Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tải lượng lắng ướt trong 1 năm: T w = D w /năm (g/m2/năm)

R



R



R



R



P



P



f. Tính lắng đọng khơ [120]

D d = v* N

R



(1.8)



R



Trong đó: D d : Lượng lắng khơ (mg/m2.s) ; V: Vận tốc lắng (m/s),

R



R



P



P



N: Nồng độ chất khí (mg/m )

3



P



P



Tải lượng lắng khơ trong 1 năm: T d = D d /năm (g/m2/năm)

R



R



R



R



P



P



2.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm

-



Nghiên cứu được thực hiện tại xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Giàng,

tỉnh Hải Dương. Thời gian tiến hành thí nghiệm trong vụ xuân

năm 2012.



-



Nước tưới cây là nước mưa lấy tại khu vực nghiên cứu có thành

phần NO 3 - (3,67 - 3,75 mg/l), HCO 3 - (15,65 - 15,91 mg/l), ClR



RP



P



R



RP



P



P



2-



P



+



(5,38 - 5,56 mg/l), SO 4 (12,18-12,42 mg/l), NH 4 (4,35 - 4,78

R



RP



P



R



+



RP



P



mg/l), Na (2,32 - 2,53 mg/l), K (1,66 - 1,83 mg/l), Ca2+ (5,64 P



+



P



P



P



P



P



5,82 mg/l), Mg (0,69 - 0,81mg/l). Cứ 2 tuần/lần phân tích mẫu

2+

P



P



nước mưa. Nước mưa được điều chỉnh pH ở các mức khác nhau:

3,0; 4,0; 4,5; 5,0; 5,5 bằng dung dịch H 2 SO 4 1N.

R



-



R



R



R



Tần suất tưới nước mưa axit ở các mức 35% và 66 %. Đây là các

giá trị tần suất trung bình và cao nhất tính được trong giai đoạn từ

tháng 2 – 4 của tỉnh Hải Dương.



-



Lượng nước mưa axit tưới là 200 và 750 mm. Đây là các giá trị

lượng mưa trung bình và cao nhất tính được trong giai đoạn từ

tháng 2 – 4 của tỉnh Hải Dương.



-



Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBDRandomized Complete Block Design) với 3 yếu tố (pH, tần suất

và lượng mưa) bao gồm 20 công thức thí nghiệm. Mẫu đối chứng

là mẫu khơng tưới nước mưa axit. Thí nghiệm tiến hành với 3 lần

10



nhắc lại. Sử dụng chương trình IRRISTAT 5.0 để tạo sơ đồ thí

nghiệm.

Bảng 2.1. Các cơng thức thí nghiệm

CT1

pH=3,0

TS 35%

LM 200mm

CT2

pH= 3,0

TS 66%

LM 200mm



CT5

pH= 4,0

TS 35 %

LM 200mm

CT6

pH= 4,0

TS 66%

LM 200mm



CT9

pH= 4,5

TS 35 %

LM 200mm

CT10

pH= 4,5

TS 66%

LM 200mm



U



U



U



U



U



U



U



U



U



U



CT3

pH= 3,0

TS 35%

LM 750mm

U



U



CT4

pH= 3,0

TS 66%

LM 750mm

U



U



CT7

pH= 4,0

TS 35 %

LM 750mm

U



U



CT8

pH= 4,0

TS 66%

LM 750mm

U



U



U



U



CT11

pH= 4,5

TS 35 %

LM 750mm

U



U



CT12

pH= 4,5

TS 66%

LM 750mm

U



U



CT13

pH= 5,0

TS 35 %

LM 200mm

CT14

pH= 5,0

TS 66%

LM 200mm



CT17

pH= 5,5

TS 35 %

LM 200mm

CT18

pH= 5,5

TS 66%

LM 200mm



U



U



U



U



U



U



U



U



CT15

pH= 5,0

TS 35 %

LM 750mm

U



U



CT16

pH= 5,0

TS 66%

LM 750mm

U



U



CT19

pH= 5,5

TS 35 %

LM 750mm

U



U



CT20

pH= 5,5

TS 66%

LM 750mm

U



U



Đối chứng (ĐC)



2.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Số liệu để đánh giá hiện trạng lắng đọng axit của khu vực nghiên

cứu được nhập, xây dựng cơng thức và tính tốn bằng chương trình

Excel. Số liệu đánh giá ảnh hưởng của mưa axit đến cây đậu Cơ ve

được phân tích và xử lý bằng chương trình Excel và phương pháp

phân tích phương sai (ANOVA) và hồi quy bằng chương trình

IRRISTAT 5.0.

2.4. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm

Các chỉ tiêu hóa học của đất được xác định theo những phương

pháp thông dụng hiện nay trong các phòng thí nghiệm phân tích đất

[8, 18 ].



11



2.5. Phương pháp mơ hình hóa mơi trường

Xem xét khả năng sử dụng mơ hình RAINS - ASIA 7.52.2 để

đánh giá và dự báo mức độ phát thải SO 2 ở vùng đồng bằng sông

R



R



Hồng, đánh giá lượng lắng đọng SO x và tỷ lệ phần trăm hệ sinh thái bị

R



R



ảnh hưởng.

2.6. Phương pháp xây dựng phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu và

đánh giá hiện trạng lắng đọng axit

Luận án cũng đã sử dụng bộ cơng cụ lập trình Microsoft Visual

C# 2010 với hệ quản trị cơ sở dữ liệu (CSDL) Microsoft Access để

xây dựng phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu và đánh giá hiện trạng lắng

đọng mưa axit tại khu vực nghiên cứu.

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đánh giá hiện trạng lắng đọng axít ở một số khu vực đồng

bằng sông Hồng (Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Ninh Bình)

3.1.1. Hiện trạng mưa axit

Kết quả tính tốn dựa trên chuỗi số liệu quan trắc và đo đạc giai

đoạn từ năm 2006 đến năm 2012 của Trung tâm KTTV Quốc Gia cho

thấy mưa axít (pH < 5,6) đã xuất hiện ở các trạm khu vực đồng bằng

sông Hồng với tần suất tương đối cao và biến động khá lớn qua các

năm, cụ thể ở Hà Nội là (25% - 54,5%), ở Hải Phòng (8,33% - 58,3 %),

ở Hải Dương (8,3 – 63,6 %), ở Ninh Bình ( 8,3 % - 50 %) và ở Cúc

Phương (33 % - 81,8 %). Tỷ lệ mưa axít (%) của một số khu vực thuộc

đồng bằng sông Hồng - Việt Nam giai đoạn 2006 - 2012 được biểu

diễn ở Hình 3.1.

Nhìn chung, tỷ lệ mưa axít (%) thay đổi không theo quy luật ở

các trạm thuộc khu vực nghiên cứu. Mưa axit thường xuất hiện vào



12



các tháng mùa khô (tháng 4, 10,11) khi lượng mưa ít và các tháng cuối

mùa mưa (tháng 8, 9) khi lượng mưa giảm. Tỷ lệ xuất hiện mưa axit ở

tất cả các trạm vào mùa khô lớn hơn so với mùa mưa.

Hàm lượng các anion và cation chính trong nước mưa có sự

chênh lệch đáng kể giữa các trạm trong khu vực nghiên cứu. Nồng độ

các anion chính (SO 4 2-, NO 3 -, Cl-, HCO 3 -) trong nước mưa khá cao.

R



RP



P



R



RP



P



P



P



R



RP



P



Trong đó, ion SO 4 là anion có nồng độ cao nhất trong nước mưa so

2-



R



RP



P



với các anion khác ở bốn trạm Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương và Ninh

Bình. Ở Cúc Phương, nồng độ ion HCO 3 - là cao nhất. Giải thích cho

R



RP



P



nồng độ HCO 3 cao trong nước mưa có thể là do hoạt động hơ hấp của

-



R



RP



P



thực vật tại khu vực. Ngồi ra phần chính tạo ra HCO 3 - trong nước

R



RP



P



mưa là do khí CO 2 hòa tan vào nước ở các nồng độ CO 2 khác nhau và

R



R



R



R



phụ thuộc vào nhiệt độ. Sự tan của CO 2 trong nước đóng vai trò làm

R



R



đệm rất nhạy đối với pH do cân bằng: HCO 3 - + H+

R



RP



P



P



H 2 O +CO 2 .



P



R



R



R



R



Nồng độ NO 3 tại trạm Láng - Hà Nội luôn lớn hơn hẳn các trạm khác.

-



R



RP



P



Ở tất cả các trạm, nồng độ các ion SO 4 2-, NO 3 -, NH 4 +, Ca2+ trung bình

R



RP



P



R



RP



P



R



RP



P



P



P



mùa khơ (mg/l) cao hơn các giá trị này trong mùa mưa nhiều lần. Điều

này chứng tỏ rằng trong mùa mưa, do mưa nhiều dẫn đến làm thay đổi

nồng độ ion H+ (theo chiều hướng giảm) hay nói cách khác là làm

P



P



tăng pH. Bên cạnh đó có thể xem xét thêm yếu tố rửa trôi.

Thành phần chủ yếu làm giảm giá trị pH nước mưa ở cả 5 trạm là

nss-SO 4 2- qua các năm và các mùa trong năm. Thành phần chủ yếu

R



RP



P



làm trung hòa tính axit trong nước mưa ở 5 trạm nghiên cứu là nssCa2+ . Giá trị pH luôn lớn hơn giá trị pA i ở cả 5 trạm trong khu vực

P



P



R



R



nghiên cứu cho thấy pH còn chịu ảnh hưởng của các ion khác ngồi

SO 4 2- và NO 3 -, như Ca2+ và NH 4 + và các ion khác như K+, Na+,

R



RP



P



R



RP



P



P



P



R



RP



2+



Mg ,..

P



P



13



P



P



P



P



P



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×