Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chỉ số đa dạng Shannon - Wiener (H’) của quần xã ve giáp ở 4 sinh cảnh

Chỉ số đa dạng Shannon - Wiener (H’) của quần xã ve giáp ở 4 sinh cảnh

Tải bản đầy đủ - 0trang

83

Chỉ số đa dạng H'

5

4.5

4



3.93



3.5



3.73



3.64



CLN



CNN



3.21



3

2.5

2

1.5

1

0.5

0



RT



TCCB

Sinh cảnh



Hình 3.9: Chỉ số đa dạng (H’) của quần xã ve giáp trên các sinh cảnh

Chú thích: RT: rừng trồng, TCCB: trảng cỏ cây bụi, CLN: đất trồng cây lâu

năm, CNN: đất trồng cây ngắn ngày

So sánh quần xã ve giáp ở đất trồng cây lâu năm và trảng cỏ cây bụi cho thấy,

quần xã ve giáp trên đất trảng cỏ cây bụi có số lượng loài lớn hơn. Tuy nhiên, do

quần xã ở đất trồng cây lâu năm phát triển đồng đều đều hơn nên quần xã trên đất

trồng cây lâu năm đa dạng hơn. Chỉ số đa dạng H’ không chỉ phụ thuộc vào số



84



lượng lồi trong quần xã mà còn phụ thuộc vào sự cân bằng về số lượng cá thể giữa

các loài trong quần xã. Sự thay đổi của chỉ số H’ của quần xã vle giáp qua các sinh

cảnh cùng chiều với sự thay đổi của chỉ số J’ mà khơng tương ứng với sự thay đổi

số lượng lồi của quần xã qua các sinh cảnh. Điều đó chứng tỏ rằng sự phát triển

đồng đều của quần xã hay mức độ cân bằng giữa các lồi trong quần xã đóng vai trò

quyết định quan trọng đối với độ đa dạng của quần xã.

3.2.5. Sự tương đồng của quần xã ve giáp ở 4 loại sinh cảnh

Bảng 3.9 trình bày hệ số tương đồng của quần xã ve giáp ở 4 sinh cảnh

nghiên cứu.

Bảng 3.9: Hệ số tương đồng của quần xã ve giáp trên 4 sinh cảnh nghiên cứu

Sinh cảnh

RT

TC - CB

CLN

CNN



RT



TC - CB



CLN



28,10

28,68

28,91



42,53

40,65



42,25



CNN



Chú thích: RT: rừng trồng, TCCB: trảng cỏ cây bụi, CLN: đất trồng cây lâu

năm, CNN: đất trồng cây ngắn ngày

Độ tương đồng: S17 hệ số tương đồng Bray – Curtis



85



Hình 3.10: Biểu đồ tương đồng của cấu trúc quần xã ve giáp trên các sinh cảnh

nghiên cứu

Chú thích: RT: rừng trồng, TCCB: trảng cỏ cây bụi, CLN: đất trồng cây lâu

năm, CNN: đất trồng cây ngắn ngày

Qua bảng 3.9 và hình 3.10 cho thấy hệ số tương đồng của quần xã ve giáp ở 4

sinh cảnh nghiên cứu nằm trong khoảng từ 28,10% đến 42,53%. Quần xã ve giáp ở

sinh cảnh trảng cỏ cây bụi và ở đất trồng cây lâu năm có mức độ tương đồng lớn

nhất (42,53%). Quần xã ve giáp ở đất trồng cây ngắn ngày và đất trồng cây lâu năm

có tỷ lệ tương đồng khá cao (42,25%). Hệ số tương đồng giữa quần xã ve giáp ở đất

trồng cây ngắn ngày và trảng cỏ cây bụi là 40,65%. Quần xã ve giáp ở rừng trồng và

trảng cỏ cây bụi kém gần gũi nhất, với hệ số tương đồng là 28,10%. Nhìn chung,

mức độ tương đồng theo cặp của quần xã ve giáp ở 3 sinh cảnh trảng cỏ cây bụi, đất

trồng cây ngắn ngày và đất trồng cây lâu năm khá cao và tương đương nhau. Quần

xã ve giáp ở rừng trồng tách biệt nhất, tỷ lệ tương đồng với quần xã ve giáp ở các

sinh cảnh khác đều nhỏ hơn 30%.

Mức độ tương đồng của quần xã ve giáp ở các sinh cảnh với nhau giảm theo

thứ tự: trảng cỏ, cây bụi - cây lâu năm > cây lâu năm - cây ngắn ngày > trảng cỏ, cây

bụi - cây ngắn ngày > rừng trồng - cây ngắn ngày > rừng trồng - cây lâu năm > rừng

trồng - trảng cỏ, cây bụi. Mức độ tương đồng của quần xã ve giáp ở 3 sinh cảnh trảng

cỏ, cây bụi, đất trồng cây lâu năm và đất trồng cây ngắn ngày dường như thể hiện xu

hướng ở các sinh cảnh chịu tác động của con người ở mức độ càng gần nhau thì quần

xã ve giáp càng có độ tương đồng cao. Tuy nhiên, khi đánh giá mức độ gần gũi của

quần xã ve giáp ở sinh cảnh rừng trồng với quần xã ve giáp ở các sinh cảnh còn lại thì

cho thấy một chiều hướng ngược lại. Điều đó chứng tỏ rằng, hoạt động nhân tác gây

ảnh hưởng như thế nào lên quần xã ve giáp không chỉ phụ thuộc vào mức độ mà còn

có thể phụ thuộc vào loại hình và cách thức tác động. Ngồi những ảnh hưởng trực

tiếp, các hoạt động canh tác có thể gây ảnh hưởng gián tiếp, đặc biệt thông qua sự ảnh

hưởng lên khu hệ thực vật. Do đó để xác định được chính xác vấn đề này cần cần

phải nghiên cứu cụ thể, tỉ mỉ và quan tâm đến nhiều yếu tố.



86



3.2.6. Sơ bộ nhận xét và kết luận

Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về quần xã ve giáp trên các sinh cảnh, đặc

biệt là các sinh cảnh rừng và đã thu được nhiều kết quả có ý nghĩa. Trong đó có thể

kể đến nghiên cứu ảnh hưởng của sự đa dạng vi sinh cảnh và sự phân cắt địa lý đến

quần xã ve giáp ở rừng ngập mặn tại đảo Ryukyu (Nhật Bản) của Karasawa (2004)

[131]. Kết quả nghiên cứu này đã chỉ ra rằng quần xã ve giáp chịu ảnh hưởng của

nhân tố vi sinh cảnh nhiều hơn sự phân cắt về địa lý.

Theo kết quả của nghiên cứu này, cấu trúc quần xã ve giáp ở mỗi loại sinh

cảnh đều có những đặc trưng riêng, thể hiện qua số lượng loài, thành phần loài và

loài phát triển ưu thế. Trên 4 loại sinh cảnh nghiên cứu tại vùng đồng bằng sơng

Hồng, xác định được tổng số 255 lồi ve giáp, thuộc 111 giống và phân giống, 58

họ. Số lượng loài của quần xã ve giáp trên các sinh cảnh giảm theo thứ tự: rừng

trồng > đất trồng cây lâu năm > trảng cỏ và cây bụi > đất trồng cây ngắn ngày. Tuy

nhiên sự chênh lệch không nhiều. Tỷ lệ lồi cùng có mặt trên cả 4 sinh cảnh khơng

cao, chỉ có 37 lồi, tương ứng với 14,51% tổng số loài trên 4 sinh cảnh. Tuy nhiên,

tỷ lệ lồi chỉ có mặt ở một loại sinh cảnh lại khá cao với 127 loài, tương ứng

49,80% tổng số loài trên 4 sinh cảnh. Điều này đã phần nào cho thấy sự khác biệt

rõ nét và tính phân hóa cao trong cấu trúc thành phần loài ve giáp theo 4 loại sinh

cảnh.

Phân tích mật độ cá thể trung bình của quần xã ve giáp ở 4 sinh cảnh cho thấy,

số lượng cá thể của quần xã không tỷ lệ thuận với số lượng loài trong quần xã mà

phụ thuộc chặt chẽ vào sự phát triển của loài. Quần xã ve giáp ở đất trồng cây lâu

năm được đánh giá kém phát triển nhất cả về số lượng loài và số lượng cá thể.

Kết quả phân tích chỉ số đa dạng H’ và chỉ số đồng đều J’ của quần xã ve giáp

ở các sinh cảnh nghiên cứu cho thấy, 2 chỉ số này có mối liên hệ mật thiết với nhau.

Tính đồng đều của quần xã là một trong các yếu tố quyết định tính đa dạng của

quần xã. Ở 4 sinh cảnh nghiên cứu, quần xã ve giáp ở rừng trồng được đánh giá

phát triển đồng đều và có tính đa dạng cao nhất. Quần xã ve giáp ở đất trồng cây lâu



87



năm mặc dù có số lượng lồi ít nhất nhưng lại có tính đồng đều cao và chỉ số đa

dạng H’ cao. Quần xã ve giáp trên sinh cảnh trảng cỏ cây bụi có đa dạng thành phần

loài cao hơn quần xã trên đất trồng cây ngắn ngày nhưng các loài trong quần xã lại

kém đồng đều hơn bởi xuất hiện loài ưu thế vượt trội, do đó quần xã trên sinh cảnh

này được đánh giá qua chỉ số H’ là kém đa dạng nhất.

Như vậy, nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng, ngồi việc cung cấp các thông tin

về khu hệ ve giáp vùng đồng bằng sơng Hồng, kết quả nghiên cứu còn cung cấp các

thơng tin ý nghĩa về ảnh hưởng của loại sinh cảnh lên quần xã ve giáp. Đồng thời

kết quả nghiên cứu cũng phần nào cho thấy tính chất của mơi trường ảnh hưởng

quyết định đối với tính đa dạng của quần xã ve giáp. Đặc trưng trong cấu trúc của

quần xã được phân tích dường như tương ứng với những đặc trưng của mơi trường

sống. Điều này góp phần xây dựng cơ sở khoa học vững chắc hơn về tính sự biến

đổi trong cấu trúc định tính và định lượng của quần xã ve giáp dưới sự tác động của

thảm phủ thực vật. Đây là các dữ liệu mà theo Behan - Pelletier (1999) và Noti

(2003) là vẫn còn thiếu cho việc sử dụng ve giáp như một chỉ thị sinh học ở vùng

nhiệt đới [79], [171]. Nghiên cứu đã xác định được nhóm lồi đặc trưng cho loại

sinh cảnh trảng cỏ cây bụi đặc trưng của vùng. Kết quả nghiên cứu phù hợp với

nhận định chung về ảnh hưởng thảm phủ thực vật và hoạt động canh tác lên quần xã

ve giáp. Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu này vẫn chưa đi sâu vào nghiên cứu cụ

thể để định lượng chi tiết về mức độ tác động và những biến đổi cụ thể của các yếu

tố môi trường đất giữa các sinh cảnh. Do đó để có được những thơng tin cụ thể hơn

thì cần những nghiên cứu sâu hơn nữa.

3.3 Cấu trúc quần xã ve giáp liên quan đến loại đất và chế độ bón phân

3.3.1. Thành phần loài và đặc điểm phân bố của quần xã ve giáp ở 4 loại đất

Trên thế giới quần xã ve giáp đã được nghiên cứu dưới ảnh hưởng của nhiều

yếu tố khác nhau, nhiều kết quả đã được mô tả chi tiết. Theo tổng quan của

Gergócs và Hufnagel (2009), tất cả các yếu tố thành phần vật chất hữu cơ, độ ẩm,

nhiệt độ, nồng độ kim loại nặng đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cấu



88



trúc quần xã ve giáp [113]. Điều đó gợi ý rằng ở các loại đất khác nhau, cấu trúc

quần xã ve giáp sẽ có những biến đổi nhất định. Việc nghiên cứu, so sánh cấu trúc

quần xã ve giáp ở các loại đất khác nhau cũng đã được thực hiện ở Việt Nam, tuy

nhiên nghiên cứu này vẫn còn chưa đầy đủ. Nhằm góp phần bổ sung dẫn liệu cho

vấn đề này, nghiên cứu này tập trung một phần vào ảnh hưởng của loại đất lên cấu

trúc quần xã ve giáp.

Quần xã ve giáp ở vùng đồng bằng sông Hồng được nghiên cứu định lượng

trên 4 loại đất, bao gồm: đất phù sa chua mặn ven biển, đất phù sa trung tính, đất

feralit mùn vàng đỏ trên núi và đất xám bạc màu. Thành phần loài của quần xã ve

giáp ở 4 loại đất được phân tích từ các số liệu đính tịnh và định lượng. Các chỉ số

định lượng được phân tích từ số liệu thu được ở các mẫu định lượng.

Từ sốliệu bảng 3.1 cho thấy số lượng loài ve giáp trên mỗi nhóm đất giảm

theo thứ tự: đất phù sa trung tính (179 lồi) > đất feralit mùn vàng đỏ trên núi (178

loài) > đất phù sa chua mặn ven biển (86 loài) > đất xám bạc màu (78 loài). Số

lượng loài của quần xã trên đất phù sa trung tính và đất feralit mùn vàng đỏ trên núi

khơng chênh lệch nhau nhiều nhưng lớn hơn số lượng loài của quần xã trên 2 loại

đất còn lại.

Phân tích thành phần loài của quần xã ở 4 loại đất cho thấy, có 28 lồi ve giáp

(chiếm 10,98% tổng số lồi trên 4 nhóm đất) cùng xuất hiện ở cả 4 loại đất, bao

gồm: E. cylindrica cylindrica, J. kuehnelti, E. avenifer, E. capitata, M. tamdao, A.

arcualis arcualis, T. minor, T. velatus, Tectocepheus sp.1, B. auxiliaris, S. elegans, S.

fimbriatus africanus, S. laevigatus, S. praeincisus, B. heterodactylus, B. praeincisus,

P. brevisetosus, P. guehoi, P. vermiseta, P.lophothrichus, P.



monodactylus,



P.paracapucinus, P. bipilis, P. duoseta, P. maximus, T. trimorphus, D. azumai, G.

flabellifera orientalis. Trong đó, có 6 lồi (chiếm 22,22% số loài xuất hiện ở cả 4

loại đất) thuộc họ Scheloribatidae. Đây là một họ lớn và phân bố rộng trong

nghiên cứu này. Các lồi trong họ có mặt trên tất cả các sinh cảnh và các loại đất

được nghiên cứu trong khu vực. Nhìn chung, các lồi ve giáp phân bố rộng thuộc

các nhóm ve giáp bậc cao nhiều hơn các nhóm bậc thấp.



89



Phân tích số liệu từ bảng 3.1 cho thấy, có 125 lồi ve giáp (chiếm 44,17% tổng

số loài ở 4 loại đất) chỉ xuất hiện trên một loại đất. Trong đó, có 15 lồi chỉ có mặt

trên đất chua mặn ven biển (chiếm 17,24% tổng số loài ở 4 loại đất), 51 loài chỉ có

mặt trên đất phù sa trung tính (chiếm 30,18% tổng số loài trên loài trên loại đất này,

28 loài ve giáp chỉ có mặt trên đất feralit mùn vàng đỏ trên núi (chiếm 18,18% tổng

số loài trên loại đất này) và 15 lồi ve giáp chỉ có mặt trên đất xám bạc màu (chiếm

19,74% tổng số loài trên loại đất này). Ở 4 loại đất nghiên cứu, quần xã ve giáp ở

đất phù sa trung tính có số lượng lồi đặc trưng nhiều nhất và tỷ lệ loài đặc trưng

cao nhất. Đây cũng là loại đất mà ở đó quần xã ve giáp được xác định có số lượng

lồi lớn nhất.

Bảng 3.10: Hệ số tương đồng thành phần loài của quần xã ve giáp ở 4 loại đất

nghiên cứu

(i)

(i)

(ii)

(iii)

(iv)



45,07

52,31

37,04



(ii)

60,61

37,25



(iii)



(iv)



44,09



Ghi chú: (i): đất phù sa chua mặn ven biển, (ii): phù sa trung tính, (iii): đất

feralit mùn vàng đỏ trên núi, (iv): đất xám bạc màu

Độ tương đồng: S17 hệ số tương đồng Bray – Curtis



90



Hình 3.11: Biểu đồ tương đồng của hệ số tương đồng thành phần loài của quần

xã ve giáp ở 4 loại đất nghiên cứu

Ghi chú: (i): đất phù sa chua mặn ven biển, (ii): phù sa trung tính, (iii): đất

feralit mùn vàng đỏ trên núi, (iv): đất xám bạc màu

Bảng 3.10 và hình 3.11 thể hiện sự tương đồng về thành phần loài của quần xã

ve giáp ở 4 loại đất nghiên cứu dựa trên sự phân tích thành phần lồi ve giáp xác

định được trên cả mẫu định tính và định lượng ở mỗi loại đất. Từ những số liệu này

cho thấy, hệ số tương đồng thành phần loài của quần xã ve giáp ở 4 loại đất nghiên

cứu nằm trong khoảng từ 37,04% đến 60,61%. Hệ số tương đồng thành phần loài

của quần xã ve giáp giữa các loại đất khác nhau chênh lệch nhiều hơn so với hệ số

tương đồng của quần xã ve giáp ở các loại sinh cảnh khác nhau. Quần xã ve giáp ở

đất phù sa trung tính và quần xã ve giáp ở đất feralit mùn vàng đỏ trên núi có hệ số

tương đồng về thành phần lồi cao nhất (60,61%). Quần xã ve giáp trên đất xám bạc

màu có thành phần lồi khác biệt nhiều nhất. Như vậy qua phân tích ở những số liệu

định tính cho thấy quần xã ve giáp ở đất phù sa trung tính và đất feralit mùn vàng

đỏ trên núi có thành phần lồi gần nhau nhất.

Như vậy qua những phân tích ban đầu cho thấy, ở mỗi loại đất, quần xã ve

giáp có những đặc trưng riêng về đa dạng thành phần lồi và thể hiện rõ nhất ở

thành phần nhóm lồi đặc trưng. Đây là những khác biệt mang tính chất định tính,

để làm rõ hơn những biến đổi cụ thể trong quần xã qua 4 nhóm đất, cần phân tích cụ

thể hơn ở những số liệu định lượng.

3.3.2. Mật độ cá thể trung bình và cấu trúc nhóm lồi ưu thế của quần xã ve giáp

ở 4 loại đất

Mật độ cá thể trung bình và của quần xã ve giáp ở 4 loại đất

Tiến hành phân tích, so sánh mật độ cá thể trung bình của quần xã ve giáp ở 4

loại đất qua các mẫu định lượng thu được. Qua phân tích các mẫu định lượng đã xác

định được 193 loài ve giáp, thuộc 88 giống và phân giống, 42 họ. Số lượng lồi

định lượng trên mỗi nhóm đất giảm theo thứ tự: đất phù sa trung tính (107 loài) >



91



đấtferalitmùn vàng đỏ trên núi (104 loài) > đất xám bạc màu (74 loài) > đất phù sa

chua mặn ven biển (65 lồi).

Biểu đồ hình 3.12 thể hiện sự so sánh mật độ cá thể trung bình của quần xã ve

giáp ở 4 loại đất nghiên cứu. Mật độ cá thể trung bình của quần xã ve giáp ở 4 loại

đất giảm theo thứ tự: đất phù sa trung tính (6313 cá thể/m 2) > đất chua mặn ven biển

(4676 cá thể/m2) > đất feralit mùn vàng đỏ trên núi (3100 cá thể/m2) > đất xám bạc

màu (3050 cá thể/m2). Thứ tự này không trùng lặp với sự thay đổi của số lượng loài

qua các loại đất.



Mật độ trung bình

7000



6313



6000

5000

Cá thể/m2



4000



3507



3000



3100



3050



(iii)



(iv)



2000

1000

0

(i)



(ii)

Nhóm đất



Hình 3.12: Mật độ cá thể trung bình của quần xã ve giáp ở 4 loại đất nghiên cứu



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chỉ số đa dạng Shannon - Wiener (H’) của quần xã ve giáp ở 4 sinh cảnh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×