Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Cấu trúc quần xã ve giáp liên quan đến loại đất và chế độ bón phân

3 Cấu trúc quần xã ve giáp liên quan đến loại đất và chế độ bón phân

Tải bản đầy đủ - 0trang

88



trúc quần xã ve giáp [113]. Điều đó gợi ý rằng ở các loại đất khác nhau, cấu trúc

quần xã ve giáp sẽ có những biến đổi nhất định. Việc nghiên cứu, so sánh cấu trúc

quần xã ve giáp ở các loại đất khác nhau cũng đã được thực hiện ở Việt Nam, tuy

nhiên nghiên cứu này vẫn còn chưa đầy đủ. Nhằm góp phần bổ sung dẫn liệu cho

vấn đề này, nghiên cứu này tập trung một phần vào ảnh hưởng của loại đất lên cấu

trúc quần xã ve giáp.

Quần xã ve giáp ở vùng đồng bằng sông Hồng được nghiên cứu định lượng

trên 4 loại đất, bao gồm: đất phù sa chua mặn ven biển, đất phù sa trung tính, đất

feralit mùn vàng đỏ trên núi và đất xám bạc màu. Thành phần loài của quần xã ve

giáp ở 4 loại đất được phân tích từ các số liệu đính tịnh và định lượng. Các chỉ số

định lượng được phân tích từ số liệu thu được ở các mẫu định lượng.

Từ sốliệu bảng 3.1 cho thấy số lượng lồi ve giáp trên mỗi nhóm đất giảm

theo thứ tự: đất phù sa trung tính (179 lồi) > đất feralit mùn vàng đỏ trên núi (178

loài) > đất phù sa chua mặn ven biển (86 loài) > đất xám bạc màu (78 loài). Số

lượng loài của quần xã trên đất phù sa trung tính và đất feralit mùn vàng đỏ trên núi

không chênh lệch nhau nhiều nhưng lớn hơn số lượng lồi của quần xã trên 2 loại

đất còn lại.

Phân tích thành phần lồi của quần xã ở 4 loại đất cho thấy, có 28 lồi ve giáp

(chiếm 10,98% tổng số lồi trên 4 nhóm đất) cùng xuất hiện ở cả 4 loại đất, bao

gồm: E. cylindrica cylindrica, J. kuehnelti, E. avenifer, E. capitata, M. tamdao, A.

arcualis arcualis, T. minor, T. velatus, Tectocepheus sp.1, B. auxiliaris, S. elegans, S.

fimbriatus africanus, S. laevigatus, S. praeincisus, B. heterodactylus, B. praeincisus,

P. brevisetosus, P. guehoi, P. vermiseta, P.lophothrichus, P.



monodactylus,



P.paracapucinus, P. bipilis, P. duoseta, P. maximus, T. trimorphus, D. azumai, G.

flabellifera orientalis. Trong đó, có 6 loài (chiếm 22,22% số loài xuất hiện ở cả 4

loại đất) thuộc họ Scheloribatidae. Đây là một họ lớn và phân bố rộng trong

nghiên cứu này. Các loài trong họ có mặt trên tất cả các sinh cảnh và các loại đất

được nghiên cứu trong khu vực. Nhìn chung, các lồi ve giáp phân bố rộng thuộc

các nhóm ve giáp bậc cao nhiều hơn các nhóm bậc thấp.



89



Phân tích số liệu từ bảng 3.1 cho thấy, có 125 lồi ve giáp (chiếm 44,17% tổng

số loài ở 4 loại đất) chỉ xuất hiện trên một loại đất. Trong đó, có 15 lồi chỉ có mặt

trên đất chua mặn ven biển (chiếm 17,24% tổng số loài ở 4 loại đất), 51 lồi chỉ có

mặt trên đất phù sa trung tính (chiếm 30,18% tổng số loài trên loài trên loại đất này,

28 lồi ve giáp chỉ có mặt trên đất feralit mùn vàng đỏ trên núi (chiếm 18,18% tổng

số loài trên loại đất này) và 15 lồi ve giáp chỉ có mặt trên đất xám bạc màu (chiếm

19,74% tổng số loài trên loại đất này). Ở 4 loại đất nghiên cứu, quần xã ve giáp ở

đất phù sa trung tính có số lượng loài đặc trưng nhiều nhất và tỷ lệ loài đặc trưng

cao nhất. Đây cũng là loại đất mà ở đó quần xã ve giáp được xác định có số lượng

loài lớn nhất.

Bảng 3.10: Hệ số tương đồng thành phần loài của quần xã ve giáp ở 4 loại đất

nghiên cứu

(i)

(i)

(ii)

(iii)

(iv)



45,07

52,31

37,04



(ii)

60,61

37,25



(iii)



(iv)



44,09



Ghi chú: (i): đất phù sa chua mặn ven biển, (ii): phù sa trung tính, (iii): đất

feralit mùn vàng đỏ trên núi, (iv): đất xám bạc màu

Độ tương đồng: S17 hệ số tương đồng Bray – Curtis



90



Hình 3.11: Biểu đồ tương đồng của hệ số tương đồng thành phần loài của quần

xã ve giáp ở 4 loại đất nghiên cứu

Ghi chú: (i): đất phù sa chua mặn ven biển, (ii): phù sa trung tính, (iii): đất

feralit mùn vàng đỏ trên núi, (iv): đất xám bạc màu

Bảng 3.10 và hình 3.11 thể hiện sự tương đồng về thành phần loài của quần xã

ve giáp ở 4 loại đất nghiên cứu dựa trên sự phân tích thành phần lồi ve giáp xác

định được trên cả mẫu định tính và định lượng ở mỗi loại đất. Từ những số liệu này

cho thấy, hệ số tương đồng thành phần loài của quần xã ve giáp ở 4 loại đất nghiên

cứu nằm trong khoảng từ 37,04% đến 60,61%. Hệ số tương đồng thành phần loài

của quần xã ve giáp giữa các loại đất khác nhau chênh lệch nhiều hơn so với hệ số

tương đồng của quần xã ve giáp ở các loại sinh cảnh khác nhau. Quần xã ve giáp ở

đất phù sa trung tính và quần xã ve giáp ở đất feralit mùn vàng đỏ trên núi có hệ số

tương đồng về thành phần loài cao nhất (60,61%). Quần xã ve giáp trên đất xám bạc

màu có thành phần lồi khác biệt nhiều nhất. Như vậy qua phân tích ở những số liệu

định tính cho thấy quần xã ve giáp ở đất phù sa trung tính và đất feralit mùn vàng

đỏ trên núi có thành phần loài gần nhau nhất.

Như vậy qua những phân tích ban đầu cho thấy, ở mỗi loại đất, quần xã ve

giáp có những đặc trưng riêng về đa dạng thành phần loài và thể hiện rõ nhất ở

thành phần nhóm lồi đặc trưng. Đây là những khác biệt mang tính chất định tính,

để làm rõ hơn những biến đổi cụ thể trong quần xã qua 4 nhóm đất, cần phân tích cụ

thể hơn ở những số liệu định lượng.

3.3.2. Mật độ cá thể trung bình và cấu trúc nhóm loài ưu thế của quần xã ve giáp

ở 4 loại đất

Mật độ cá thể trung bình và của quần xã ve giáp ở 4 loại đất

Tiến hành phân tích, so sánh mật độ cá thể trung bình của quần xã ve giáp ở 4

loại đất qua các mẫu định lượng thu được. Qua phân tích các mẫu định lượng đã xác

định được 193 loài ve giáp, thuộc 88 giống và phân giống, 42 họ. Số lượng loài

định lượng trên mỗi nhóm đất giảm theo thứ tự: đất phù sa trung tính (107 lồi) >



91



đấtferalitmùn vàng đỏ trên núi (104 lồi) > đất xám bạc màu (74 loài) > đất phù sa

chua mặn ven biển (65 lồi).

Biểu đồ hình 3.12 thể hiện sự so sánh mật độ cá thể trung bình của quần xã ve

giáp ở 4 loại đất nghiên cứu. Mật độ cá thể trung bình của quần xã ve giáp ở 4 loại

đất giảm theo thứ tự: đất phù sa trung tính (6313 cá thể/m 2) > đất chua mặn ven biển

(4676 cá thể/m2) > đất feralit mùn vàng đỏ trên núi (3100 cá thể/m2) > đất xám bạc

màu (3050 cá thể/m2). Thứ tự này không trùng lặp với sự thay đổi của số lượng loài

qua các loại đất.



Mật độ trung bình

7000



6313



6000

5000

Cá thể/m2



4000



3507



3000



3100



3050



(iii)



(iv)



2000

1000

0

(i)



(ii)

Nhóm đất



Hình 3.12: Mật độ cá thể trung bình của quần xã ve giáp ở 4 loại đất nghiên cứu



92



Ghi chú: (i): đất phù sa chua mặn ven biển, (ii): phù sa trung tính, (iii): đất

feralit mùn vàng đỏ trên núi, (iv): đất xám bạc màu

Trong 4 loại đất nghiên cứu, ở đất phù sa trung tính, quần xã có mật độ cá thể

trung bình lớn nhất, lớn hơn 2 lần mật độ cá thể trung bình của quần xã ve giáp trên

đất xám bạc màu và đất feralit mùn vàng đỏ trên núi . Đây là loại đất mà quần xã ve

giáp trên đó có số lượng lồi xác định được lớn nhất. Điều đó cho thấy đất phù sa

trung tính phù hợp cho quần xã ve giáp phát triển cả về số lượng loài và số lượng cá

thể trong quần xã.

Mặc dù quần xã ve giáp trên đất chua mặn ven biển có số lượng lồi ít nhất

nhưng mật độ cá thể trung bình của quần xã trên loại đất này cao hơn mật độ cá thể

trung bình của quần xã ve giáp trên đất xám bạc màu và đất feralit mùn vàng đỏ trên

núi. Tuy nhiên sự chênh lệch này không nhiều. Điều này chứng tỏ rằng so với các

loại đất khác, quần xã ve giáp ở đất chua mặn ven biển hạn chế về đa dạng loài

nhưng các loài trong quần xã lại phát triển số lượng cá thể khá tốt.

Mật độ cá thể trung bình của quần xã ve giáp ở đất feralit mùn vàng đỏ trên

núi và đất xám bạc màu thấp hơn quần xã ve giáp trên 2 loại đất còn lại và chênh

lệch nhau khơng nhiều. Mặc dù quần xã ve giáp trên đất feralit mùn vàng đỏ trên

núi và đất phù sa trung tính có số lượng lồi chênh lệch khơng nhiều (3 lồi) nhưng

mật độ cá thể lại chênh lệch nhau rất lớn (3213 cá thể/m 2). Do đó có thể đánh giá

rằng đất feralit mùn vàng đỏ trên núi phù hợp cho nhiều lồi thích nghi, tuy nhiên

lại tồn tại yếu tố hạn chế về số lượng cá thể của quần xã. Yếu tố hạn chế này có thể

phán đốn là thành phần và lượng thức ăn trong mơi trường đất.

Như vậy qua phân tích mật độ cá thể trung bình của quần xã ve giáp đã làm rõ

hơn sự biến đổi cấu trúc quần xã ve giáp qua các loại đất. Mật độ cá thể của quần xã

không phụ thuộc đơn thuần vào số lượng loài mà phụ thuộc nhiều vào sự phát triển

số lượng cá thể của loài. Quần xã ve giáp trên đất phù sa trung tính được đánh giá

đa dạng nhất về thành phần lồi và có mật độ cá thể cao nhất. Ở 3 loại đất còn lại,

quần xã ve giáp thể hiện sự chênh lệch về số lượng loài nhiều hơn sự chênh lệch về

mật độ cá thể.



93



Cấu trúc nhóm loài ưu thế của quần xã ve giáp ở 4 loại đất

Bảng 3.11: Cấu trúc nhóm lồi ưu thế của quần xã ve giáp ở các loại đất nghiên

cứu

Loài ưu thế

1. Mesoplophora michaeliana

2. Plateremaeus sp.

3. Furcoppia sp.

4. Congoppia deboissezoni

5. Scheloribates elegans

6. Bischeloribates heterodactylus

7. Bischeloribates praeincisus

8. Protoribates monodactylus



9. Protoribates paracapucinus

10. Galumna flabellifera orientalis



(i)



Độ ưu thế (%)

(ii)

(iii)

8,55

9,68



(iv)



6,84

12,36

9,51

6,84

6,65

8,94

5,51



10,48

17,85



17,41



9,18



5,81



Ghi chú: (i): đất phù sa chua mặn ven biển, (ii): phù sa trung tính, (iii): đất

feralit mùn vàng đỏ trên núi, (iv): đất xám bạc màu

Từ số liệu bảng 3.11 cho thấy, ở 4 loại đất nghiên cứu, đã xác định được tổng số

10 loài ưu thế. Các loài ưu thế nằm rải rác trong các nhóm phân loại từ thấp đến cao.

Họ scheloribatidae có nhiều loài ưu thế nhất (3 loài). Quần xã ve giáp trên mỗi loại

đất có từ 2 đến 6 lồi ưu thế. Quần xã ve giáp trên đất chua mặn ven biển mặc dù có

số lượng lồi ít nhất nhưng lại có nhiều lồi ưu thế nhất. Ngược lại quần xã ve giáp

trên đất phù sa trung tính có số lượng lồi nhiều nhất nhưng lại có ít lồi ưu thế nhất.



94

Đất chua mặn ven biển

50

45

40

Độ ưu thế (%)



35

30

25

20

12.36



15

10

5



5.51



6.65



6.84



6.84



9



7



3



6



8.94



0



8



4



Loài ưu thế



Đất phù s a trung tính

50

45

40

Độ ưu thế (%)



35

30

25



17.85



20

15

10



5.81



8.55



5

0



10



1

Lồi ưu thế



8



95



96

Đất xám bạc màu

50

45

40

Độ ưu thế (%)



35

30

25

20

15

10



9.18



9.51



8



5



5

0



Loài ưu thế



Đất feralit mùn

vàng đỏ trên núi

50

45



Độ ưu thế (%)



40

35

30

25



17.41



20

15

10



9.68



10.48



2



6



5

0



Lồi ưu thế



8



97



Hình 3.13: Cấu trúc nhóm lồi ưu thế của quần xã ve giáp ở 4 loại đất nghiên cứu

Chú thích: 1. M. michaeliana, 2. Plateremaeus sp., 3. Furcoppia sp., 4. C.

deboissezoni, 5. S. elegans, 6. B. heterodactylus, 7. B. praeincisus, 8. P. monodactylus, 9.

P. paracapucinus, 10. G. flabellifera orientalis



P. monodactylus là loài duy nhất ưu thế trên cả 4 loại đất nghiên cứu và B.

heterodactylus là loài duy nhất ưu thế trên 2 trong số 4 loại đất nghiên cứu. Có 8

lồi (chiếm 80% tổng số loài ưu thế) chỉ ưu thế trên một loại đất mà khơng ưu thế

trên các nhóm đất còn lại.

Hình 3.13 bao gồm các biểu đồ thể hiện cấu trúc nhóm lồi ưu thế của quần xã

ve giáp ở từng loại đất nghiên cứu. Phân tích số liệu từ bảng 3.11 và hình 3.13 cho

thấy, quần xã ve giáp ở đất phù sa chua mặn ven biển có 6 lồi ưu thế (chiếm 9,23%

số lồi của quần xã trên loại đất này), trong đó có 4 lồi chỉ ưu thế trên đất này mà

không ưu thế trên các loại đất còn lại. Độ ưu thế của các lồi ưu thế nằm trong

khoảng từ 5,51% đến 12,36%. Có 5 loài ở mức ưu thế và 1 loài ở mức rất ưu thế.

Loài ưu thế nhất của quần xã trên loại đất này là loài C. deboissezoni. Mức chênh

lệch lớn nhất về độ ưu thế giữa các loài ưu thế là 6,85%. Ở loại đất này, mơi trường

có tính chuyên hóa do đất bị nhiễm mặn, đây được phán đoán là yếu tố hạn chế đối

với sự đa dạng thành phần lồi trong quần xã. Tuy nhiên ở đó vẫn hình thành nhóm

lồi thích nghi phát triển tương đối ổn định.

Quần xã ve giáp ở đất phù sa trung tính có 3 lồi ưu thế (chiếm 2,80% tổng số

lồi định lượng trên loại đất). Độ ưu thế của các loài ưu thế nằm trong khoảng từ

5,81% đến 17,85%. Mức chênh lệch lớn nhất về độ ưu thế giữa các lồi ưu thế của

quần xã là 12,04%. Có 2 lồi ở mức ưu thế và 1 loài ở mức rất ưu thế. Loài ưu thế

nhất của quần xã ve giáp trên loại đất này là loài P. monodactylus.Đây là loài duy



98



nhất ưu thế ở cả 4 loại đất và ở mức rất ưu thế ở 2 trong tổng số 4 loại đất này. Quần

xã ve giáp ở đất phù sa trung tính đa dạng thành phần lồi nhất nhưng quần xã lại có

tỷ lệ lồi ưu thế tương đối thấp. Tuy nhiên mức chênh lệch về độ ưu thế giữa các lồi

ưu thế lớn nhất, do đó cấu trúc nhóm loài ưu thế của quần xã kém ổn định nhất.

Quần xã ve giáp ở đất feralit mùn vàng đỏ trên núi có 3 lồi ưu thế (chiếm

2,86% tổng số lồi định lượng trên loại đất này). Độ ưu thế của các loài ưu thế nằm

trong khoảng từ 9,68% đến 17,41%. Mức chênh lệch lớn nhất về độ ưu thế giữa các

lồi ưu thế là 7,73%. Có 1 lồi ở mức ưu thế và 2 loài ở mức rất ưu thế. Loài ưu thế

nhất trên loại đất này là loài P. monodactylus. Đây cũng là loài ưu thế vượt trội trên

đất phù sa trung tính. So sánh các nhóm lồi ưu thế của quần xã ve giáp ở 4 loại đất

nghiên cứu thì nhóm lồi ưu thế của quần xã trên loại đất này có mức ưu thế trung

bình khá cao. Quần xã ve giáp trên đất feralit mùn vàng đỏ trên núi có cấu trúc

nhóm lồi ưu thế ổn định hơn quần xã ở đất phù sa trung tính nhưng lại kém ổn định

hơn quần xã 2 loại đất còn lại.

Phân tích số liệu từ hình 3.13 cho thấy, quần xã ve giáp trên đất xám bạc màu

có 2 lồi ưu thế (chiếm 2,70% tổng số loài định lượng trên loại đất này). Cả 2 loài

này đều nằm ở mức ưu thế. Mức chênh lệch về độ ưu thế giữa 2 lồi ưu thế khơng

đáng kể (0,33%). Do đó, quần xã ve giáp trên đất xám bạc màu có nhóm loài ưu thế

đồng đều nhất trong số 4 loại đất nghiên cứu.

Như vậy, qua phân tích số liệu bảng 3.11 và hình 3.13 cho thấy, cấu trúc nhóm

ưu thế là đặc trưng cho quần xã ve giáp trên mỗi loại đất nghiên cứu. Rất ít có sự

trùng lặp về thành phần loài ưu thế giữa các quần xã ve giáp ở 4 loại đất này. Đối

với lồi trùng lặp thì mức độ ưu thế trên mỗi loại đất là khác nhau. Những sự khác

biệt này tạo ra tính đặc trưng cho quần xã trên mỗi loại đất. Nhóm lồi ưu thế của

quần xã ve giáp ở mỗi loại đất có mức độ ổn định khác nhau và được đánh giá ổn

định nhất ở quần xã trên đất xám bạc màu. Ở đất chua mặn ven biển, mặc dù môi

trường tồn tại yếu tố hạn chế đối với sự đa dạng thành phần lồi nhưng trong quần

xã vẫn hình thành nhóm lồi thích nghi phát triển tương đối ổn định. Nhóm lồi này

phần lớn thuộc nhóm phân loại bậc cao và phân bố rộng. Những khác biệt được



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Cấu trúc quần xã ve giáp liên quan đến loại đất và chế độ bón phân

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×