Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TÀI CHÍNH VỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

TÀI CHÍNH VỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

Thứ  hai, nơng nghiệp cung cấp ngun vật liệu cho hàng loạt các ngành 

cơng nghiệp phát triển như  cơng nghiệp chế  biến thực phẩm, cơng nghiệp dệt, 

may, cơng nghiệp giấy, đồ gỗ... mà nếu khơng phát triển tốt sẽ  ảnh hưởng đến 

xuất khẩu và hàng tiêu dùng.

Thứ ba, nơng nghiệp góp phần vào việc tăng thu nhập và tích lũy của nền  

kinh tế quốc dân, thơng qua cung cấp nơng sản phẩm, xuất khẩu nơng sản phẩm.  

Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển đi lên từ  nơng 

nghiệp.

Thứ tư, nơng nghiệp là ngành kinh tế sử dụng nguồn lao động dồi dào mà  

nếu như  tăng năng suất lao động có thể  giải phóng được lao động phục vụ  cho 

các ngành kinh tế khác. Đồng thời đây là thị trường rộng lớn để tiêu thụ  các sản 

phẩm cơng nghiệp, dịch vụ, tạo cho nền kinh tế chung phát triển.

Thứ  năm, nơng nghiệp là ngành kinh tế  có địa bàn sản xuất rộng lớn, có 

vai trò quan trọng trong việc bảo vệ  mơi trường. Nếu ngành nơng nghiệp phát 

triển tốt theo hướng bền vững sẽ góp phần quan trọng bảo vệ  mơi trường sinh 

thái, tạo tiền đề phát triển KTXH bền vững. Ngược lại, nếu phát triển khơng tốt  

sẽ   ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảnh quan và mơi trường,  ảnh hưởng đến đời 

sống dân cư. 

Xuất phát từ vai trò của ngành nơng nghiệp, phát triển kinh tế nơng nghiệp 

là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển KTXH nước ta hiện nay. 

1.1.2. Quan niệm cơ cấu kinh tế nơng nghiệp 

1.1.2.1. Cơ cấu kinh tế

Phát triển nền kinh tế  có hiệu quả  là mục tiêu phấn đấu của mỗi quốc 

gia. Muốn đạt được mục tiêu đó, đòi hỏi phải xây dựng một CCKT hợp lý. Để 

hiểu rõ được khái niệm CCKT thì trước hết phải làm rõ được bản chất của  

phạm trù "cơ cấu".

Cơ cấu là một phạm trù phản ánh cấu trúc bên trong của một đối tượng,  

là tập hợp những mối quan hệ cơ bản có hệ thống, tương đối ổn định giữa các  

yếu tố cấu thành nên đối tượng đó trong một thời gian nhất định. 

18



Các Mác cho rằng: Q trình sản xuất xã hội bao gồm tồn bộ những quan  

hệ  sản xuất phù hợp với trình độ  phát triển nhất định của lực lượng sản xuất.  

Trong q trình tổ  chức đời sống của mình con người có những quan hệ  nhất 

định, tất yếu, khơng tùy thuộc vào ý muốn của họ, tức những quan hệ sản xuất,  

những quan hệ này phù hợp với trình độ  phát triển nhất định của các lực lượng 

sản xuất vật chất của họ. Tồn bộ  những quan hệ  sản xuất  ấy cũng hợp thành 

CCKT của xã hội [10, tr14 ­ 15]. 

Như  vậy, có thể  hiểu:  CCKT là một phạm trù kinh tế  thể  hiện các mối  

quan hệ  giữa các bộ  phận cấu thành nền kinh tế  quốc dân. Mối quan   hệ  này  

phản ánh cả về mặt số lượng và chất lượng của các yếu tố hợp thành với những  

điều kiện KTXH nhất định, vào một khoảng thời gian nhất định.

1.1.2.2. Cơ cấu kinh tế nơng nghiệp

Nơng nghiệp là một bộ  phận cấu thành quan trọng trong hệ  thống nền 

kinh tế quốc dân. Nhưng đồng thời bản thân nơng nghiệp cũng là một hệ thống  

được cấu thành bởi các bộ phận khác nằm trong tổng thể hệ thống kinh tế quốc  

dân. 

CCKT nơng nghiệp là cấu trúc bên trong của kinh tế nơng nghiệp, nó bao  

gồm các bộ  phận cấu thành nên kinh tế nơng nghiệp và các bộ  phận đó có mối  

quan hệ  hữu cơ  với nhau theo tỷ lệ nhất định về  mặt số  lượng, liên quan chặt  

chẽ  về  mặt chất lượng, chúng tác động qua lại lẫn nhau trong điều kiện thời  

gian và khơng gian nhất định. 

CCKT nơng nghiệp được phân chia thành: cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh 

thổ và cơ cấu các thành phần kinh tế trong đó CCKT nơng nghiệp theo ngành thể 

hiện rõ nhất bản chất của CCKT ngành nơng nghiệp.

Cơ  cấu ngành trong CCKT nơng nghiệp là tập hợp các bộ  phận – các 

ngành sản xuất trong nơng nghiệp – cấu thành tổng thể  các ngành kinh tế  nơng 

nghiệp và mối tương quan tỉ lệ giữa các bộ phận cấu thành so với tổng thể. Mối  

quan hệ tỉ lệ này do u cầu phát triển cân đối giữa các ngành chi phối. 



19



Ngành nơng nghiệp bao gồm 3 nhóm ngành lớn: nơng nghiệp, lâm nghiệp  

và thủy sản. Trong đó cơ cấu các nhóm ngành lại được phân chia như sau:

­ Nơng nghiệp gồm hai tiểu ngành trồng trọt và chăn ni, trong đó trồng 

trọt chia thành cây lương thực, cây cơng nghiệp, cây ăn quả, cây rau màu. Tiểu  

ngành chăn ni gồm có chăn ni gia súc, gia cầm.

­ Lâm nghiệp gồm trồng rừng, khai thác và chế biến lâm sản.

­ Thủy sản gồm: ni trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản.

Các ngành trong CCKT nơng nghiệp ra đời và phát triển gắn liền với sự 

phát triển của phân cơng lao động xã hội. Phân cơng lao động theo ngành là cơ sở 

hình thành các ngành và cơ cấu ngành. Phân cơng lao động càng phát triển thì sự 

phân chia các ngành càng đa dạng, sâu sắc và chi tiết. Ngành nơng nghiệp phát 

triển gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân cơng lao động xã  

hội: Từ  nền sản xuất mang tính chất tự cung, tự cấp với những ngành rộng đến  

chun mơn hóa và sản xuất hàng hóa tạo ra nhiều sản phẩm cung cấp cho xã  

hội và từ đó phân ra các ngành hẹp hơn và chi tiết hơn. 

Cơ  cấu ngành là một nội dung chủ  yếu của chiến lược phát triển các  

ngành và là hạt nhân của CCKT nơng nghiệp. Việc xác lập cơ cấu ngành hợp lý, 

thích ứng với từng giai đoạn phát triển có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát 

triển của ngành: tạo điều kiện thực hiện thành cơng các mục tiêu phát triển  

KTXH trong chiến lược phát triển KTXH của đất nước; đảm bảo đáp  ứng tốt  

nhất nhu cầu thị  trưởng và khai thác sử  dụng có hiệu quả  tiềm năng của một  

vùng và của cả  nước; tạo điều kiện thúc đẩy q trình tiến bộ  khoa học – cơng  

nghệ trong các ngành sản xuất nơng nghiệp [55, tr48­49].

1.1.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng nghiệp 

1.1.3.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng nghiệp

Q trình phát triển dẫn đến sự thay đổi của nơng nghiệp trong CCKT nói 

chung, đòi hỏi ngành nơng nghiệp cũng phải có sự  chuyển đổi phù hợp với các 

điều kiện và xu thế phát triển chung.



20



Chuyển dịch CCKT nơng nghiệp là việc thay đổi tỷ lệ của các ngành sản  

xuất vật chất và dịch vụ trong kinh tế nơng nghiệp và các mối quan hệ của các  

bộ  phận cấu thành kinh tế nơng nghiệp; đó là sự biến đổi phá vỡ  cơ  cấu cũ và  

sự điều chỉnh để tạo ra CCKT nơng nghiệp mới ổn định, cân đối có chủ đích trên  

cơ sở phải phù hợp với các quy luật tự nhiên và kinh tế, xã hội.

Chuyển dịch CCKT nơng nghiệp là sự vận động của các yếu tố cấu thành 

của kinh tế nơng nghiệp theo các quy luật khách quan dưới sự tác động của con  

người vào các nhân tố ảnh hưởng đến chúng theo những mục tiêu nhất định. Đó  

là q trình thay đổi các yếu tố và mối quan hệ giữa các yếu tố cấu trúc nên kinh 

tế  nơng nghiệp. Chuyển dịch CCKT nơng nghiệp là q trình chuyển dịch tồn 

diện cả cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ, và cơ cấu thành phần kinh tế. Trong đó,  

chuyển dịch CCKT nơng nghiệp theo ngành thể  hiện rõ nhất bản chất của q  

trình chuyển dịch CCKT nơng nghiệp. Vì vậy, luận án chỉ tập trung vào phân tích 

chuyển dịch CCKT nơng nghiệp theo ngành (hay chuyển dịch CCKT trong nội bộ 

ngành nơng nghiệp).

Chuyển dịch CCKT nơng nghiệp theo ngành: là một q trình chuyển từ 

trạng thái cơ cấu cũ sang cơ cấu mới phù hợp với sự tiến bộ của khoa học cơng  

nghệ, nhu cầu thị trường và nhằm sử dụng hiệu quả mọi yếu tố nguồn lực của  

đất nước. Việc chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành biểu hiện ở  sự  thay đổi 

mối tương quan tỉ lệ mỗi ngành so với tổng thể ngành trong CCKT nơng nghiệp.  

Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành trong nơng nghiệp là phải hướng tới một cơ 

cấu ngành hợp lý, đa dạng, trong đó cần phát triển các ngành chủ  lực có nhiều 

lợi thế để đáp ứng u cầu trong nước và xuất khẩu. 



21



Xu hướng chuyển dịch CCKT nơng nghiệp có tính quy luật phát triển hiện 

nay là chuyển đổi từ nền sản xuất nơng nghiệp lạc hậu, thủ cơng, sản xuất nhỏ 

hướng tới một nền nơng nghiệp hàng hóa, sản xuất thâm canh, đa dạng theo  

hướng sản xuất lớn tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị. Chuyển dịch CCKT nơng 

nghiệp theo ngành diễn ra theo xu hướng ngày càng gia tăng tỷ trọng của các sản  

phẩm có giá trị kinh tế cao (cây cơng nghiệp, cây ăn quả, chăn ni, thủy sản, các  

loại cây, con đặc sản…) và có giá trị  xuất khẩu, giảm dần tỷ trọng của các sản  

phẩm có giá trị kinh tế thấp. Chuyển dịch CCKT nơng nghiệp gắn liền với việc  

hình thành nên những vùng chun mơn hóa sản xuất hàng hóa lớn, có sự ổn định 

về quy mơ, chất lượng sản phẩm gắn với chuỗi giá trị và đa dạng hóa sản phẩm, 

bảo đảm hiệu quả KTXH… Các tiểu ngành sản xuất phát triển phải dựa trên cơ 

sở phát huy được thế mạnh, lợi thế so sánh của từng vùng để định hướng chun 

mơn hóa, sản xuất hàng hóa theo qui mơ lớn. [12, tr28]

Q trình chuyển dịch CCKT nơng nghiệp  ở  nước ta cần phải được xác 

định dựa trên việc giải quyết các vấn đề cơ bản sau:

Một là, từng địa phương trong cả  nước cần phải định hướng lựa chọn  

những sản phẩm chủ  lực nào – thể  hiện  ở  chiến lược và quy hoạch phát triển 

nông nghiệp.

Hai là, sản xuất những sản phẩm đã lựa chọn như  thế  nào để  đáp  ứng  

được nhu cầu thị  trường, được thị  trường chấp nhận, nâng cao năng lực cạnh  

tranh của sản phẩm. Đây là vấn đề  có ý nghĩa quyết định đến q trình chuyển  

dịch CCKT nơng nghiệp hiện nay. 

Ba là, các địa phương cần phải làm gì để  tiêu thụ  được các sản phẩm 

nơng nghiệp làm ra.

Giải quyết tốt các vấn đề  nêu trên chính là tiền đề  thực hiện thành cơng 

q trình chuyển dịch CCKT nơng nghiệp tại các địa phương trong cả nước.

Nội dung chủ yếu của chuyển dịch CCKT trong nội bộ ngành nơng nghiệp 

được thể hiện như sau:



22



­ Chuyển dịch cơ  cấu tiểu ngành nơng nghiệp (trồng trọt và chăn ni): 

Hiện nay, trong cơ cấu tiểu ngành nơng nghiệp có hai vấn đề  quan trọng là xác 

định cơ cấu hợp lý giữa trồng trọt và chăn ni, giữa trồng cây lương thực và cây  

công nghiệp, cây ăn quả, cây thực phẩm. Tăng tỷ  trọng ngành chăn nuôi, giảm  

dần tỷ  trọng ngành trồng trọt. Trong ngành trồng trọt chuyển từ  trạng thái độc  

canh cây lương thực sang đa canh cây trồng là xu hướng khách quan nhằm sử 

dụng hợp lý các điều kiện và các nguồn lực như đất đai, lao động, tăng thu nhập  

cho người lao động, đáp  ứng nhu cầu đa dạng của xã hội cũng như  phát huy  

được một cách triệt để  tiềm năng, lợi thế  của từng địa phương trong q trình 

phát triển. 

­ Chuyển dịch cơ cấu tiểu ngành lâm nghiệp: Ngành lâm nghiệp bao gồm 

nhiều chủng loại thực vật và động vật rừng. Đây là nguồn tài ngun vơ cùng 

phong phú và đa dạng. Chuyển dịch CCKT lâm nghiệp theo hướng tăng cường 

bảo tồn và phát triển rừng tự  nhiên, tích cực trồng rừng, khai thác tài ngun 

rừng hợp lý đi đơi với phát triển cơng nghệ chế biến lâm sản.

­ Chuyển dịch cơ  cấu tiểu ngành thủy sản: ngành thủy sản  là một trong 

những   ngành   kinh   tế   quan   trọng   cấu   thành   kinh   tế   nông   nghiệp   ở   nước   ta. 

Chuyển dịch CCKT thủy sản theo các nội dung chủ yếu là tăng cường ni trồng  

thủy sản, đánh bắt hải sản xa bờ và phát triển cơng nghệ chế biến thuỷ hải sản.

Theo nội dung và xu hướng chuyển dịch CCKT nơng nghiệp nói trên, mỗi  

một địa phương đều có một thế mạnh về điều kiện tự nhiên cũng như điều kiện  

KTXH riêng biệt sẽ thực hiện q trình chuyển dịch CCKT nơng nghiệp sao cho  

phù hợp với đặc thù của địa phương mình. Khơng thể có CCKT mẫu làm chuẩn 

mực cho mọi vùng lãnh thổ.

Việc lựa chọn chuyển dịch CCKT trong nội bộ  ngành nơng nghiệp cho  

thấy cái nhìn cụ thể hơn về những chuyển biến rõ rệt diễn ra trong nội bộ ngành  

nơng nghiệp để  từ  đó có những giải pháp tài chính phù hợp tác động, thúc đẩy  

nhanh q trình chuyển dịch CCKT tới từng phân ngành nhỏ  trong nội bộ  ngành  

nơng nghiệp. 

23



1.1.3.2. Các nhân tố   ảnh hưởng đến cơ  cấu và chuyển dịch CCKT  

nơng nghiệp

­ Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên

Những nhân tố về điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến CCKT và  

chuyển   dịch   CCKT   nông   nghiệp   nhất   là   đối   với   các   nước   có   trình   độ   cơng 

nghiệp hóa còn thấp. Những nhân tố  về  điều kiện tự  nhiên bao gồm: điều kiện  

đất đai, thời tiết, khí hậu, nguồn nước, rừng, khống sản và các yếu tố sinh học 

khác,...

Các nhân tố  về  điều kiện tự  nhiên có tác động trực tiếp tới việc hình  

thành, vận động và biến đổi CCKT nơng nghiệp. Tuy nhiên, sự   ảnh hưởng của  

các điều kiện tự  nhiên đến các nội dung của CCKT nơng nghiệp khơng giống  

nhau. Trong các nội dung của cơ cấu kinh tế nơng nghiệp thì cơ cấu ngành và cơ 

cấu vùng lãnh thổ chịu ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên nhiều hơn, còn cơ 

cấu các thành phần kinh tế chịu ảnh hưởng ít hơn.

Vị  trí địa lý thuận lợi và các tiềm năng tự  nhiên phong phú của mỗi vùng 

lãnh thổ là nhân tố thuận lợi cho phát triển các hoạt động sản xuất nơng nghiệp 

với qui mơ lớn, mức độ chun mơn hóa cao và nhanh hơn so với các vùng khác  

[55, tr55­56].

­ Nhóm các nhân tố kinh tế ­ xã hội

Nhóm các nhân tố  này ln tác động mạnh mẽ  tới sự  hình thành và phát 

triển   của CCKT nơng nghiệp. Các nhân tố  KTXH  ảnh hưởng tới CCKT nơng 

nghiệp bao gồm:

+ Thị  trường, hệ  thống chính sách kinh tế  vĩ mơ của nhà nước; cơ  sở  hạ 

tầng NNNT; lao động bao gồm cả số lượng và chất lượng (trình độ dân trí, trình  

độ chun mơn, tập qn sản xuất,...)



24



+ Thị  trường gắn liền với kinh tế  hàng hóa. Trong nền kinh tế  hàng hóa 

các quan hệ  kinh tế  đều được thực hiện thơng qua thị  trường. Thị  trường đầu  

vào của ngành nơng nghiệp bao gồm vật tư nơng nghiệp (phân bón, thuốc bảo vệ 

thực vật, giống cây trồng vật ni,...), vốn, lao động, khoa học cơng nghệ; thị 

trường đầu ra của nơng nghiệp là các sản phẩm lương thực, thực phẩm phục vụ 

cho nhu cầu tiêu dùng và ngun liệu phục vụ cho các ngành cơng nghiệp.

Nhu cầu thị  trường vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển sản xuất, 

tác động mạnh mẽ  đến xu thế  chuyển dịch CCKT nơng nghiệp. Tính đa dạng  

của nhu cầu tác động mạnh đến việc biến đổi số lượng và cơ cấu ngành.

­ Nhóm nhân tố về khoa học – cơng nghệ

Ngày nay khoa học – cơng nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, sự 

phát triển của khoa học – cơng nghệ  và việc  ứng dụng nó vào sản xuất đã trở 

thành động lực mạnh mẽ  để  tăng trưởng và chuyển dịch CCKT nói chung và 

chuyển dịch CCKT nơng nghiệp. Tiến bộ khoa học – cơng nghệ và ứng dụng nó 

vào sản xuất một mặt làm xuất hiện nhiều loại nhu cầu mới, tác động đến sự 

thay đổi về số lượng, tăng mức nhu cầu của ngành này hay ngành khác, làm thay  

đổi tốc độ phát triển giữa các ngành. Mặt khác nó tạo khả  năng mở  rộng ngành 

nghề  và tăng trưởng các ngành sản xuất chun mơn hóa cao và phát triển các  

ngành đòi hỏi có trình độ cơng nghệ cao.

1.1.3.3. Các tiêu chí đánh giá mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng  

nghiệp 

Các tiêu chí đánh giá mức độ  hợp lý chuyển dịch CCKT nơng nghiệp có 

tính co dãn lớn, phụ thuộc vào đặc thù KTXH, tự nhiên của mỗi một quốc gia và  

vùng lãnh thổ và cũng khơng thể rập khn máy móc mơ hình chuyển dịch CCKT 

nơng nghiệp của cả  nước cho từng vùng. Trong nhiều trường hợp xu hướng 

chuyển dịch của từng vùng lại trái ngược với định hướng của cả  nước, nhưng 

phải  chấp  nhận  [58].   Để   đánh   giá   mức   độ   chuyển   dịch  CCKT   nông  nghiệp  

người ta thường vận dụng các chỉ tiêu chủ yếu sau đây:

Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp:

25



Chỉ   tiêu   này   có   thể   đo   lường   bằng   tỷ   lệ   giá   trị   sản   xuất   của   từng  

ngành/nhóm   ngành   trong   tổng   số   hoặc   tỷ   lệ   tổng   thu   nhập   (GDP)   của   từng  

ngành/nhóm ngành trong tổng số. Đối với các chỉ tiêu này được đánh giá là hợp lý  

khi q trình chuyển dịch cơ cấu trong từng tiểu ngành trồng trọt, chăn ni, thủy 

sản,   lâm   nghiệp   đảm   bảo   được   các   nội   dung   của   chuyển   dịch   CCKT   nông  

nghiệp như đã trình bày ở phần 1.1.3.1 của luận án.

Trong giai đoạn hiện nay, các nhà kinh tế  học cho rằng một nền kinh tế 

đang phát triển muốn trở  thành một nền kinh tế  cơng nghiệp hóa mới thì phải  

giảm được tỷ trọng nơng nghiệp xuống dưới 20% GDP còn đối với các nền kinh 

tế  cơng nghiệp hóa cao thì tỷ  trọng nơng nghiệp phải giảm xuống 10%, trong  

nhiều trường hợp là dưới 5%. [14, tr171] Trong giai đoạn hiện nay, việc chuyển  

dịch cơ cấu GDP khơng thể  đạt ngay được kết quả như  vậy, đó là mục tiêu mà  

cả nước cần phải hướng tới trong một thời gian dài, do đó tỷ trọng đóng góp vào  

GDP của ngành nơng nghiệp hiện nay giảm xuống khoảng 20% ­ 25% là hợp lý 

đối với tình hình thực tế của các địa phương ở nước ta. 

Sự di chuyển lao động từ nơng nghiệp sang các ngành khác:  thể hiện ở sự 

thay đổi về tỷ lệ lao động của ngành nơng nghiệp chiếm trong tổng số lao động 

của nền kinh tế quốc dân. Tỷ trọng lao động trong từng ngành là biểu hiện rõ nét  

xu thế chuyển dịch trong q trình phân cơng lao động theo ngành. 



26



Chuyển dịch cơ cấu lao động từ nơng nghiệp sang các ngành khác có phần 

giống với sự  chuyển dịch GDP của ba ngành kinh tế  cơ  bản là nơng nghiệp ­ 

cơng nghiệp và dịch vụ  nhưng tốc độ  chuyển dịch chậm hơn do việc thay đổi 

trình độ, chun mơn kỹ  thuật cần phải có một khoảng thời gian nhất định.  Ở 

Việt   Nam,   tỷ   trọng   lao   động   hoạt   động   trong   lĩnh   vực   nơng   nghiệp   chiếm 

khoảng 65,1% năm 2000 và tỷ  lệ  đó được giảm xuống vào khoảng 47,4% năm 

2012. Tỷ  trọng lao động trong ngành nơng nghiệp trên phạm vi tồn quốc có xu 

hướng giảm xuống đó là dấu hiệu của sự  chuyển dịch cơ  cấu lao  động theo 

hướng tích cực. Tuy nhiên  ở một số địa phương, tỉnh thành có điều kiện KTXH  

khó khăn hơn như  khu vực Tây Ngun, khu vực Bắc Trung Bộ thì tỷ  lệ  đó cao 

hơn mức trung bình của cả nước. Để tương ứng với sự chuyển dịch cơ cấu GDP  

và phù hợp với sự phát triển của các địa phương thì cơ cấu lao động ngành nơng  

nghiệp nên giảm xuống khoảng 30% – 40% trong giai đoạn hiện nay. Điều này là  

phù hợp với đặc thù và tiến trình chuyển dịch CCKT nơng nghiệp  ở  một nước  

đang phát triển như nước ta.

Mức độ   ứng dụng cơng nghệ  ­ kỹ  thuật:  được thể  hiện qua tỷ  lệ  phần 

trăm những lĩnh vực,  những sản phẩm  được  áp dụng cơng nghệ  ­ kỹ  thuật.  

Những chỉ số thường được sử dụng đó là mức độ cơ giới hóa, tỷ lệ áp dụng tiến  

bộ khoa học – cơng nghệ vào sản xuất nơng nghiệp.

Ngồi việc sử  dụng các chỉ  tiêu trên, để  đánh giá hiệu quả  của chuyển 

dịch CCKT và chuyển dịch CCKT nơng nghiệp người ta còn sử  dụng kết hợp  

một số  các chỉ  tiêu khác như: giá trị  xuất khẩu, khả  năng cạnh tranh; chỉ  tiêu 

phản ánh việc làm, thu nhập, đời sống của nơng dân, khả  năng xóa đói giảm  

nghèo,   cơng  bằng xã  hội;   chỉ   tiêu  bảo  vệ  môi  trường  sinh thái,  tạo  lập môi  

trường phát triển bền vững của ngành nông nghiệp.

1.1.4. Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 

Một là, xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH nông nghiệp 



27



CNH ­ HĐH nông nghiệp nông thôn là một chủ  trương lớn của Đảng và 

Nhà nước. Hiện nay, Đảng và Nhà nước đang chủ  trương phát triển tồn diện  

nơng nghiệp, chuyển dịch mạnh cơ  cấu nơng nghiệp và kinh tế  nơng thơn theo  

hướng tạo ra giá trị  gia tăng ngày càng cao, gắn với cơng nghiệp chế biến và thị 

trường; thực hiện cơ  khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, đưa nhanh tiến bộ 

KHKT và cơng nghệ  sinh học vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và  

sức cạnh tranh, phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng địa phương. 

Xuất phát từ u cầu của CNH ­ HĐH NNNT, nếu chúng ta duy trì CCKT  

cũ của những năm trước đây thì khó tạo một sức bật mới để  phát triển nơng 

nghiệp.  Thực  hiện chuyển  đổi  CCKT nơng nghiệp  thì  mới  đa  dạng hóa  sản 

phẩm, biến một nền nơng nghiệp mà cơ  bản là tự  cung tự  cấp thành nền nơng  

nghiệp hàng hóa. Nếu khơng điều chỉnh, cấu trúc lại CCKT cho phù hợp với nền  

kinh tế thị trường mở cửa thì khơng thể lựa chọn được cơng nghệ  thích hợp để 

phát huy thế mạnh của mình.

Mối quan hệ giữa CNH ­ HĐH và chuyển dịch CCKT nơng nghiệp là quan  

hệ  hai chiều. CNH ­ HĐH tạo ra kết cấu hạ  tầng KTXH là điều kiện vật chất  

rất quan trọng cho chuyển dịch CCKT nơng nghiệp, góp phần thay đổi bộ  mặt  

nơng thơn. Thực hiện chuyển dịch CCKT nơng nghiệp sẽ cho phép khai thác triệt  

để và có hiệu quả tiềm năng đa dạng của nơng, lâm, ngư nghiệp ở nước ta nhằm  

tạo giá trị  thu nhập cao. Những nội dung này vừa là nội dung của CNH – HĐH 

NNNT, vừa là những u cầu cơ bản của chuyển dịch CCKT nơng nghiệp. Với tỷ 

lệ lớn dân cư nơng thơn Việt Nam hiện nay, thì chuyển dịch CCKT nơng nghiệp  

là một tất yếu khách quan.



28



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TÀI CHÍNH VỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×