn ngạch và thị trường xuất khẩu phi hạn ngạch.

- Căn cứ vào mức độ quan trọng của thị trường: thị trường xuất khẩu chính,

thị trường xuất khẩu phụ.

- Căn cứ vào vị trí địa lý có: thị trường xuất khẩu từng quốc gia, thị trường

xuất khẩu trong khu vực, thị trường xuất khẩu tồn thế giới.

- Các tiêu chí phân loại khác : căn cứ vào hình thức sản xuất (thị trường xuất

khẩu hàng gia công, thị trường xuất khẩu hàng tư doanh), căn cứ vào tính cạnh

tranh của thị trường (thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường độc quyền, thị

trường cạnh tranh khơng hồn hảo) …

d) Các đặc điểm của thị trường xuất khẩu

- Thị trường xuất khẩu cũng hoạt động theo các quy luật kinh tế khách quan

của nó như là quy luật cung cầu, cạnh tranh, giá cả, giá trị cơ chế nàyđược gọi là cơ

chế tự điều tiết nó diễn biến tự nhiên. Bên cạnh sự vận động khách quan của các

quy luật kinh tế trên thị trường còn có sự tác động tham gia của các cơ quan quản lý

nhà nước bao gồm chính phủ các bộ ngành các địa phương, các đơn vị trung gian sự

tham gia của các cơ quan là nhằm khắc phục những mặt trái của cơ chế thị trường

tự điều tiết phát sinh ra cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước theo định

hướng xã hội chủ nghĩa.

- Thị trường xuất khẩu là luôn luôn biến động do sự tác động của nhiều nhân

tố khác nhau. Trong quá trình kinh doanh doanh nghiệp phải luôn nắm bắt kịp thời

sự biến động của thị trường, trên cơ sở hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng và tác động,

mức độ tác động của các nhân tố này để điều chỉnh phương án, kế hoạch kinh doanh

cho thích hợp với với mọi thời điểm khác nhau.

- Thị trường ngày được mở rộng làm cho thị trường khu vực gắn liền với thị

trường thế giới, thị trường quốc gia gắn liền thị trường quốc tế. Từ đó hàng hố của

doanh nghiệp trong mối quan hệ nhu cầu của người tiêu dùng sẽ ngày trở nên đồng

nhất hơn dựa theo tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên phải có sự khác biệt về hàng hố

giữa các quốc gia do yêu cầu đòi hỏi của người tiêu dùng ở các quốc gia khác

nhau .Mặc dù có tính đồng nhất hàng hố được cung ứng theo nhu cầu của người

tiêu dùng ngày càng cao hơn, tuy nhiên có sự khác biệt.



11



e) Vai trò của thị trường Xuất khẩu

- Đối với nhà nước: Thị trường xuất khẩu giúp quốc gia mở rộng thêm thị

trường tiêu thụ, tăng khả năng giao thương với các quốc gia, là nơi để hoạt động

giao thương phát triển và mang lại nguồn lợi về kinh tế nói chung và các mặt khác

nói riêng.

- Đối với người tiêu dùng: Thị trường xuất khẩu phát triển sẽ giúp cho kinh tế

xã hội phát triển, đời sống nhân dân nâng cao tạo điều kiện cho sức mua lớn. Mặt

khác mở rộng thị trường xuất khẩu cho phép người tiêu dùng được tiêu dùng tất cả

các mặt hàng với số lượng nhiều hơn, chất lượng tốt hơn đa dạng và phong phú, chi

phí tiêu dùng trên một đơn vị sản phẩm thấp hơn giá trị nhận được khi chưa có thị

trường xuất nhập khẩu.

- Đối với doanh nghiệp đặc biệt doanh nghiệp xuất nhập khẩu: Thị trường

xuất khẩu có một vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu nó là

nơi sống còn của doanh nghiệp. Thị trường chính là mơi trường kinh doanh của

doanh nghiệp, các hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp đều được giải quyết trên

thị trường. Thị trường xuất khẩu chính là nơi cung cấp thông tin kinh doanh cho

doanh nghiệp (thông tin về cung, cầu, giá cả, số lượng, chất lượng sản phẩm), là nơi

quyết định được các vấn đề về kinh doanh (sản xuất cái gì? như thế nào? và cho ai?)

và cũng chính là mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp thông qua chức năng thực

hiện thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hoá cho doanh nghiệp và mang lại lợi nhuận

cho doanh nghiệp. Do vậy chiếm lĩnh được thị trường xuất khẩu chính là việc dành

được lợi nhuận - đó chính là mục tiêu sống còn của doanh nghiệp.

2.2.2 Các yếu tố thị trường xuất khẩu ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu

a. Cung hàng hoá

- Cung là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán muốn bán và sẵn

sàng bán tại các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, các yếu

tố khác khơng đổi ( theo Giáo trình Kinh tế Vi mô 1- trường ĐH Thương Mại)

- Lượng cung là lượng hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể mà người bán muốn bán

và sẵn sàng bán tịa mức giá đã cho trong một khoảng thời gian nhất định.

- Tổng cung là tất cả những lượng cung của các hàng hóa và dịch vụ bởi tất

cả các nhà sản xuất trong một nền kinh tế



12



- Các yếu tố tác động đến cung:

 Tiến bộ công nghệ: công nghệ tiên tiến sẽ làm tăng khả năng sản xuất và

làm tăng năng xuất do đó hàng hóa được sản xuát ra nhiều hơn và ngược lại

 Giá cả các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất: tác động trực tiếp đến chi

phí sản xuất do đó ảnh hưởng đến lượng hàng hóa mà doanh nghiệp muốn bán. Giá

yếu tố đầu vào giảm dẫn đến chi phí giảm khiến doanh nghiệp tăng lợi nhuận và sẽ

muốn cung cấp nhiều hàng hóa hơn. Giá các yếu tố đầu vào tăng khiến chi phí tăng

và các doanh nghiệp muốn cắt giảm sản lượng.

 Số lượng nhà sản xuất trong ngành: càng nhiều người sản xuất thì số lượng

hàng hóa càng nhiều dẫn đến tổng cung càng lớn, càng ít người sản xuất thì lượng

cung càng ít đi, tổng cung cũng sẽ ít hơn

 Giá của các hàng hóa liên quan trong sản xuất: Hàng hóa bổ sung(là loại

hàng hóa khi tăng giá hàng hóa này, lượng cung của hàng hóa này cũng tăng lên và

cung của hàng hóa bổ sung cũng tăng lên), Hàng hóa thay thế (là loại hàng hóa khi

tăng giá hàng hóa này, lượng cung của hàng hóa này tăng lên nhưng cung của hàng

hóa thay thế giảm).

 Các chính sách kinh tế của chính phủ( chính sách về thuế, chính sách về trợ

cấp) nhà nước sử dụng công cụ thuế để điều tiết sản xuất, đối với các doanh nghiệp

thuế là chi phí nên khi giảm thuế hoặc miễn thuế sẽ khuyến khích sản xuất làm cung

tăng và ngược lại.

 Lãi suất: lãi suất tăng đầu tư có xu hướng giảm xuống, cung sẽ giảm.

 Kì vọng giá cả: các nhà cung cấp cũng dựa vào các kỳ vọng để đưa ra các

quyết định tăng hoặc giảm lượng cung.

 Điều kiện thời tiết khí hậu: việc sản xuất của doanh nghiệp có thể gắn liền

với điều kiện tự nhiên vì vậy điều kiện tự nhiên thuận lợi giúp doanh nghiệp có

năng suất cao, và ngược lại.

 Mơi trường kinh doanh: nếu thuận lợi sẽ khiến khả năng sản xuất tăng lên

và cung sẽ tang.

- Cung hàng hóa tác động đến hoạt động xuất khẩu:

 Tổng cung hàng hóa trong quốc gia nhập khẩu biến động có ảnh hưởng trực

tiếp đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiêp. Khi tổng cung trong nước tăng lên

13



(bao gồm lượng sản xuất của doanh nghiệp nội địa và lượng cung từ các doanh

nghiệp nước ngồi) khiến cho giá cả hàng hóa có xu hướng giảm xuống. đặc biệt

với một số mặt hàng thiết yếu, khi cung tăng lên làm giá hàng hóa giảm xuống điều

này làm giảm lượng nhập khẩu từ nước ngoài của thị trường nhập khẩu từ đó

HĐXK của doanh nghiệp cũng trở nên khó khăn hơn khi thị trường bị thu hẹp và

hơn nữa là sự cạnh tranh gay gắt về giá để thu hút người tiêu dùng.Và tương tự khi

tổng cung hàng hóa nội địa giảm giả sử các yếu tố khác khơng thay đổi thì sẽ làm

giá hàng hóa có xu hướng tăng lên, các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ tích cực đẩy

mạnh xuất khẩu để thu lợi và mở rộng thị trường.

 Cung hàng hóa thay thế ở quốc gia nhập khẩu cũng tác động tới hoạt động

xuất khẩu của doanh nghiệp. Khi cung hàng hóa thay thế tăng sẽ khiến lượng hàng

hóa nhập khẩu giảm đi vì NTD có xu hướng chuyển sang hàng hóa thay thế( dồi

dào hơi, giá cả cạnh tranh hơn) thay vì sử dụng hàng hóa nhập khẩu vì vậy có thể

làm giảm lượng hàng hóa nhập khẩu, tác động tiêu cực tới hoạt động xuất khẩu của

doanh nghiệp và ngược lại.

b) Cầu hàng hóa

- Cầu là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người mua muốn mua và sẵn

sàng mua tại các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, các yếu

tố khác khơng đổi (theo Giáo trình Kinh tế Vi mô 1- trường Đại học Thương Mại).

- Nhu cầu là những mong muốn sở thích của người tiêu dùng nhưng có thể khơng

có khả năng thanh tốn. Nhu cầu của con người là vô tận nhưng cầu lại có hạn.

- Lượng cầu là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể mà người mua muốn mua

hoặc sẵn sàng mua tại các mức giá đã cho trong một khoảng thời gian nhất định.

- Các yếu tố tác động đến cầu

 Thu nhập của người tiêu dùng: đây là yếu tố quan trọng quyết định mua gì

và bao nhiêu đối với người tiêu dùng. Nếu thu nhập tăng khiến NTD có cầu cao hơn

đối với một loại hàng hóa khi tất cả các yếu tố khác khơng đổi, ta gọi hàng hóa đó là

hàng hóa thơng thường. Hàng hóa thơng thường bao gồm hàng hóa thiết yếu và

hàng hóa xa xỉ. Thu nhập tăng khơng khiến cầu về hàng hóa thiết yếu tăng lên đáng

kể. Hàng hóa thứ cấp là hàng hóa mà khi các yếu tố khác không đổi thu nhập tăng

sẽ làm giảm cầu tiêu dùng

14



 Giá của các hàng hóa liên quan trong tiêu dùng: Hàng hóa thay thế và hàng

hóa bổ sung. Hàng hóa tay thế là những loại hàng hóa cùng thỏa mãn một nhu cầu

(mức độ thoải mãn có thể khác nhau). Nếu các yếu tố khác không đổi, cầu với loại

hàng hóa nào đó sẽ giảm (tăng) đi khi giá của hàng hóa thay thế của nó giảm (tăng).

Hàng hóa bổ sung là những hàng hóa được sử dụng song hành để bổ sung cho nhau

nhằm thỏa mãn một nhu cầu nhất định nào đó. Nếu các yếu tố khác khơng đổi, cầu

với một loại hàng hóa nào đó sẽ giảm (tăng) khi giá hàng hóa bổ sung của nó

tăng(giảm)

 Số lượng người tiêu dùng (quy mô của thị trường) quyết định đến lượng

tiêu dùng tiềm năng. Thị trường càng nhiều người tiêu dùng thì cầu càng tăng và

ngược lại. Dân số là yếu tố quan trọng quyết định quy mô của thị trường, kèm theo

đó là ảnh hưởng của sự tăng dân số, khách hàng mục tiêu.

 Kỳ vọng về giá cả và kỳ vọng về thu nhập: kỳ vọng về giá cả trong tương

lai có thể thay đổi quyết định mua của NTD, nếu kỳ vọng giá tăng thì cầu hiện tại

có thể tăng lên, ngược lại. Bên cạnh đó kỳ vọng về thu nhập trong tương lai tăng sẽ

khiến cầu hiện tại giảm xuống TND sẽ dành tiền đầu tư và tiêu dùng thêm trong

tương lai.

 Thị hiếu, phong tục tập quán, mốt, quảng cáo: Thị hiếu là ý thích của con

người, rất khóa quan sát và khơng phụ thuộc vào giá cả hay thu nhập của NTD. Thị

hiếu cũng có thể thay đổi theo thời gian và chịu ảnh hưởng lớn của quảng cáo, tập

quán tiêu dùng, tâm lý lứa tuổi, giới tính, tơn giáo. Thị hiếu về mặt hàng nào đó

tăng sẽ dẫn đến cầu tăng và ngược lại.

 Các nhân tố khác: môi trường tự nhiên, điều kiện thời tiết, khí hậu, chính

trị... cũng ảnh hưởng tới cầu và những yếu tố này khó để đốn hoặc khơng thể đốn

trước được.

- Cầu hàng hóa tác động đến hoạt động xuất khẩu:

 Tổng cầu nội địa của quốc gia nhập khẩu có tác động trực tiếp lên hoạt

động xuất khẩu của doanh nghiệp. Có cầu mới có cung, khi lượng cầu trong nước

nhập khẩu về hàng hóa tăng mạnh tạo cơ hội lớn cho doanh nghiệp xuất khẩu hàng

hóa và ngược lại khi cầu về mặt hàng có xu hương giảm, quốc gia nhập khẩu hạn

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU VÀ CÁC YẾU TỐ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×