Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 8. Các nhóm dinh dưỡng chức năng của côn trùng nước

Bảng 8. Các nhóm dinh dưỡng chức năng của côn trùng nước

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nhóm ăn thịt dao động từ 14,4% ­ 21% và tương đối ổn định. Nhóm ăn nạo  

chiếm  ưu thế  ở các suối thuộc khu vực giữa nguồn. Kết quả này hồn tồn phù  

hợp với mối quan hệ về dinh dưỡng và sinh cảnh sống của cơn trùng nước. Các 

suối đầu nguồn thường có nền đáy khơng ổn định, tốc độ dòng chảy nhanh và độ 

che phủ  lớn. Tại đây, khơng đủ  ánh sáng cho tảo và thực vật thủy sinh lớn phát 

triển do đó nguồn dinh dưỡng cho cơn trùng nước ở khu vực đầu nguồn chủ yếu  

là cành lá các tán thực vật ven bờ rụng xuống và vụn rác hai bên bờ suối. Vì vậy, 

khu vực đầu nguồn có nhóm nhai nghiền chiếm  ưu thế. Vai trò của nhóm nhai  

nghiền là chuyển hóa các vật chất hữu cơ thơ thành các hạt hữu cơ mịn là nguồn  

năng lượng dồi dào cho các nhóm ăn lọc và ăn nạo  ở  khu vực giữa và cuối 

nguồn. Bên cạnh đó, khu vực giữa nguồn thực vật thủy sinh phát triển mạnh như 

tảo và cây bụi nhỏ tạo điều kiện cho những sinh vật ăn nạo phát triển và chiếm  

ưu thế. 

Về  nhóm ăn lọc thì ăn lọc  ở  tầng đáy chiếm  ưu thế  cao nhất  ở  các suối 

thuộc khu vực cuối nguồn (59%). Ngược lại, nhóm ăn lọc tầng nước đạt tỷ  lệ 

rất thấp (0,9%) ở khu vực cuối nguồn và đầu nguồn. Có sự chênh lệch tỷ lệ lớn  

như  vậy có thể được giải thích là do ở  các suối cuối nguồn tuy có độ  rộng mặt  

nước lớn nhưng độ  sâu lại rất hạn chế  chỉ  khoảng từ  5 ­ 20cm là một ngun  

nhân làm cho tỷ lệ nhóm ăn lọc tầng nước giảm đáng kể. 



67



Hình 7. Tỷ lệ (%) về số lượng cá thể theo nhóm dinh dưỡng chức năng giữa 

ba khu vực nghiên cứu (trên đơn vị diện tích 0,5 m2)

Nhìn chung, tại khu vực nghiên cứu các lồi thuộc nhóm ăn lọc tầng đáy, 

ăn nạo và ăn thịt chiếm  ưu thế  ở cả ba khu vực đầu nguồn, giữa nguồn và cuối  

nguồn của suối. Tuy nhiên, đây mới chỉ là những nhận định sơ  bộ  về  các nhóm 

dinh dưỡng chức năng dựa vào dẫn liệu cơn trùng nước thu được trong đợt khảo 

sát này tại Khu BTTN Pù Lng, tỉnh Thanh Hóa. Hơn nữa những nghiên cứu về 

cơn trùng nước tại khu vực này còn chưa có nhiều. Do đó, cần phải có những 

nghiên cứu sâu hơn để làm rõ vấn đề này trong những nghiên cứu tiếp theo. 

3.5. So sánh độ  tương đồng về  thành phần lồi cơn trùng nước tại Khu 

BTTN Pù Lng với một số khu vực nghiên cứu khác



68



Các khu vực nghiên cứu được lựa chọn  để  so sánh mức độ  tương đồng  

về đa dạng cơn trùng nước cơ bản dựa trên tính chất đại diện cho các điều kiện  

khí hậu và phân vùng địa lý động vật Việt Nam. Vườn Quốc gia Tam Đảo nằm ở 

khu vực Đơng Bắc Việt Nam, Khu BTTN Pù Lng và Vườn Quốc gia Bạch Mã 

đại diện cho vùng Bắc Trung Bộ, Vườn Quốc gia Bi­Doup Núi Bà đại diện cho 

vùng Nam Trung Bộ.

Các số liệu được sử dụng để  so sánh dựa trên những tài liệu về  kết quả 

nghiên cứu cơn trùng nước của một số tác giả đã được cơng bố, cụ thể như sau:

­ Kết quả nghiên cứu đa dạng sinh học cơn trùng nước ở Vườn Quốc gia 

Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Nguồn: Nguyễn Văn Hiếu (2009).

­ Kết quả nghiên cứu đa dạng sinh học cơn trùng nước ở Vườn Quốc gia 

Bạch Mã, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nguồn: Nguyễn Thị Minh Huệ (2009).

­ Kết quả  nghiên cứu về  cơn trùng nước  ở  Vườn Quốc gia Bi­ Doup. 

Nguồn: Nguyễn Văn Vịnh, Nguyễn Thị Minh Huệ và cộng sự (2009).

Theo kết quả thống kê, số lượng lồi, số giống và số họ thu được tại mỗi  

khu vực nghiên cứu được trình bày như trong bảng 9. 

Bảng 9. Số lồi cơn trùng nước xác định được tại các khu vực nghiên cứu

Khu vực nghiên cứu

Tam Đảo

Pù Lng

Bạch Mã

Bi­Doup



Số lồi

135

173

145

153



Số giống

123

144

111

101



Số họ

56

70

56

49



Số lượng lồi cơn trùng nước được trình bày tại bảng 7 cho thấy số lượng 

lồi cơn trùng nước tại khu BTTN Pù Lng là cao nhất trong 4 khu vực được so  

sánh. Với 173 lồi so với Vườn Quốc gia Tam Đảo là 135 lồi, Vườn Quốc gia  

Bạch Mã 145 lồi và Vườn Quốc gia Bi­ Doup 153 lồi (Hình 8).

Tuy nhiên, kết quả  so sánh chỉ  mang tính chất tương đối do thời gian  

nghiên cứu, số điểm thu mẫu và lựa chọn các điểm thu mẫu tại mỗi khu vực là 



69



khơng  đồng nhất.  Trong nghiên cứu này,  số   điểm thu mẫu  ở   Khu  BTTN Pù 

Lng là 18 điểm, trong khi đó các khu vực nghiên cứu khác chỉ  thu mẫu tại 6  

điểm. 



Hình 8. So sánh số lượng lồi cơn trùng nước ở Pù Lng và một số 

khu vực nghiên cứu khác

Trên cơ sở thành phần lồi cơn trùng nước ở các khu vực nghiên cứu, tiến  

hành tính chỉ số tương đồng giữa 4 khu vực nghiên cứu  (Bảng 10). Khu BTTN Pù 

Lng, tỉnh Thanh Hóa có chỉ số tương đồng về lồi cơn trùng nước cao nhất so  

với Vườn Quốc gia Tam Đảo (44,95%), tiếp theo là Bạch Mã (43,67%) và thấp 

nhất với Vườn Quốc gia Bi­ Doup (38,06%). Kết quả này cũng thể  hiện rõ qua 

sơ đồ mối tương quan giữa các khu vực nghiên cứu ở hình 9.

Bảng10. Chỉ số tương đồng (%) giữa các khu vực nghiên cứu

 



70



Tam Đảo Pù Lng



Bạch Mã



Bi­ Doup



Tam Đảo



 



 



 



 



Pù Lng



44,95



 



 



 



Bạch Mã



45,09



43,67



 



 



Bi­ Doup



38,66



38,06



64,03



 



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 8. Các nhóm dinh dưỡng chức năng của côn trùng nước

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×