Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Tải bản đầy đủ - 0trang

hiện trong hệ  thống các  khái niệm, phạm trù, qui luật. Khác với kinh  

nghiệm, lý luận mang tính trừu tượng và khái qt cao. Nhờ  đó, nó đem  

lại sự  hiểu biết sâu sắc về  bản chất, tính tất nhiên, tính qui luật của các  

sự  vật, hiện tượng khách quan. Tri thức lý luận thể  hiện tính chân lý sâu 

sắc hơn, chính xác hơn, hệ  thống hơn, nghĩa là có tính bản chất sâu sắc  

hơn và do đó, phạm vi  ứng dụng của nó cũng phổ  biến hơn, rộng hơn  

nhiều so với tri thức kinh nghi ệm. C.Mác và Ph.Ăngghen cũng từng chỉ rõ: 

“Sự  quan sát theo kinh nghiệm tự  nó khơng bao giờ  có thể  chứng minh  

được đầy đủ  tính tất yếu và nhiệm vụ  của nhận thức lý luận là đem quy  

sự vận động bề ngồi chỉ biểu hiện trong hiện tượng về sự vận động bên  

trong thực sự” [94, tr. 343].

Xét về bản chất, lý luận là một hệ thống tri thức chặt chẽ mang tính 

trừu tượng, hệ thống, khái qt, đúc kết từ thực tiễn, được diễn đạt thơng  

qua các khái niệm, phạm trù, ngun lý, quy luật... phản ánh bản chất sự 

vận động, biến đổi, phát triển của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách  

quan. Lý luận là sản phẩm của sự phát triển cao của nhận thức, được hình 

thành trong mối quan hệ với thực tiễn.

Từ  điển tiếng Việt định nghĩa: “Lý luận là tổng kết có hệ  thống  

những kinh nghiệm của lồi người phát sinh từ thực tiễn để chi phối và cải  

tạo thực tiễn” [143, tr.496]. 

Như vậy, thực tiễn còn là tiêu chuẩn của chân lý, là căn cứ để kiểm  

chứng tính đúng đắn của lý luận. Mọi lý luận đều phải trở lại thực tiễn và  

được thực tiễn kiểm chứng. Tác dụng và sức sống của lý luận phụ  thuộc 

vào khả  năng của chính nó trong việc khái qt bản chất của hiện thực  

khách quan từ vơ số các hiện tượng cụ thể; phụ thuộc vào chỗ nó thúc đẩy  

sự tiến bộ của lịch sử, sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…



Thực tiễn là nguồn gốc của lý luận, có thực tiễn mới có lý luận. Tuy  

nhiên, sau khi hình thành, phát triển, lý luận cũng có tính độc lập tương đối  

và tác động trở lại đối với thực tiễn theo cả hai hướng: tích cực hoặc tiêu 

cực. Nếu lý luận là lý luận khoa học sẽ  góp phần thúc đẩy thực tiễn phát  

triển, ngược lại nó sẽ  trở  thành  “xiềng xích”, kìm hãm sự  phát triển của 

thực tiễn.  Khi vận dụng trong cơng tác cần chú ý mối quan hệ giữa lý luận và  

thực tiễn. Cần tránh cả hai trường hợp: tuyệt đối hóa lý luận trở thành lý luận  

“sng”, tuyệt đối hóa thực tiễn trở thành thực tiễn “mù qng”. Chủ tịch Hồ 

Chí Minh đã từng nói : "Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một ngun tắc  

căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn mà khơng có lý luận hướng dẫn  

thì thành thực tiễn mù qng. Lý luận mà khơng liên hệ với thực tiễn là lý luận  

sng" [95, tr.496].

Như vậy, có thể  hiểu: Lý luận là hệ  thống các khái niệm, phạm trù,  

quy luật được khái qt từ  thực tiễn khách quan, phản ánh trình độ  nhận  

thức và cải tạo thế giới khách quan của con người. Lý luận là kết quả của  

sự nhận thức chủ quan của con người về các sự kiện, hiện tượng trong thế  

giới khách quan.

­ Lý luận chính trị.

LLCT là từ  ghép giữa lý luận và chính trị. Trong đó, chính trị  là một 

hiện tượng lịch sử xuất hiện và tồn tại khi xã hội phân chia thành giai cấp  

và hình thành nhà nước. Chính trị giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong đời 

sống xã hội. Chính trị  theo tiếng Hy Lạp là “Politics” có nghĩa là những  

cơng việc liên quan đến thành bang, những cơng việc quốc gia. Trong đó 

việc quan trọng nhất là tổ chức ra cơ quan cai trị (chính phủ, nhà nước).

Từ  thời cổ  đại, các nhà tư  tưởng đã ln đi tìm để  sáng tạo ra một 

mơ hình nhà nước hợp lý, hiệu quả  nhất, đại diện và bảo vệ  lợi ích giai 



cấp thống trị xã hội. Do đó, chính trị  theo ngun nghĩa là: cơng việc của 

nhà nước, là phạm vi hoạt động gắn liền với những quan hệ giai cấp, dân 

tộc và các nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhân của nó là vấn đề  giành và  

giữ  chính quyền. Tuy nhiên, Lênin cũng chỉ  ra rằng:   “Chính trị  có tính  

logic khách quan của nó khơng phụ thuộc vào những dự tính cá nhân, của  

đảng này hay đảng khác”  [79, tr.246]. Chính trị  thuộc kiến trúc thượng 

tầng do cơ  sở  hạ  tầng quyết định, nó ln tồn tại và gắn liền với điều 

kiện lịch sử cụ thể, khơng phụ  thuộc vào ý chí chủ  quan của của cá nhân  

hay giai cấp, chính đảng nào. Nhưng, với tư cách là một thiết chế xã hội, 

chính trị  ln ln tìm cách dẫn dắt xã hội theo tư  tưởng của giai cấp  

thống trị.

Tùy theo cách tiếp cận mà có các quan niệm khác nhau về  chính trị. 

Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng: Chính trị là hoạt động trong lĩnh vực quan 

hệ  giữa các giai cấp, cũng như  các dân tộc và các quốc gia với vấn đề 

giành, giữ, tổ  chức và sử  dụng quyền lực Nhà nước; là sự  tham gia của 

nhân dân vào cơng việc của Nhà nước và xã hội, là hoạt động chính trị thực 

tiễn của giai cấp, các đảng phái chính trị, các nhà nước nhằm tìm kiếm  

những khả  năng thực hiện đường lối và những mục tiêu đã đề  ra nhằm 

thỏa mãn lợi ích.

LLCT là bộ  phận quan trọng trong kho tàng lý luận của nhân loại,  

giới hạn trong lĩnh vực chính trị, phản ánh mối quan hệ  giữa các giai cấp  

trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị.

Có nhiều khái niệm khác nhau về LLCT như: 

LLCT là hệ thống lý luận gắn liền với cuộc đấu tranh giữa các giai  

cấp trong việc giành, giữ  và xây dựng chính quyền. LLCT phản ánh quy  

luật của các quan hệ kinh tế ­ chính trị ­ xã hội, thể hiện lợi ích và thái độ  



của giai cấp đối với quyền lực Nhà nước. [ 49, tr11].

Hay “LLCT là hệ  thống tri thức về lĩnh vực chính trị  thể  hiện thái  

độ  là lợi ích của một giai cấp đối với quyền lực Nhà nướ c trong xã hội  

có giai cấp, được khái qt từ  nghiên cứu khoa học và hoạt động chính  

trị thực tiễn” [71, tr. 15].

Có thể thấy rằng, LLCT ra đời trong xã hội có giai cấp, nó phản ánh 

cuộc đấu tranh giữa các giai cấp trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực 

nhà nước. LLCT mang tính giai cấp.

Về  nguồn gốc, LLCT là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu khoa 

học về  lý luận và thực tiễn chính trị  của giai cấp trong việc đấu tranh 

giành, giữ và xây dựng chính quyền nhà nước.

Về bản chất, LLCT phản ánh tính quy luật của các quan hệ kinh tế ­ 

chính trị ­ văn hóa ­ xã hội, thể hiện lợi ích và thái độ của giai cấp đối với  

quyền lực nhà nước.

Về mục đích, LLCT nhằm trang bị thế giới quan và thúc đẩy hành vi 

thực hiện mục tiêu, lý tưởng chính trị của giai cấp. 

Quan   niệm   v ề   LLCT   đượ c   xem   xét   bởi   sự   hợp   thành   từ   ba  

phươ ng diện: Lý luận đượ c tổng kết từ  nghiên cứ u khoa học, nghiên 

cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn chính trị; LLCT là hệ  thống các tri  

thức khoa học v ề  chính trị  của chính trị  học và các khoa học chính trị; 

LLCT còn đượ c hiểu với tư  cách là phươ ng diện chính trị  của các lĩnh 

vực khác trong xã hội như: kinh t ế, văn hóa, xã hội.

Như vậy, có thể hiểu: LLCT là hệ thống tri thức trong lĩnh vực chính  

trị, thể  hiện thái độ  và lợi ích của một giai cấp đối với quyền lực nhà  

nước trong xã hội có giai cấp, được khái qt từ  nghiên cứu khoa học và  

hoạt động chính trị thực tiễn.



2.1.1.2. Giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên các trường đại học

­ Giáo dục.

Để  tồn tại và phát triển, lồi người khơng ngừng tác động vào thế 

giới khách quan, nhận thức thế giới khách quan. Q trình lao động và phát 

triển, con người có nhu cầu truyền cho nhau những kinh nghiệm sống, kinh 

nghiệm lao động sản xuất và chinh phục thiên nhiên. Đây chính là nguồn 

gốc phát sinh của hiện tượng giáo dục.

Đầu tiên, giáo dục xuất hiện như  một hiện tượng tự  phát, diễn ra  

đơn giản theo lối quan sát để  bắt chước, càng về  sau giáo dục trở  thành 

một hoạt động có ý thức. Trong q trình nhận thức và cải tạo xã hội, để 

phát triển con người dần dần biết xác định mục đích, hồn thiện nội dung  

và tìm ra phương thức để  tổ  chức hoạt động giáo dục có hiệu quả. Ngày  

nay, giáo dục đã trở  thành một hoạt động đặc biệt được tổ  chức vơ cùng 

khoa học và đạt tới trình độ  cao. Hoạt động giáo dục trong thời đại ngày 

nay có mục đích rõ ràng, có chương trình theo kế hoạch, có nội dung phong  

phú và có phương pháp, phương tiện tiên tiến, hiện đại. Nhờ vậy, nó đã trở 

thành động lực quan trọng thúc đẩy sự  phát triển nhanh chóng của xã hội 

lồi người.

Có nhiều khái niệm khác nhau về  giáo dục. Giáo dục nhìn dưới góc 

độ hoạt động, đó là q trình thế hệ trước truyền đạt lại kinh nghiệm lịch  

sử  ­ xã hội cho thế  hệ sau nhằm chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống lao  

động cần thiết để tiếp tục phát triển xã hội.

Giáo dục với tư cách là một hoạt động (q trình), có 3 cấp độ:

Một là, giáo dục theo nghĩa rộng nhất, đó là q trình hình thành con 

người dưới  ảnh hưởng của tất cả  các tác động bên ngồi (mơi trường tự 

nhiên và xã hội, các hoạt động chun biệt có mục đích của các nhà giáo 



dục).

Hai là, giáo dục theo nghĩa rộng (trong giáo dục học) là sự hình thành 

con người dưới  ảnh hưởng của những tác động có mục đích của nhà giáo  

dục trong q trình dạy học  ; giáo dục (theo nghĩa hẹp) diễn ra trong hệ 

thống các thiết chế giáo dục.

Ba là, giáo dục theo nghĩa hẹp (trong giáo dục học) là cơng tác giáo 

dục chun biệt do nhà giáo dục tiến hành nhằm hình thành hệ  thống các 

phẩm chất nhất định: đạo đức, thế  giới quan, niềm tin, quan điểm, thẩm 

m ỹ…

Giáo dục với ý nghĩa chuẩn bị cho con người tham gia vào đời sống xã hội 

và tiếp tục phát triển phát triển xã hội, đã xuất hiện cùng với lồi người và tồn 

tại mãi mãi với lồi người. Giáo dục khơng chỉ là phương thức chủ yếu để giữ 

gìn, phổ biến, giao lưu và phát triển văn hóa mà còn là phương thức tái sản xuất  

sức lao động. Khơng có giáo dục, xã hội sẽ ngừng phát triển và lồi người sẽ 

diệt vong.

Với nội hàm như  vậy, có thể  hiểu:   Giáo dục là một hiện tượ ng  

xã hội, bản chất của nó là sự  truyền  đạt và lĩnh hội những tri thức,  

kinh   nghi ệm   đượ c   tích   luỹ   trong   quá   trình   lịch   sử   ­   xã   hội   của   lồi  

ngườ i. Giáo dục góp phần nâng cao trình độ  nhận thức và cải tạo thế  

giới của con ng ườ i. T ừ đó, xã hội lồi ngườ i khơng ngừng phát triển.

­ Giáo dục LLCT.

Giáo dục LLCT là hoạt động nhằm truyền bá, tiếp thu những tri thức  

và kinh nghiệm chính trị được tích lũy trong q trình lịch sử ­ xã hội. 

Theo Lênin, giáo dục LLCT là: Đem lại cho quần chúng nhân dân lao  

động sự hiểu biết về quy luật phát triển của xã hội, về thế giới quan khoa  

học, về  đường lối, chính sách của chính đảng cách mạng, biến nó thành 



niềm tin, lý tưởng, những ngun tắc đạo đức, giúp gạt bỏ  những tàn dư 

của tư  tưởng cũ, lạc hậu, tiếp thu tư  tưởng mới, tư  tưởng tiên tiến khoa  

học. 

Theo Chủ  tịch Hồ  Chí Minh giáo dục LLCT là:  “q trình tác 

động vào đối tượng bằng cách trình bày, giải thích một cách  

khoa học những khái niệm, những quy luật, những quan điểm...  

nhằm   làm   cho   cán   bộ,   đảng   viên   và   quần   chúng   nắm   được  

những kiến thức về chủ nghĩa Mác ­ Lênin, về đường lối, chính  

sách của Đảng, nâng cao phẩm chất cách mạng và năng lực  

hoạt động thực tiễn của họ, hướng dẫn họ  vận dụng những  

hiểu biết  ấy vào cuộc sống” [141, tr.169]. Như  vậy, theo Chủ 

tịch Hồ  Chí Minh, giáo dục LLCT là một bộ  phận quan trọng  

trong cơng tác tư tưởng của Đảng; là hoạt động có chủ đích của  

Đảng Cộng sản nhằm xắc lập thế  giới quan khoa học trên cơ 

sở  hệ  tư  tưởng, lập trường của giai cấp cơng nhân, đó là chủ 

nghĩa Mác – Lênin; nhằm làm cho đối tượng được giáo dục  

nâng cao phẩm chất và năng lực hoạt động thực tiễn, khả năng 

vận dụng lý luận vào trong thực tiễn cuộc sống.

Trong hoạt động khoa học, có nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về 

giáo dục LLCT và đưa ra các quan niệm về giáo dục LLCT như:

Theo   GS,TS.   Dương   Xuân   Ngọc:  “Giáo   dục   LLCT   là   hoạt   động  

nhận thức, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ  nghĩa Mác – Lênin và tư  

tưởng Hồ  Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà  

nước nhằm hình thành thế  giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản,  

phương pháp tư  duy và phương pháp làm việc biện chứng, khoa học, góp  

phần nâng cao và phát huy tính tích cực chính trị  ­ xã hội của các chủ thể  



chính trị  trong xã hội trong hoạt động thực tiễn” [108, tr.332]. Trong khái 

niệm này, tác giả đã nhấn mạnh đến đối tượng của giáo dục LLCT. Quan  

niệm này chỉ rõ vai trò chủ động, tích cực và sáng tạo của đối tượng và cái 

đích cần đạt tới là thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của cả  chủ  thể  và 

đối tượng giáo dục LLCT theo hướng tích cực. Đây cũng chính là mục tiêu 

hướng đến của đổi mới giáo dục LLCT cho sinh viên đại học nước ta hiện  

nay. 

Theo, PGS, TS. Lương Khắc Hiếu trong cu ốn Giáo trình  Ngun lý 

cơng tác  tư  tưởng  đã  đưa  ra khái  niệm: “Giáo  dục LLCT  là q  trình  

truyền bá và tiếp thu những ngun lý lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,  

tư  tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp  

luật của Nhà nước trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân”  [54, 

tr.99].  Ở  đây tác giả  đã xem giáo dục LLCT là một q trình đồng thời 

diễn ra hoạt động truyền bá và tiếp thu LLCT. 

Theo PGS,TS. Phạm Huy Kỳ: “Giáo dục LLCT là truyền bá những  

ngun lý của chủ  nghĩa Mác – Lênin, tư  tưởng Hồ  Chí Minh, đường lối  

quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ,  

đảng viên và quần chúng nhân dân nhằm hình thành thế  giới quan khoa  

học, nhân sinh quan cộng sản, phương pháp tư  duy và phương pháp làm  

việc biện chứng, khoa học và góp phần thúc đẩy tính tích cực chính trị ­ xã  

hội của các chủ thể chính trị trong hoạt động thực tiễn” [71, tr.25].....

Như vậy, có thể hiểu: Giáo dục LLCT là một bộ phận quan trọng trong  

cơng tác tư tưởng của Đảng. Đó là hoạt động truyền bá, tiếp thu chủ  nghĩa  

Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính  

sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhằm nâng  

cao nhận thức lý luận, hình thành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng  



sản, phương pháp tư duy và phương pháp làm việc biện chứng, khoa học, góp  

phần nâng cao và phát huy tính tích cực chính trị ­ xã hội của họ trong hoạt  

động thực tiễn.

­ Sinh viên

Thuật ngữ  "sinh viên" có nguồn gốc từ  tiếng La­tinh "student" có 

nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người đi tìm kiếm, khai thác tri 

thức. Nó được dùng cùng nghĩa tương đương với từ  "student" trong tiếng  

Anh, "étudiants" trong tiếng Pháp và "студент" trong tiếng Nga. "Sinh viên" 

là để  chỉ  những người theo học  ở  bậc đại học, cao đẳng nhằm phân biệt  

với học sinh học ở bậc phổ thơng.

Theo L.X.Kơn thì sinh viên một mặt là một bộ  phận của thanh niên, 

mặt khác là một bộ phận của giới trí thức. 

Theo Từ  điển tiếng Việt, khái niệm "sinh viên" được dùng để  chỉ 

người học ở bậc đại học. Theo Quy chế cơng tác Học sinh Sinh viên trong  

các trường đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo: "Sinh viên" là người đang 

theo học hệ đại học và cao đẳng. Từ đó, ta có thể hiểu: sinh viên là một bộ  

phận của thanh niên, là những người đang học tập và rèn luyện trong các  

trường đại học, cao đẳng để  trau rồi kỹ  năng nghề  nghiệp cũng như  tu  

dưỡng bản thân để tự hồn thiện mình.

Ở  Việt Nam, sinh viên là một bộ  phận thanh niên đã được tuyển 

chọn qua các kỳ thi quốc gia và được đào tạo trong các trường đại học, cao  

đẳng. Đối với sinh viên các trường đại học có những đặc điểm chính như 

sau:

Thứ nhất, trình độ nhận thức, hiểu biết các vấn đề kinh tế ­ chính trị 

­ văn hóa xã hội của sinh viên rộng nhưng chưa sâu. Phần lớn sinh viên đại  

học là bộ  phận thanh niên có trình độ  cao, đã được tuyển chọn qua kỳ  thi  



quốc gia, được đào tạo bài bản… nên họ  có nhận thức và hiểu biết khoa  

học. Với sự phát triển của khoa học cơng nghệ và sự bùng nổ thơng tin như 

hiện nay là điều kiện tốt để  sinh viên tiếp cận với cái mới, nhanh chóng 

tiếp thu tri thức nhân loại. Tuy nhiên, nhận thức và hiểu biết của sinh viên 

chưa sâu sắc do đặc điểm của tuổi trẻ, những nhận thức và hiểu biết của 

sinh viên mới  ở  chiều rộng chưa có chiều sâu. Nhiệm vụ  của giáo dục  

LLCT cho sinh viên chính là trang bị một cách có hệ thống, khoa học các tri 

thức lý luận chính trị, từ  đó hình thành niềm tin và tính tích cực chính trị  ­  

xã hội cho sinh viên.

Thứ hai, thế giới quan và nhân sinh quan của sinh viên chưa ổn định.  

Trong mơi trường đại học, sinh viên chủ  yếu lao động trí óc, chưa gắn 

nhiều với hoạt động lao động sản xuất, sinh viên thiếu kinh nghiệm và vốn 

sống, tâm lý tư tưởng chưa ổn định, dễ thay đổi. Do đó, thế giới quan, nhân 

sinh quan của sinh viên chưa ổn định.

Thứ ba, đa số sinh viên có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt. Sinh viên 

là bộ  phận thanh niên có lý tưởng, có hồi bão lập thân lập nghiệp, họ  đại 

diện cho giới trí thức trẻ… Do đó, có thể  thấy đại bộ  phận sinh viên có  

phẩm chất chính trị  và đạo đức trong sáng. Rất nhiều phong trào và hoạt 

động có sự tham gia của sinh viên: tình nguyện, hiến máu nhân đạo, đền ơn  

đáp nghĩa… Nhưng do sự tác động của mặt trái của cơ chế thị trường, tồn 

cầu hóa và hội nhập quốc tế, một bộ phận sinh viên đã bị tha hóa, suy thối  

về  phẩm chất đạo đức lối sống. Nên, giáo dục LLCT với chiều sâu nhân 

văn là khoa học làm người sẽ góp phần hình thành và hồn thiện nhân cách,  

tư tưởng, đạo đức, lối sống mới, tiến bộ cho sinh viên.

Thứ  tư,  năng lực tư  duy và năng lực hoạt động thực tiễn của sinh 

viên có nhiều triển vọng. Sinh viên là những người hết sức nhạy bén với  



cái mới, có tư duy nhanh nhạy, ln quyết tâm phấn đấu để hồn thiện bản 

thân và tự  khẳng định mình… Do đó, sinh viên nếu có được thế  giới quan  

và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin soi đường, họ sẽ trở thành 

những người tiên phong trong cơng cuộc xây dựng và bảo vệ  đất nước. 

Giáo dục LLCT trong các trường đại học với ý nghĩa như vậy chính là góp  

phần quan trọng trong việc hình thành con người mới xã hội chủ  nghĩa để 

xây dựng thành cơng CNXH ở nước ta trong tương lai.

­ Giáo dục LLCT cho sinh viên các trường đại học.

Giáo dục LLCT cho sinh viên là một nội dung quan trọng của cơng tác 

giáo dục ­ đào tạo ở bậc đại học, là u cầu khách quan nhằm hình thành và  

phát triển nhân cách cho sinh viên. Giáo dục LLCT cho sinh viên trong các 

trường đại học là hoạt động truyền bá và tiếp thu những tri thức khoa học  

trong lĩnh vực chính trị, góp phần chủ yếu vào việc hình thành thế giới quan  

và phương pháp luận khoa học cho sinh viên. Nó cùng với các mơn khoa học 

khác và các hoạt động chính trị  ­ xã hội thực tiễn, bồi dưỡng tri thức, lý  

tưởng, niềm tin chính trị và tính tích cực chính trị ­ xã hội cho sinh viên, góp  

phần quan trọng trong cơng cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã 

hội chủ nghĩa hiện nay. 

Như  vậy, có thể  hiểu:  Giáo dục LLCT cho sinh viên là hoạt động  

truyền bá, tiếp thu những ngun lý cơ  bản của chủ  nghĩa Mác – Lênin, tư  

tưởng Hồ  Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà  

nước nhằm nâng cao nhận thức chính trị, hình thành thế giới quan khoa học,  

nhân sinh quan cộng sản, phương pháp tư duy và phương pháp làm việc khoa  

học,biện chứng, góp phần phát huy tính tích cực chính trị ­ xã hội cho sinh viên  

trong hoạt động thực tiễn.

Giáo dục LLCT cho sinh viên các trường đại học có nội hàm rộng, do 

đó, ở  phạm vi của luận án sẽ tiếp cận giáo dục LLCT cho sinh viên như 



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×