Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đối với sự phát triển của doanh nghiệp

Đối với sự phát triển của doanh nghiệp

Tải bản đầy đủ - 0trang

nghiệp có thể thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo

được khách hàng của đối tác cạnh tranh.

1.2.2 Những vấn đề cơ bản về nâng cao sức cạnh tranh

1.2.2.1 Khái niệm về nâng cao sức cạnh tranh

Nâng cao sức cạnh tranh là việc xác định những điểm mạnh của của cơng ty

mình đang có để từ đó phát huy những lợi thế vốn có của cơng ty mình, và khắc phục

những điểm yếu mà cơng ty mình mắc phải.Trên cơ sở các so sánh đó, muốn nâng cao

sức cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo ra và có được các lợi thế cạnh tranh cho

riêng mình. Nhờ lợi thế, doanh nghiệp có thể thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách

hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh.

1.2.2.2 Vai trò của việc nâng cao sức cạnh tranh

Nâng cao sức cạnh là động lực cho phát triển kinh tế . Một mặt nó giúp doanh

nghiệp nâng cao những lợi thế vốn có của cơng ty mình , mặt khác nó tạo điều kiện

cho các doanh nghiệp khắc phục những điểm yếu đưa ra những giải pháp khắc phục

giúp sản xuất và kinh doanh hiệu quả có cơ hội phát triển cao.

Nâng cao sức cạnh tranh rút ngắn khoảng cách từ sản xuất tới tiêu dùng ,do cạnh

tranh ngày càng quyết định các doanh nghiệp phải tìm hiểu nghiên cứu ,nhu cầu để có

thể đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất.Doanh nghiệp

sẽ tìm mọi cách để thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng.Để nâng cao sức cạnh

tranh , các doanh nghiệp phải áp dụng và đổi mới thiết bị ,công nghệ sản xuất, mua

sắm dây chuyền công nghệ hiện đại làm tăng năng suất chất lượng sản phẩm.

1.2.2.3 Phân loại nâng cao sức cạnh tranh

1.2.2.3.1 Nâng cao sức cạnh tranh quốc gia

Nâng cao sức cạnh tranh quốc gia là nâng cao khả năng quốc gia đó –trong điều

kiện tự do và cơng bằng-có thể sản xuất hàng hóa và dịch vụ đạt tiêu chuẩn của thị

trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng thu nhập thực tế của cơng dân nước

mình. Hay nâng cao sức cạnh tranh quốc gia là khả năng xâm nhập hàng hóa của một

quốc gia trên thị trường quốc tế và đạt được những mục tiêu vĩ mô của quốc gia đó

như tăng trưởng GDP ,thu nhập và mức sống của người dân.



6



1.2.2.3.2 Nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp

Nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp trong

việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện nâng cao sức cạnh tranh quốc

tế.Nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp là tổng hợp năng lực cạnh tranh của các

doanh nghiệp trong một ngành và mối quan hệ giữa chúng. Nói chung, nâng cao sức

cạnh tranh của doanh nghiệp tùy thuộc vào khả năng sản xuất hàng hóa ,dịch vụ,chất

lượng ,mức giá bằng hoặc mức giá thấp hơn mức giá phổ biến trên thị trường mà

không cần đến trợ giá.

1.2.2.3.3 Nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm

Nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm là khả năng nâng cao đáp ứng được nhu

cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả , tính năng,kiểu dáng, tính độc đáo hay sự

khác biệt ,thương hiệu,bao bì…hơn hẳn so với những sản phẩm hàng hóa cùng loại

.Nhưng nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm lại được định đoạt bởi nâng cao sức

cạnh tranh của doanh nghiệp. Khả năng nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm yếu khi

khả năng nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất , kinh doanh sản phẩm

đó thấp .Để nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm ,không những doanh nghiệp cần

nâng cao chất lượng,hạ giá thành sản phẩm, doanh nghiệp còn có chiến lược quảng bá,

phát triển thị trường sản phẩm, tổ chức tiêu thụ sản phẩm…

1.2.3 Hệ thống chi tiêu đánh giá nâng cao sức cạnh tranh xuất khẩu hàng

dệt may

1.2.3.1 Năng suất sản xuất

Năng suất là tiêu chuẩn phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả của hoạt động quản trị

sản xuất và tác nghiệp. Năng suất trở thành nhân tố quan trọng nhất đánh giá khả năng

cạnh tranh của hệ thống sản xuất trong mỗi doanh nghiệp, đồng thời cũng thể hiện

trình độ phát triển của các doanh nghiệp, các quốc gia. Về mặt toán học, năng suất là

tỷ số giữa đầu ra và những yếu tố đầu vào được sử dụng để tạo ra đầu ra đó. Đầu ra có

thể là tổng giá trị sản xuất hoặc giá trị gia tăng, hoặc khối lượng hàng hố tính bằng

đơn vị hiện vật. Đầu vào được tính theo các yếu tố tham gia để sản xuất ra đầu ra, đó là

lao động, nguyên vật liệu, thiết bị máy móc,.... Việc chọn đầu vào và đầu ra khác nhau

sẽ tạo ra các mơ hình đánh giá năng suất khác nhau. Có thể biểu diễn cơng thức tính

năng suất chung cho tất cả các yếu tố như sau:



7



Như vậy, năng suất được đánh giá chung cho tất cả các yếu tố và cho từng yếu

tố đầu vào. Tuy nhiên ngồi những yếu tố có thể lượng hoá được năng suất cần được

đánh giá đầy đủ về mặt định tính như tính hữu ích của đầu ra, mức độ thoả mãn người

tiêu dùng, mức độ đảm bảo những yêu cầu về xã hội gồm bảo vệ mơi trường, sử dụng

tiết kiệm nguồn tài ngun, ít gây ô nhiễm,... Khái niệm năng suất phản ánh tính lợi

nhuận, tính hiệu quả, sự đổi mới và chất lượng hoạt động của doanh nghiệp. Để đánh

giá sự đóng góp của từng nhân tố riêng biệt người ta còn dùng các chỉ tiêu năng

suất bộ phận. Năng suất bộ phận bao gồm hai loại cơ bản nhất là năng suất lao động và

năng suất vốn.

- Năng suất thông qua lao động:



Năng suất lao động phản ánh tính hiệu quả của việc sử dụng lao động. Thực chất

nó đo giá trị đầu ra do một công nhân tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định



8



(năm, tháng, ngày, giờ,....) hoặc là số thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản

phẩm.

- Năng suất thông qua vốn:



Năng suất vốn là một chỉ tiêu được sử dụng trong việc xác định giá trị được tạo

ra từ một đơn vị vốn sử dụng. Thơng qua năng suất vốn người ta có thể biết được đồng

vốn được sử dụng như thế nào và mức đóng góp của nó trong sự phát triển của doanh

nghiệp.

Gần đây người ta còn sử dụng chỉ tiêu năng suất yếu tố tổng hợp. TFP phản ánh

hiệu quả và tính hiệu quả của quản lý hai nhân tố đầu vào này, đồng thời cũng đánh giá

mức thay đổi của tiến bộ công nghệ, của cơ cấu sản xuất và của hoạt động quản lý. Chỉ

tiêu năng suất nhân tố tổng hợp TFP được xác định bằng khối lượng sản phẩm được

sản xuất ra khi mỗi yếu tố vốn và lao động cùng được sử dụng với cường độ như nhau.

Sản phẩm hoặc dịch vụ thu được nhiều hơn từ sử dụng tối ưu nguồn lao động, vốn, từ

hoàn thiện quá trình, từ cải tiến chất lượng của vốn, lao động và chất lượng của hệ

thống các hoạt động. Ngoài phần đóng góp của từng nhân tố lao động và vốn, chúng ta

còn thấy một phần giá trị mới do một bộ phận vơ hình tạo ra. Bộ phận khơng nhìn thấy

này chính là tác động tổng hợp của các yếu tố đầu vào:

Y = ALα Kβ

Trong đó:

Y - Đầu ra;

L - Lao động;

K - Vốn đầu vào;

α, β - Độ co giãn của đầu ra tương ứng với lao động và vốn.

9



Năng suất là một chỉ tiêu tổng hợp phản ảnh hiệu quả kinh tế - xã hội. Tăng năng

suất tạo cơ sở khách quan cần thiết để đảm bảo thống nhất lợi ích của tất cả mọi lực

lượng tham gia đóng góp vào hoạt động của doanh nghiệp như người lao động, khách

hàng, chủ sở hữu, cộng đồng xã hội, người cung ứng và cải thiện chất lượng cơng việc

nói riêng. Khi tài sản và q trình được quản lý một cách có hiệu quả thì sẽ đạt được

năng suất cao, tăng năng suất dẫn đến chi phí đơn vị sản phẩm thấp nhưng lại tăng

mức độ thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Đó là cơ sở cho tăng khả năng cạnh tranh

trên thị trường trong nước và quốc tế, tạo sự phát triển bền vững

1.2.3.2 Tỷ suất lợi nhuận

Tỷ suất lợi nhuận vốn (doanh lợi vốn) là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận đạt được

với số vốn sử dụng bình quân trong kỳ (gồm có vốn cố định và vốn lưu động hoặc vốn

chủ sở hữu).

Cơng thức tính:



Trong đó :

Tsv là tỷ suất lợi nhuận vốn.

P là lợi nhuận trong kỳ.

Vbq là tổng số vốn sản xuất được sử dụng bình quân trong kỳ (vốn cố định và vốn

lưu động hoặc vốn chủ sở hữu).

– Tỷ suất lợi nhuận giá thành là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận tiêu thụ so với giá

thành tồn bộ của sảnphẩm hàng hố tiêu thụ.

Cơng thức tính :



Trong đó :

Tsg là tỷ suất lợi nhuận giá thành.

P là lợi nhuận tiêu thụ trong kỳ.

Zt là giá thành tồn bộ sản phẩm hàng hố tiêu thụ trong kỳ.

Thơng qua tỷ suất lợi nhuận giá thành có thể thấy rõ hiệu quả của chi phí bỏ vào

sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong kỳ.

10



+ Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng là một chỉ số tổng hợp phản ánh kết quả

hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp.

Việc chủ động tìm nguồn nguyên liệu tới từ các đối tác khác sẽ góp phần làm đa

dạng nguồn nguyên vật liệu, tránh sự lệ thuộc. Doanh nghiệp sớm chủ động nguồn

ngun liệu sẽ nhanh chóng hồn thiện quy trình sản xuất kinh doanh, hướng tới sự

phát triển kinh tế bền vững dù cả trong những bối cảnh khó khăn.



Trong đó :

Tst là tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng.

P là lợi nhuận tiêu thụ trong kỳ.

T là doanh thu bán hàng trong kỳ.

Tỷ suất lợi nhuận của một đơn vị sản phẩm đem lại là chỉ tiêu chất lượng tổng

hợp biểu hiện là kết quả kinh doanh sản phẩm của doanh nghiệp.Tỷ suất lợi nhuận

không chỉ có ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm mà còn là động

lực, mục tiêu của cạnh tranh, nâng cao sức cạnh tranh xuất khẩu hàng dệt may là một

trong những cách phổ biến để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Sức cạnh tranh của

sản phẩm dệt may phụ thuộc và sức cạnh tranh của doanh nghiệp chính là khả năng

duy trì lợi nhuận .Việc phấn đấu tăng lợi nhuận và tăng tỷ suất lợi nhuận là nhiệm vụ

thường xuyên củadoanh nghiệp.

1.2.2.4 Khả năng duy trì và mở rộng thị phần

Khả năng duy trì thị phần là khả năng cơng ty duy trì thị phần, thương hiệu và

vị thế của cơng ty trên thị trường nước ngồi. Các doanh nghiệp hàng dệt may phải đối

mặt với rất nhiều đối thủ cạnh tranh trên một thị trường, gặp khơng it những khó khăn

trong việc cạnh tranh. Chính vì thế khả năng duy trì lợi nhuận là mục tiêu mà doanh

nghiệp dệt may nào cũng muốn hướng tới.

Mở rộng thị phần là mục tiêu mà doanh nghiệp dệt may nào cũng muốn hướng

tới. Mở rộng thị phần tăng cao là việc khẳng định vị thế, thương hiệu của sản phẩm

của cơng ty đó chất lượng, uy tín được nhiều khách hàng ưa chuộng và khả năng cạnh

tranh với các sản phẩm khác cao.



11



Để tăng khả năng duy trì và mở rộng thị phần của cơng ty mình, các doanh

nghiệp dệt may phải có những chiến lược, kế hoạch rõ ràng để đạt được mục tiêu của

mình.

1.2.2.5



Khả năng thích ứng và đổi mới của doanh nghiệp



Khả năng thích ứng của sản phẩm dệt may được thể hiện là khả năng đáp ứng

nhu cầu khách hàng tại thị trường đó. Khi khả năng thích ứng của sản phẩm dệt may

tại thị trường nước nhập khẩu tăng cao, số lượng bán ra sẽ tăng , nâng cao sức cạnh

tranh và làm tăng doanh thu của doanh nghiệp.

Khả năng đổi mới của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp đó cũng cấp các

sản phẩm dệt may để đáp ứng thị trường thời trang, sự thay đổi về mẫu mã, chất lượng,

giá cả để đáp ứng người tiêu dùng tại thị trường nước này. Khả năng đổi mới làm giúp

nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, bởi những xu thế thời trang ngày càng thay

đổi theo thời gian, các doanh nghiệp không nắm bắt được xu thế thì số lượng sản phẩm

tiêu thụ hàng hóa tại thị trường này càng giảm và làm giảm doanh thu, lợi nhuận của

công ty mẹ.

1.2.2.6



Khả năng tăng doanh thu của sản phẩm dệt may



Tổng doanh thu là một chỉ tiêu mang tính tuyệt đối thể hiện sức cạnh tranh của

hàng dệt may. Sản phẩm hàng dệt may có sức cạnh tranh lớn sẽ bán được nhiều làm

tăng doanh thu hơn sản phẩm hàng dệt may có sức cạnh tranh thấp.

Tổng doanh thu hàng dệt may trên thị trường xuất khẩu mặt hàng đó đạt mức

cao chứng tỏ được thị trưởng chấp nhận, khách hàng tiêu thụ nhiều. Sự chấp nhận của

khách hàng được thể hiện qua việc sản phẩm hàng dệt may đó có khả năng đáp ứng

được nhu cầu của khách hàng.Như vậy, tăng doanh thu đúng nghĩa là hàng dệt may đó

thỏa mãn nhu cầu của khách hàng đó trên thị trường này hơn so với mặt hàng dệt may

khác , mức độ thỏa mãn của khách hàng cũng phản ánh sức cạnh tranh của hàng hóa

cao hơn.

Cơng thức tính doanh thu:

Lợi nhuận=Doanh thu- chi phí

Mục đích kinh doanh của các cơng ty là lợi nhuận nếu doanh thu lớn mà chi phí

nhỏ thì lợi nhuận lớn, điều này công ty nào cũng muốn hướng tới.



12



Tăng doanh thu của sản phẩm dệt may có thể đạt được thông qua tăng giá

bán,trong khi giữ nguyên số lượng sản phẩm dệt may của cơng ty đó cung ứng sang thị

trường này. Điều này khó có thể xảy ra đối với hàng hóa chưa có thương hiệu trên thị

trường và trong mơi trường tự do thương mại hóa .

Tăng doanh thu của sản phẩm dệt may bằng cách giảm giá thành sản phẩm và

đưa ra thị trường số lượng lớn hơn, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại.Đây

chính là xu hướng chung của các nhà sản xuất và kinh doanh sản phẩm dệt may để

nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường nào đó.

1.2.4 .Những yếu tố bên trong của doanh nghiệp tác động tới nâng cao sức

cạnh tranh xuất khẩu của sản phẩm dệt may

1.2.4.1 Quy mô của doanh nghiệp

Chúng ta đều biết một trong năm nguyên nhân dẫn đến độc quyền của một doanh

nghiệp là doanh nghiệp đó có tính kinh tế nhờ qui mơ. Một doanh nghiệp có qui mơ

sản xuất lớn sản xuất càng nhiều sản phẩm thì chi phí cận biên cho sản xuất đơn vị sản

phẩm tiếp theo nhỏ dần, và như vậy gía thành đơn vị sản phẩm càng hạ. quy mơ của

doanh nghiệp có ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh trong cạnh tranh, đặc biệt khi các

doanh nghiệp này sản xuất vượt cơng suất.

Uy tín của doanh nghiệp được hình thành từ sự tin tưởng của khách hàng vào sản

phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp. Uy tín của một doanh nghiệp được hình thành sau

một thời gian dài hoạt động trên thị trường và là một tài sản vơ hình mà doanh nghiệp

cần thiết phải biết giữ gìn và làm giàu thêm tài sản đó. chính lòng trung thành của

khách hàng sẽ đem lại cho doanh nghiệp món lợi nhuận kếch xù và bảo vệ doanh

nghiệp khỏi sự tấn công của các đối thủ cạnh tranh.

1.2.4.2 Bộ máy quản trị của doanh nghiệp

Tổ chức quản lý tốt trước hết là áp dụng phương pháp quản lý hiện đại đã được

doanh nghiệp của nhiều nước áp dụng thành cơng như phương pháp quản lý theo tình

huống, quản lý theo tiếp cận quá trình và tiếp cận hệ thống, quản lý theo chất lượng

như ISO 9000, ISO 1400. Bản thân doanh nghiệp phải tự tìm kiếm và đào tạo cán bộ

quản lý cho chính mình. Muốn có được đội ngũ cán bộ quản lý tài giỏi và trung thành,

ngồi yếu tố chính sách đãi ngộ, doanh nghiệp phải định hình rõ triết lý dùng người,



13



phải trao quyền chủ động cho cán bộ và phải thiết lập được cơ cấu tổ chức đủ độ linh

hoạt, thích nghi cao với sự thay đổi.

Bộ máy quản trị của doanh nghiệp tốt sẽ quản lý , giám sát nhân viên một cách

hiệu quả trong quá trình nâng cao sản xuất sản phẩm giúp nâng cao chất lượng, hiệu

quả về mặt số lượng đáp ứng nhu cầu của khách hàng từ đó nâng cao sức cạnh tranh

của cơng ty.

1.2.4.3 Máy móc, trang thiết bị ,công nghệ sản xuất hàng dệt may

Thiết bị, công nghệ sản xuất là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến sức

cạnh tranh của doanh nghiệp. Công nghệ phù hợp cho phép rút ngắn thời gian sản

xuất, giảm mức tiêu hao năng lượng, tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao

chất lượng sản phẩm, tạo ra lợi thế cạnh tranh đối với sản phẩm của doanh nghiệp.

Cơng nghệ còn tác động đến tổ chức sản xuất của doanh nghiệp, nâng cao trình độ cơ

khí hóa, tự động hóa của doanh nghiệp.

1.2.4.4 Trình độ của đội ngũ lao động

Nhân lực là một nguồn lực rất quan trọng vì nó đảm bảo nguồn sáng tạo trong

mọi tổ chức. Trình độ nguồn nhân lực thể hiện ở trình độ quản lý của các cấp lãnh đạo,

trình độ chuyên mơn của cán bộ cơng nhân viên, trình độ tư tưởng văn hố của mọi

thành viên trong doanh nghiệp. Trình độ nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra các sản phẩm có

hàm lượng chất xám cao, thể hiện trong kết cấu kỹ thuật của sản phẩm, mẫu mã, chất

lượng … và từ đó uy tín, danh tiếng của sản phẩm sẽ ngày càng tăng, doanh nghiệp sẽ

tạo được vị trí vững chắc của mình trên thương trường và trong lòng công chúng,

hướng tới sự phát triển bền vững.

1.2.5. Những yếu tố bên ngoài của doanh nghiệp ảnh hưởng tới nâng cao

sức cạnh tranh xuất khẩu của hàng dệt may

1.2.5.1 Môi trường chính trị, hệ thống luật pháp và các chính sách kinh tế

Chính trị và pháp luật có tác dụng rất lớn đến sự phát triển của bất cứ doanh

nghiệp nào, nhất là đối với những doanh nghiệp kinh doanh quốc tế. Chính trị và pháp

luật là nền tảng cho sự phát triển kinh tế cũng như là cơ sở pháp lý cho các doanh

nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở bất cứ thị trường nào dù là trong nước hay

nước ngồi.Khơng có sự ổn định về chính trị thì sẽ khơng có một nền kinh tế ổn định,

phát triển thực sự lâu dài và lành mạnh.

14



Luật pháp tác động điều chỉnh trực tiếp đến hoạt động của mỗi doanh nghiệp

trong nền kinh tế. Mỗi thị trường đều có hệ thống pháp luật riêng theo cả nghĩa đen lẫn

nghĩa bóng. Luật pháp rõ ràng, chính trị ổn định là môi trường thuận lợi cho hoạt động

kinh doanh của từng doanh nghiệp. Đặc biệt đối với từng doanh nghiệp tham gia vào

hoạt động xuất khẩu chịu ảnh hưởng của quan hệ giữa các chính phủ, các hiệp định

kinh tế quốc tế ... Các doanh nghiệp này cũng đặc biệt quan tâm tới sự khác biệt về

pháp luật giữa các quốc gia. Sự khác biệt này có thể sẽ làm tăng hoặc giảm khả năng

cạnh tranh của doanh nghiệp những đièu này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động,

chính sách kế hoạch chiến lược phát triển, loại hình sản phẩm danh nghiệp sẽ cung cấp

cho thị trường.

Vì vậy, các doanh nghiệp luôn luôn cần một nền kinh tế ổn định một môi trường

pháp luật chặt chẽ, rõ ràng, bảo vệ lợi ích cho các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức ...

trong nền kinh tế. Khuyến khích phát triển, tham gia khả năng cạnh tranh.

Các chính sách kinh tế là nhóm các yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến thách thức

và ràng buộc, nhưng đồng thời lại là nguồn khai thác các cơ hội đối với doanh nghiệp.

Các yếu tố kinh tế chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động doanh nghiệp bao gồm: tỷ lệ tăng

trưởng của nền kinh tế, lãi suất, tỷ suất hối đoái và tỷ lệ lạm phát.

Bên cạnh đó,các yếu tố mơi trường cơng nghệ ảnh hưởng tới các sản phẩm thơng

qua q trình đổi mới công nghệ và vật liệu mới. Sự thay đổi về cơng nghệ có thể tác

động lên chiều cao của rào cản nhập cuộc và định hình lại cấu trúc ngành. Sự phát

triển nhanh của khoa học cơng nghệ có tác động mạnh mẽ đến tính chất và giá cả của

sản phẩm, dịch vụ, nhà cung cấp, quy trình sản xuất và vị thế cạnh tranh trên thị

trường của doanh nghiệp.Khoa học – cơng nghệ còn tác động đến chi phí cá biệt của

doanh nghiệp, khi trình độ cơng nghệ thấp thì giá và chất lượng có ý nghĩa ngang bằng

nhau trong cạnh tranh. Khi khoa học – công nghệ phát triển làm ảnh hưởng đến bản

chất của cạnh tranh, chuyển từ cạnh tranh giá bán sang chất lượng, cạnh tranh phần giá

trị gia tăng của sản phẩm, cạnh tranh giữa các sản phẩm và dịch vụ có hàm lượng cơng

nghệ cao. Đây là tiền đề mà các doanh nghiệp cần quan tâm để ổn định và nâng cao

sức cạnh tranh của mình.

1.2.5.2 Mơi trường cạnh tranh



15



Các yếu tố mơi trường cạnh tranh tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất và

hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Phân tích các yếu tố môi trường này giúp

doanh nghiệp xác định được vị thế cạnh tranh trong ngành dệt may và trên thị trường

mà doanh nghiệp đang hoạt động. Từ đó, đưa ra những chiến lược hợp lý nâng cao sức

cạnh tranh cho chính bản thân doanh nghiệp.

1.2.5.2.1 Đối thủ cạnh tranh là trong ngành

Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có trong ngành dệt may là một trong

những yếu tố phản ánh bản chất của mơi trường này. Sự có mặt của các đối thủ cạnh

tranh chính trên thị trường và tình hình hoạt động của chúng là lược lượng tác động

trực tiếp mạnh mẽ, tức thì tới quá trình hoạt động của các doanh nghiệp. Trong cạnh

tranh xuất khẩu hàng ngành dệt may bao gồm nhiều doanh nghiệp trong nước và ngồi

nước nên chúng ta gặp khơng ít khó khăn khi xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường

nước đó. Đặc biệt là đối với các nước phát triển hơn họ sẽ có khả năng cạnh tranh cao

hơn bởi khả năng sản xuất, vị thể của họ trên thị trường cao hơn, Nhiệm vụ của mỗi

doanh nghiệp là tìm kiếm thơng tin, phân tích đánh giá chính xác khả năng của những

đối thủ cạnh tranh chính này để xây dựng cho mình chiến lược cạnh tranh thích hợp

với mơi trường chung của ngành.

1.2.5.2.2 Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn

Những doanh nghiệp dệt may mới tham gia thị trường trực tiếp làm tăng tính chất

quy mơ cạnh tranh trên thị trường ngành do tăng năng lực sản xuất và khối lượng sản

xuất trong ngành. Trong quá trình vận động của lực lượng thị trường, trong từng giai

đoạn, thường có những đối thủ cạnh tranh mới gia nhập thị trường và những đối thủ

yếu hơn rút ra khỏi thị trường. Để chống lại các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn các doanh

nghiệp thường thực hiện các chiến lược như phân biệt sản phẩm, nâng cao chất lượng,

bổ sung những đặc điểm mới của sản phẩm, khơng ngừng cải tiến, hồn thiện sản

phẩm nhằm làm cho sản phẩm của mình có những đặc điểm khác biệt hoặc nổi trội

hơn trên thị trường, hoặc phấn đấu giảm chi phí sản xuất, tiêu thụ…

Sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường ngành phụ

thuộc chặt chẽ vào đặc điểm kinh tế – kỹ thuật của ngành và mức độ hấp dẫn của thị

trường đó.

1.2.5.3 Mơi trường thương mại quốc tế

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đối với sự phát triển của doanh nghiệp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×