Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
a. Mục đích, ý nghĩa của biện pháp:

a. Mục đích, ý nghĩa của biện pháp:

Tải bản đầy đủ - 0trang

20

thống các tri thức, các ngun lý và quy luật. Tất cả  các mơn học lý luận đều thực  

hiện chức năng phương pháp luận, hình thành niềm tin, đây là yếu tố  then chốt của 

nền đạo đức mới của sinh viên.

b. Cách thức tổ  chức:Lựa chọn các nội dung thích hợp, có liên quan đến đạo 

đức nghề  nghiệp nhà báo; xác định khả  năng lồng ghép của mỗi mơn học; tích cực 

lồng ghép, tích hợp các nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên báo chí  

vào các nội dung của các một học một cách khéo léo, tinh tế; tạo nên mối quan hệ 

chặt chẽ giữa nhà trường đào tạo báo chí vơi tòa soạn báo, mơi trường báo chí, khơng 

làm mất đi logic của mơn học.

c. Điều kiện thực hiện: Giáo viên dạy các mơn lý luận phải ý thức được việc 

lồng ghép các mơn mình đảm nhiệm khi giảng dạy cho sinh viên báo chí, thơng qua 

lấy ví dụ, tình huống gắn với đạo đức nghề nghiệp nhà báo. Làm cho người học hiểu 

được tầm quan trọng của các mơn lý luận đối với nghề nghiệp của mình. Từ đó sinh  

viên có ý thức trau dồi bản thân thơng qua học các mơn lý luận như là một tiền đề, cơ 

sở trang bị kiến thức.

3.3.3. Rèn luyện giáo dục nội dung đạo đức nghề  nghiệp báo chí theo tư  tưởng  

đạo đức Hồ  Chí Minh tập trung vào các chun ngành chủ  yếu như  Triết học,  

Đạo đức học, Luật báo chí, Lịch sử Đảng, Tư tưởng Hồ Chí Minh,…

a. Mục đích, ý nghĩa của biện pháp: Giúp cho sinh viên học và làm theo những 

tư  tưởng đạo đức của Người một cách nhanh nhất thơng qua các mơn học chun 

ngành, gắn lý thuyết với thực tiễn nơi các sinh viên làm việc, viết bài. Những kiến 

thức chun ngành cung cấp cho sinh viên báo chí những giá trị  nghề  thơng qua các  

mơn học lý thuyết và thực hành. Các mơn học chun ngành cung cấp cho người học  

những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, để có thể thực hành và làm việc với nghề.

b. Cách thức tổ  chức: Các mơn học chun ngành là những nội dung học bắt  

buộc của sinh viên báo chí. Khi học những mơn học này sinh viên rất thích thú, vì đó  

là những mơn học gắn với kỹ năng nghề nghiệp.

Đưa ra những câu chuyện về  q trình làm báo của Bác trở  thành các tình 

huống trong giáo dục, để sinh viên xử lý và đưa ra các chính kiến của mình về những  

vấn đề đó.

c. Điều kiện thực hiện: Tài liệu, giáo trình phải được biên soạn đầy đủ, nội 

dung phù hợp với đạo đức nghề báo Việt Nam và những quy tắc làm báo thế giới; Tổ 

chức cách học đa dạng cho sinh viên từ  lý thuyết tới thực hành, cêmina, tình huống, 

tạo ra hứng thú học tập cho sinh viên; Gắn những câu chuyện làm báo của Bác Hồ 

vào trong các tình huống giảng dạy về  luật báo chí và đạo đức nhà báo; Bản thân 

giảng viên và sinh viên phải ý thức được vai trò của các mơn học này, từ việc học các 

mơn học chun ngành sinh viên báo chí phải có ý thức vận dụng và rèn luyện đạo  

đức của bản thân thơng qua cách viết bài và xuống thực tế lấy tin bài.

3.3.4. Lựa chọn, biên soạn một số nội dung cơ bản về tư tưởng đạo đức của Hồ  

Chí Minh làm tài liệu giáo dục đạo đức nghề  nghiệp cho sinh viên báo chí trong  

các hoạt động ngồi giờ lên lớp.

a. Mục đích, ý nghĩa của biện pháp: Giúp sinh viên báo chí được thấm nhuần 

sâu sắc và rèn luyện thường xun những phẩm chất đạo đức cơ  bản và đạo đức  



21

mang tính chất nghề nghiệp theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì sau khi ra trường để hành 

nghề, lập nghiệp khơng dễ gì bị  những tệ  nạn xã hội dễ  dàng lơi cuốn, khơng dễ  gì 

bị sức mạnh đồng tiền của nền kinh tế thị trường che mắt, lạc lối đến hủy hoại nhân  

cách.

b. Tổ  chức thực hiện:  Đảng  ủy, ban giám hiệu nhà trường, phòng giáo dục 

chính trị, cần kết hợp với các khoa nói chung, đặc biệt là các khoa lí luận chun 

giảng dạy các mơn Chủ nghĩa Mác ­ Lênin, chính trị, Lịch sử Đảng, Tư tưởng Hồ Chí 

Minh, khoa Báo chí chọn lọc, biên soạn tập tài liệu “ đạo đức ­ đạo đức nghề nghiệp 

báo chí trong tư  tưởng của Hồ Chí Minh” một cách tóm tắt, cơ đúc, ngắn gọn dùng 

cho giáo viên, sinh viên tham khảo khi lên lớp hoặc trao đổi, tọa đàm trong các buổi 

sinh hoạt thường xun của chi đồn sinh viên và cán bộ  giảng dạy trẻ. Với các nội  

dung, Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng, liêm, cần, kiệm, chính.

c. Điều kiện thực hiện: Để  giúp sinh viên báo chí phát triển được tình cảm 

thiết tha, thái độ  đúng đắn và hành vi cụ  thể  theo những giá trị  đạo đức cốt lõi của  

Hồ  Chí Minh phải thực hiện bằng nhiều con đường, trong đó có con đường học tập 

trên lớp thơng qua các mơn khoa học cơ bản, mơn chun ngành, con đường thực tế,  

thực tập, con đường hoạt động ngồi giờ  lên lớp và sinh hoạt đồn thanh niên đều 

cần thiết.

3.2.5. Giáo dục đạo đức nghề nghiệp thơng qua hoạt động thực tế, kiến thực tập,  

trải nghiệp nhằm nâng cao năng lực tự rèn luyện tự giáo dục

a. Mục đích, ý nghĩa của biện pháp:  Giúp cho SV có điều kiện tiếp xúc với 

người thực, việc thực và họ sẽ có điều kiện trải nghiệm cuộc sống. Để  từ  đó họ  có 

thể viết bài đảm bảo tính khách quan, chân thực.

b.Cách thức tổ chức: Khi thực hiện biện pháp này cần tổ chức có kế hoạch cụ 

thể. Trong q trình học ngồi thời gian kiến và thực tập, cần cho sinh viên tới các tòa  

soạn báo, trao đổi, học hỏi các kỹ năng làm báo.

Nhà trường cần đặt ra những u cầu trong q trình kiến thực tập đó đối với 

sinh viên. Tồ soạn cũng phải có những nhiệm vụ cụ thể u cầu sinh viên phải thực 

hiện để  tránh tình trạng copy bài, xuất hiện theo kiểu hình thức. Cho nên cần có sự 

phối hợp giữa nhà trường với các cơ sở mà sinh viên xuống thực tế.

c. Điều kiện khi thực hiện:  Để  thời gian kiến thực tập thành cơng, trước hết  

Ban giám hiệu nhà trường cần có kế  hoạch cụ  thể  giám sát q trình kiến thực tập 

của sinh viên, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên được học tập và rèn luyện nghề 

nghiệp. Cử  giảng viên, cán bộ  của trường xuống các cơ  sở  đó theo dõi và đánh giá 

q trình học tập và rèn luyện của sinh viên.

Có kế  hoạch về  nguồn kinh phí hỗ  trợ  cho sinh viên trong q trình học tập 

này.

Có kế  hoạch tổ  chức cho sinh viên xuống cơ  sở, thực tế  lấy tin bài phục vụ 

cho hoạt động học tập, cũng như kỹ năng nghề nghiệp mà sinh viên còn thiếu và yếu.

3.3.6. Thơng qua các cuộc toạ đàm, trao đổi, hội thảo với các tấm gương nhà báo  

báo điển hình, người thực việc thực tác động trực tiếp vào q trình hình thành,  

phát triển đạo đức nghề nghiệp báo chí.

a. Mục đích, ý nghĩa của biện pháp:  Mục đích của biện pháp này tạo cơ  hội 



22

cho sinh viên học hỏi và biết được thực tế làm báo có thuận lợi và khó khăn như thế 

nào thơng qua q trình trao đổi, tiếp xúc với các nhà báo điển hình hiện nay. Từ  đó  

giúp cho các em nhận thức sâu sắc hơn tính chất nghề  nghiệp của mình, từ  đó cũng 

cố niềm tin và tình cảm nghề nghiệp cho bản thân.

b. Cách thức tổ chức: Cần giới thiệu cho sinh viên biết hoặc là giao nhiệm vụ 

cho sinh viên tự tìm hiểu về chân dung các nhà báo giỏi trong làng báo. Đưa ra những 

mong muốn của sinh viên về các nhà báo điển hình hiện nay.

Tổ chức cho họ tiếp xúc với các nhà báo giỏi viết về lĩnh vực xã hội tại các tòa 

soạn, hoặc mời họ về nói chuyện.

Mời các nhà báo đến giảng dạy một số  bài trong các mơn chun ngành như: 

đạo đức nghề báo, kỹ năng làm báo, nói chuyện theo các chủ đề khác nhau mà xã hội  

đang quan tâm, đặc biệt nhấn mạnh đến kỹ năng và đạo đức cho nghề báo hiện nay.

Lựa chọn các điển hình phù hợp với với nội dung và chủ đề học tập theo tiến 

trình lịch sử, cả những nhà báo lão thành và những cây viết trẻ xuất sắc hiện nay.

Cần khách quan, cơng bằng đúng mực khi nêu gương, khơng được thổi phồng 

thành tích, hoặc nói q đến những sai phạm.

c. Điều kiện thực hiện: Ban chủ nhiệm khoa cần có kế hoạch cụ thể, mời ai và  

thời gian nào, chủ đề  nói chuyện là gì. Mục đích của hoạt động này là gì? Thời gian  

tổ  chức có thể  tổ  chức gặp tại trường, lớp học nơi diễn ra các hoạt động học tập 

hoặc tổ chức cho sinh viên đến các tồ soạn báo để gặp một cách trực tiếp

Ban giám hiệu cần có sự đồng tình và hỗ trợ về nguồn kinh phí để mời các nhà  

báo điển hình đến nói chuyện, giảng dạy. Hoặc tổ  chức cho sinh viên đến tồ soạn 

để gặp các nhà báo đó.

3.2.7. Đầu tư  cơ  sở  vật chất, trang thiết bị, kinh phí để  tổ  chức các hoạt động  

ngồi giờ lên lớp phong phú có ý nghĩa giáo dục đạo đức nghề nghiệp

a. Mục đích, ý nghĩa của biện pháp:  Biện pháp này nhằm tổ  chức các hoạt 

động phong phú, hấp dẫn lơi cuốn sinh viên báo chí tham gia tích cực. Biến q trình 

giáo dục, rèn luyện thành tự giáo dục, tự rèn luyện, phát huy khả năng chủ động, sáng  

tạo và tích cực góp phần hình thành các phẩm chất đạo đức nghề  nghiệp cho sinh  

viên báo chí.

b. Cách thức tổ chức: ­ Ngồi cơ sở vật chất cần thiết cho hoạt động dạy học 

thì cơng cụ lao động chính, quan trọng nhất của hoạt động dạy học, giáo dục ở  trên 

lớp là micro giảng bài của giáo viên phải đảm bảo âm thanh rõ ràng, trong trẻo, khơng 

thường xun xảy ra tình trạng hỏng hóc, hết pin gây ra nhiều buồn bực cho giáo viên 

khi lên lớp,…

  ­ Nhà trường nói chung, khoa Báo chí nói riêng cần tích cực thực hiện chủ 

trương xã hội hóa giáo dục bằng các biện pháp linh hoạt, phù hợp, huy động nguồn  

lực tự nguyện của các doanh nhân, doanh nghiệp có con em dang học tập ở khoa Báo 

chí xây dựng bổ sung, đổi mới các phương tiện kỹ thuật thơng tin, dạy học cần thiết  

đối với khoa Báo chí.

­ Tổ  chức kết nghĩa, giao lưu với các lớp nhà báo đàn anh đã ra trường đang 

cơng tác  ở  các tòa soạn tài trợ  kinh tế, tài chính hoặc các phương tiện nhằm tăng 

cường các đợt thực tế lấy tin, viết bài theo các chủ điểm cần thiết có ý nghĩa thời sự.



23

c. Điều kiện thực hiện:  Sinh viên phải nhận thức được về  q trình tự  rèn 

luyện của bản thân theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ. Từ tấm gương tự học, tự 

rèn luyện để trở thành một nhà báo tài ba của Hồ Chí Minh, sinh viên báo chí có thể 

tự hào và làm theo tấm gương ấy và biện pháp giáo dục này có ý nghĩa rất quan trọng.

3.3. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp

Kết quả  khảo sát sự  nhận thức về  tính cần thiết và tính khả  thi cho thấy các 

biện pháp đều được sinh viên và lực lượng giáo dục đánh giá là cần thiết với mức độ 

tán thành cao với điểm trung bình từ 3,69 đến 4,1 điểm và có độ khả thi cao với điểm 

trung bình khá tập trung từ  3,54 đến 3,76 điểm. Mức độ  tương quan giữa tính cần 

thiết và tính khả  thi là tương quan thuận, tuy nhiên khơng hồn tồn theo một tỷ  lệ 

như nhau.

3.4. Thực nghiệm sư phạm

3.4.1. Mục đích thực nghiệm

Khẳng định tính hiệu quả  của biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo 

dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên báo chí.

3.4.2. Mẫu khách thể thực nghiệm, địa bàn và thời gian thực nghiệm

3.4.2.1. Mẫu khách thể thực nghiệm

Chúng tơi lựa chọn ngẫu nhiên 2 lớp sinh viên K31 Báo chí của học viện Báo  

chí và Tun truyền bởi hai lớp này có số  lượng giống nhau, điểm chuẩn đầu vào 

tương đương, điểm học lực trung bình có sự chênh lệch khơng đáng kể như bảng trên 

6,67 so với 6,72.

3.4.2.2. Thời gian và các lực lượng tham gia thực nghiệm

­ Các lực lượng tham gia thực nghiệm: Để tiến hành thực nghiệm khoa học cho  

đề  tài luận án, chúng tơi đã nhờ  sự  giúp đỡ, cộng tác của Đảng ủy, Ban giám hiệu;  

Đồn TNCS Hồ  Chí Minh, Hội Sinh viên; Phòng Tổ  chức ­ Cán bộ; Phòng Đào tạo;  

Phòng Cơng tác sinh viên; Ban quản lý Ký túc xá; Khoa Tâm lý ­ Giáo dục; Khoa Lý 

luận chính trị; Khoa Báo chí của Học viện Báo chí và Tun truyền.

­ Thời gian: Học kỳ 1 và 2, năm thứ hai và học kỳ 1 năm thứ 3, từ 4.8.2013 đến 

15.3.2014 đến 10.11. 2014.

3.4.3. Giả thuyết thực nghiệm

Áp dụng các biện pháp sẽ  nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức và đạo đức 

nghề nghiệp cho sinh viên báo chí trong giai đoạn hiện nay.

­ Biến tác động: các biện pháp đã đề xuất ở mục 3.2.

­ Biến phụ  thuộc: Nhận thức, thái độ  và hành vi đạo đức và đạo đức nghề 

nghiệp của sinh viên.

3.4.4. Nội dung thực nghiệm

­ Đánh giá về  mức độ  hiệu quả  của việc sử  dụng các biện pháp vận dụng tư 

tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vào giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên báo chí.

3.4.5. Cách thức tiến hành thực nghiệm

Chúng tơi tiến hành thực nghiệm theo 5 bước với 3 lần đo để đánh giá mức độ 

hiệu quả của các biện pháp về sự thay đổi nhận thức của sinh viên.

3.4.6. Kết quả thực nghiệm



24

Kết quả  thực nghiệm cho thấy nhận thức của sinh viên báo chí về  nội dung 

giáo dục đạo đức nghề  nghiệp (các phẩm chất đạo đức nghề  nghiệp) của sinh viên 

tốt lên trơng thấy sau mỗi lần đo. Nhận thức của sinh viên lớp thực nghiệm tăng từ 

1,27/3 lên 2,25/3. Mức độ  nhận thức tốt cũng tăng một cách mạnh mẽ  sau 2 lần đo 

sau thực nghiệm từ 4% lên 36,5% sinh viên.



KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Những kết luận

1.1.  Giáo dục đạo đức nghề  nghiệp cho sinh viên báo chí là làm thay đổi  

nhận thức, thái độ, hành vi của họ trong q trình học tập và tác nghiệp sau khi  

ra trường.

Quy trình đào tại và giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên báo chí hiện  

nay tại các trường đào tạo báo chí đã có những kết quả khả quan. Tuy nhiên q trình 

đào tạo vẫn còn những hạn chế  dưới tác động của mặt trái nền kinh tế  thị  trường  

hiện nay.

Nội dung tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh là hết sức rộng lớn, bao qt trên  

nhiều lĩnh vực, trong đó đạo đức nghề nghiệp đối với nhà báo có ý nghĩa hết sức sâu 

sắc.

1.2. Qua nghiên cứu thực trạng đào tạo sinh viên báo chí nói chung và cơng tác  

GDĐĐNN cho sinh viên báo chí  ở  một số  trường đào tạo báo chí, chúng tơi nhận 

thấy:

­ Cơng tác GDĐĐNN cho SVBC đã đạt được những kết quả  nhất định. Đó là 

đào tạo nên những nhà báo có đủ  những phẩm chất NN và năng lực NN đáp  ứng 

được những đòi hỏi của xã hội và NN, thực hiện quan điểm và đường lối giáo dục  

của Đảng, góp phần vào sự nghiệp CNH­HĐH đất nước. Tuy nhiên, do nhiều ngun  

nhân chủ quan và khách quan, cơng tác GDĐĐNN cho SVBC vẫn còn những hạn chế 

nhất định, thể  hiện: Một bộ  phận SVBC, với tư  cách là “sản phẩm” của cơng tác 

GDĐĐNN, chạy theo lối sống thực dụng, coi thường các giá trị tinh thần, đề cao các 

giá trị vật chất, chưa tiếp thu được giá trị truyền thống “mắt sáng, lòng trong, bút sắc  

” và những tấm gương của nhà báo lão thành của dân tộc; ngay còn ngồi trên ghế nhà  

trường đã thể hiện quyền lực của nghề nghiệp bằng việc “vòi vĩnh” trong q trình  

tác nghiệp, khơng trung thực trong học hành và rèn luyện bản thân: nói dối, coppy bài  

viết và thiếu sự sang tạo trong nghề nghiệp. Một bộ phận LLGD th ực hi ện cơng tác 

GDĐĐNN cho SVBC một cách đối phó, thiếu sáng tạo, hiệu quả  thấp, quá đề  cao 

mặt kỹ năng mà quên đi mặt trau đồi tri thức và đạo đức. Khó khăn

­   Một   bộ   phận   các   LLGD   (50%)   có   nhận   thức   ở   mức   độ   tốt   về   vấn   đề 

GDĐĐNN cho SVBC theo tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh, mức độ rất cần thiết  

chiếm 35%, mức độ ít cần thiết chiếm 15%. Như vậy đa số LLGD có nhận thức tốt 

về  việc vận dụng tư  tưởng đạo đức của Hồ  Chí Minh vào giáo dục đạo đức nghề 

nghiệp cho sinh viên báo chí và mức độ sử dụng thường xun chiếm 35%. Với tỉ lệ 



25

này cho thấy, việc vận dụng các giá trị đạo đức của tư tưởng Hồ Chí Minh đã bước 

đầu được vận dụng và đem lại kết quả khả quan. Nếu được vận dụng thường xun 

hơn thì việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên báo chí hiệu quả tăng lên.

­ Việc sử dụng các biện pháp GDĐĐNN ở  trường báo chí chỉ   ở mức độ  trung 

bình­khá; nội dung và cách thức thực hiện các biện pháp còn chậm được đổi mới;  

thiếu sự chỉ đạo về  chun mơn khi thực hiện các biện pháp; việc nghiên cứu và áp  

dụng các biện pháp mới đơi khi chỉ có tính chất đối phó; thiếu sự phối hợp chặt chẽ 

của các LLGD; hiệu quả sử dụng các biện pháp còn thấp

1.3. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và điều tra thực trạng GDĐĐNN cho SVBC 

ở hai trường đào tạo báo chí chun nghiệp đại diện cho khu vực miền bắc, Luận án  

Tiến sỹ đã đề xuất 7 biện pháp GDĐĐNN mới cho SVBC. Ở mỗi biện pháp chúng tơi 

trình bày rõ ràng, chi tiết từ mục đích ý nghĩa, cách thức thực hiện đến các điều kiện 

cụ thể để thực hiện biện pháp đó.

Căn cứ  vào thực tế  luận án đã thực nghiệm sư  phạm một số  biện pháp tiêu 

biểu và bước đầu đạt được kết quả  khả  quan, đảm bảo tính khoa học, tính khả  thi  

cao.

2. Những kiến nghị

2.1. Đối với Bộ  giáo dục và đào tạo:  Cần ban hành quy chế  văn bằng và 

chứng chỉ chặt chẽ hơn trong q trình đào tạo đối với các cơ sở đào tạo báo chí hiện  

nay. Những nội dung mơn học chun ngành cần tăng cường nội dung đạo đức nghề 

nghiệp. Có quy chế u cầu đạt chuẩn nghề nghiệp đối với ngành báo chí.

2.2. Đối với Bộ Thơng tin và truyền thơng: Cần tăng cường cơng tác quản lý, 

giáo dục ĐĐNN cho giáo viên và SVBC. Trước sự  suy thối về  ĐĐNN của một bộ 

phận nhỏ  nhà báo và sinh viên báo chí q đề  cao giá trị  của tấm thẻ  nhà báo, Bộ 

Thơng tin và truyền thơng cần ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để quy định  

một cách cụ  thể, rõ ràng và chi tiết về  ĐĐNN của nghề  báo một cách cụ  thể  hơn  

cùng với những quy ước về luật báo chí.

2.3. Đối với các trường báo chí:  Các trường  phải nhận thức đúng đắn tầm 

quan trọng của cơng tác GDĐĐNN cho SVBC theo tư  tưởng đạo đức của Hồ  Chí 

Minh, vì cơng tác này là nhân tố quyết định chất lượng đào tạo cán bộ báo chí, cán bộ 

báo chí khơng chỉ có kỹ năng viết báo mà phải có tâm, đức với nghề, như mong muốn 

của Bác, Người khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam. Báo chí là để phục vụ 

nhân dân

Khơng ngừng nâng cao trình độ, nghiệp vụ của đội ngũ giảng viên báo chí. Vì 

đội ngũ này là lực lượng quan trọng và trực tiếp quyết định chất lượng đào tạo của 

các trường báo chí, mà nhân cách của họ hàng ngày, hàng giờ ảnh hưởng tới bộ mặt 

nhân cách của SVBC. Đội ngũ LLGD trình độ thấp sẽ ảnh hưởng tới chất lượng sản  

phẩm đội ngũ cán bộ báo chí sau này và ảnh hưởng đến tồn bộ đời sống xã hội với  

những nhà báo: “đức khơng trong, tâm khơng sáng”

2.4.   Đối   với   các   tổ   chức   xã   hội:  Thực   hiện   việc   xã   hội   hố   cơng   tác 

GDĐĐNN sẽ tạo ra những động lực mới cho cơng tác đào tạo phóng viên, báo chí vì 

nó đưa đến những tác động đồng bộ, cộng hưởng tới bộ  mặt nhân cách của SVBC. 

Rất nhiều tổ  chức và đồn thể  có thể  đóng góp cho cơng tác GDĐĐNN như: các cơ 



26

quan Báo chí, đài truyền hình, truyền thanh, dư luận xã hội, các cơ quan giáo dục, cơ 

quan văn.

2.5. Đối với sinh viên báo chí: Phải nhận thức đầy đủ sâu sắc vai trò, vị trí rất  

được trân trọng của nghề báo chí đối với xã hội, để từ đó thấy thường xun phải nổ 

lực biến q trình giáo dục và đào tạo thành q trình tự giáo dục, tự đào tạo để tiến 

bước kịp với sự phát triển chung của xã hội. Giữ vững lập trường, tư tưởng, đạo đức 

như  chủ  tịch Hồ  Chí Minh đã nhắc người cán bộ  cách mạng: “vì nước qn thân vì 

dân phục vụ”.

CÁC CƠNG TRÌNH KHOA HỌC ĐàCƠNG BỐ

1.  Nguyễn Thanh Nga (2011), Một số quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về q  

trình giáo dục, Tạp chí Quản Lý Giáo Dục, Tháng 6/2011.

2.  Nguyễn Thanh Nga (2011) Từ  tư  tưởng Hồ  Chí Minh về  hội nhập trong giáo dục  

đến tình hình hợp tác đào tạo Việt ­ Mỹ, Tạp chí Giáo Dục số 1, tháng 7/2011.

3.  Nguyễn Thanh Nga (2011),  Vận dụng một số  quan điểm của Chủ  tịch Hồ  Chí  

Minh về  q trình giáo dục trong thời kỳ  hiện nay , Tạp chí Quản lý Giáo dục, 

Tháng 8/2011.

4.  Nguyễn Thanh Nga (2012), Ảnh hưởng tiêu cực của kinh tế  thị  trường vào việc  

giáo dục đạo đức nghề  nghiệp cho sinh viên báo chí, Tạp chí Giáo dục số  2, 

tháng 11/ 2012.

5.  Nguyễn Thanh Nga (2014),  Một số định hướng vận dụng tư tưởng giáo dục đạo  

đức nghề  nghiệp báo chí của chủ  tịch Hồ  Chí Minh trong các trường đào tạo  

báo chí, Tạp chí Giáo dục kỳ 1, Tháng 1/2014.

6.  Nguyễn Thanh Nga (2015)  Thực trạng giáo dục đạo đức nghề  nghiệp cho sinh  

viên báo chí theo tư  tưởng đạo đức Hồ  Chí Minh, Tạp chí giáo dục kỳ  2, tháng 

2/2015.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

a. Mục đích, ý nghĩa của biện pháp:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×