Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bố cục luận án

Bố cục luận án

Tải bản đầy đủ - 0trang

4



CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN

1.1 Khái quát về nghiên cứu ve giáp (Acari: Oribatida) trên thế giới

Trên thế giới các nghiên cứu về ve giáp được bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ

XIX. Nghiên cứu phân loại ve giáp trên cơ sở hình thái học vẫn đang trong quá

trình phát triển và xây dựng với sự đóng góp rất lớn của nhiều tác giả trên thế giới

như: Willman, Edward và Wharton, Grandjean, Balogh, Koch, Krivolutsky, Kranzt

và Water, Balogh J. và Balogh P., Subias. Theo Subias (2013), khu hệ ve giáp thế

giới đã phát hiện được 10.342 loài và phân loài thuộc 1249 giống và 163 họ [204].

Do đó việc xây dựng hệ thống phân loại học và hệ thống tiến hóa của ve giáp vẫn

đang trong q trình phát triển. Một số hệ thống phân loại ve giáp truyền thống

thường được sử dụng như Grandjean (1953) [203], Balogh (1961, 1963) [65], [66],

Balogh (1992, 2002) [69], [70], Krivolutsky (1975) [137], Aoki (1999) [61], Norton

và Benhan - Pelletier (2009) [169], Schatz và cộng sự (2011) [176], Subias (2013)

[204]. Hiện nay, phần lớn các chuyên gia sử dụng hệ thống phân loại theo Balogh P.

và Balogh J. (2002) [70], Norton và Behan - Pelletier (2009) [169], Schatz và cộng

sự (2011) [176], Subias (2013) [204]. Các nghiên cứu về ve giáp phân bố rộng khắp

các châu lục trên thế giới và phát triển theo nhiều hướng với quy mô nghiên cứu

khác nhau.

Phân loại học sinh học phân tử đã được áp dụng trong nghiên cứu phân loại ve

giáp, trong đó có thể kể đến các nghiên cứu của Mauran và cộng sự (2004) [157],

Domes và cộng sự (2007) [96], Birky và cộng sự (2010) [84], Dabert và cộng sự

(2010) [95]. Tuy nhiên phương pháp này chưa được sử dụng nhiều, phân loại bằng

phân tích hình thái vẫn là phương pháp chính được áp dụng trong hầu hết các

nghiên cứu về ve giáp trên thế giới.

Tại châu Á, các nghiên cứu tập trung nhiều ở các nước Nga, Trung Quốc, Nhật

Bản, Việt Nam, Philippin, Iran…. Một trong những quốc gia có bước nghiên cứu

đầu tiên về ve giáp là Liên Xơ (cũ). Ngồi các nghiên cứu về khu hệ, ngay từ những



5



năm 1975, 1976, Krivolutsky đã có nhiều nghiên cứu về vai trò của quần xã ve giáp,

trong đó vai trò chỉ thị được đặc biệt quan tâm [136], [139], [140], [141], [142],

[143]. Kết quả các nghiên cứu của ông cho thấy rằng những thay đổi của môi

trường sống thường dẫn đến phản ứng nhạy cảm và khá rõ rệt của cấu trúc quần xã

động vật chân khớp bé ở đất. Chính vì vậy, chân khớp bé mà đại diện là nhóm bọ

nhảy và ve giáp là nhóm động vật thích hợp làm sinh vật kiểm tra ở mức độ tổ hợp

loài [142]. Gulvik (2007) đã nêu tổng quát về nghiên cứu cấu trúc quần xã động vật

chân khớp bé ở đất nói chung và ve giáp nói riêng trong việc đánh giá mức độ tác

động của con người đến hệ sinh thái đất. Kết quả nghiên cứu đã nhận định sự thay

đổi trong cấu trúc quần xã ve giáp có thể trở thành yếu tố chỉ thị cho sự thay đổi của

môi trường đất [117]. Năm 2011, Adrievskiz nghiên cứu cấu trúc quần xã ve giáp

như một thước đo mức độ ô nhiễm môi trường đất [58].

Tại khu vực Đông Nam Á, khu hệ ve giáp Indonesia được nghiên cứu đầu tiên

bởi Berlese (1913) [205]. Sau đó, một số lượng lớn các cơng trình nghiên cứu về ve

giáp được tiến hành trong khu vực này bao gồm các nghiên cứu ở Indonesia của

Csiszar (1961) [93], Balogh và Mahunka (1968) [72], ở Thái Lan của Aoki (1965,

2009) [59], [62], của Balogh và Mahunka (1974) tại Malaysia [73] và của Corpus

Rasos (1992) tại Philippin [90].

Tại Nhật Bản và Trung Quốc, nghiên cứu về ve giáp cũng khá phát triển với

nhiều nghiên cứu ý nghĩa. Trong đó, có thể kể đến nghiên cứu của Karasawa (2004)

về ảnh hưởng của sự đa dạng vi sinh cảnh và sự phân cắt địa lý đến quần xã ve giáp ở

rừng ngập mặn tại đảo Ryukyu [131], nghiên cứu của Hasegawa và cộng sự (2006)

về ảnh hưởng của yếu tố địa chất và độ cao so với mực nước biển đối với cấu trúc

quần xã ve giáp và một số nghiên cứu của các tác giả khác [62], [63], [121], [123].

Tại khu vực châu Mỹ các nghiên cứu về ve giáp cũng khá phát triển, đặc biệt là

các nghiên cứu về sinh học và sinh thái. Các nghiên cứu của Krantz (1978) đã xác định

ve giáp tham gia tích cực trong sự phân hủy hợp chất hữu cơ, trong chu trình nitơ và

quá trình tạo đất [136]. Tất cả các giai đoạn trong chu kỳ sống của chúng đều ăn với

một phổ thức ăn rộng, bao gồm thực vật sống và chết, nấm, rêu, địa y và thịt thối rữa.



6



Nhiều loài là vật chủ trung gian của sán dây, một vài lồi là động vật ăn thịt, khơng có

lồi nào sống ký sinh [135]. Các nghiên cứu của Berhan - Pelletier (1999) cũng cho

thấy ve giáp là lồi đơng đảo xuất hiện chiếm ưu thế trong những môi trường sống đặc

trưng hay trong các quần hợp đặc trưng, nghiên cứu cấu trúc quần thể, độ giàu loài và

đặc điểm sinh sản của ve giáp sẽ xác định được yếu tố chỉ thị thích hợp [79].

Năm 2002, Schatz đã tổng kết và đưa ra danh lục 543 loài đã biết của khu hệ

ve giáp Trung châu Mỹ. Ngồi ra ơng còn tổng hợp số lượng ve giáp ở một số quốc

gia và vùng lãnh thổ khác cũng thuộc khu vực Trung châu Mỹ như: Cuba (225 loài),

Antilles (387 loài), Lasser Antilles (172 loài), Jamaica (28 loài), Dominica (21

loài).Đến năm 2002, số lượng các loài ve giáp đã biết tại khu vực Trung Châu Mỹ

bao gồm cả Mexico và Antilles là 1238 loài [206].

Minor và cộng sự (2004, 2007) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của các loại đất

canh tác, các loại phân bón hữu cơ, phân ure, màn che ánh sáng tới cấu trúc quần xã

ve giáp khu vực New York. Kết quả cho thấy, loại đất có ảnh hưởng rõ rệt tới quy

mô và sự đa dạng của quần xã ve giáp [160], [161].

Từ năm 2012 đến nay, tại khu vực Châu Mỹ, nghiên cứu ve giáp tiếp tục được

phát triển và tập trung nhiều ở các nước Mỹ, Canada, Mexico, Argentina, Brazil,

Ecuador. Trong đó phải kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu như nghiên cứu về vai

trò của quần xã ve giáp trong hệ sinh thái đất của các tác giả Accattoli, Salazar Martinez, Acuna - Cantillo,….

Tại châu Đại Dương, các nghiên cứu về ve giáp tập trung nhiều tại Australia

và New Zealand. Australia là nước có nhiều nghiên cứu tiêu biểu về nhóm ve giáp

sống trên cây. Theo ước tính của Walter (1995), đã phát hiện được khoảng 102 loài

ve giáp sống trên các tán cây của rừng mưa. Theo nhiều tài liệu, có tới 85 giống

thuộc 35 họ ve giáp đã được biết là sống trên cây và hầu hết những lồi này thuộc

nhóm Brachypylia [198]. Qua nhiều nghiên cứu của các tác giả ở đây đã cho thấy

ve giáp là nhóm sinh vật có số lượng đông đảo hơn bất kỳ các chân khớp khác sống

trên cây kể cả côn trùng. Các tác giả cũng ước tính vòm lá của một cây cao 10m

trong vùng rừng mưa cận nhiệt đới nuôi dưỡng gần 400.000 cá thể ve bét mà chủ



7



yếu là ve giáp [198].

Châu Âu được coi là trung tâm phát triển mạnh mẽ nhất về nghiên cứu ve

giáp.Trong rất nhiều các nghiên cứu đã được thực hiện, có thể kể đến một số nghiên

cứu tiêu biểu như nghiên cứu của Mone và các cộng sự (1988) [164]. Kết quả

nghiên cứu này cho thấy ve giáp là nhóm quan trọng nhất trong số các động vật

thuộc lớp hình nhện có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự hình thành và duy trì

cấu trúc đất, tham gia vào quá trình phân hủy feralitmùn bằng cách nghiền nát các

hợp chất hữu cơ.

Năm 2006, để đánh giá tác động của khí hậu lục địa đến cấu trúc quần xã ve

giáp, Zaitsev và Wolters đã thực hiện các đợt điều tra thu mẫu ve giáp theo lát cắt

ngang châu Âu, từ Hà Lan đến Matxcơva (liên bang Nga) trong cùng một kiểu sinh

cảnh rừng rụng lá theo mùa. Kết quả nghiên cứu cho thấy khí hậu lục địa có ảnh

hưởng rõ rệt đến cấu trúc chức năng và độ đa dạng của quần xã ve giáp. Mặt khác

cũng có dấu hiệu chỉ thị cho sự thay đổi cấu trúc khu hệ [201].

Năm 2012, Kaczmarek và cộng sự đã nghiên cứu về đa dạng cấu trúc quần xã

ve bét trên ba sinh cảnh nằm trong vùng ngập nước theo mùa ở Ba Lan. Kết quả cho

thấy đa dạng quần xã ve giáp có thể sử dụng như một chỉ thị sinh học cho quá trình

chuyển đổi thảm thực vật của các rừng ven sông [130].

Năm 2014, Lehmitz đã nghiên cứu ảnh hưởng của q trình làm khơ và q

trình gây rừng đối với quần xã ve giáp trên đất than bùn. Kết quả nghiên cứu chỉ ra

rằng, quá trình làm khô đất bùn đã làm giảm mức độ đa dạng loài quần xã ve giáp,

một số loài nhạy cảm với độ ẩm mơi trường đã biến mất. Do đó có thể đề xuất sử

dụng quần xã ve giáp là cơ sở để đánh giá những biến đổi và quá trình thối hóa của

mơi trường sống [146].





Như vậy trên thế giới, khu hệ ve giáp đã trải qua hàng trăm năm nghiên cứu



và phát triển. Các nghiên cứu phân bố không đồng đều giữa các châu lục và tập

trung nhiều ở châu Á, châu Âu, châu Mỹ. Phân loại học hình thái là phương pháp

được sử dụng chủ yếu, phân loại học sinh học phân tử đã được áp dụng nhưng chưa

nhiều. Các nghiên cứu phân loại học, thành phần loài trong khu hệ vẫn là các



8



nghiên cứu cơ bản và không ngừng được phát triển và mở rộng về phạm vi địa lý và

mơi trường sinh thái (trong lòng đất, dưới nước, trên cây, thảm lá…). Trên thế giới

khu hệ ve giáp hiện biết 10.342 loài và phân loài, thuộc 1.249 giống và 163 họ

[204]. Tuy nhiên theo các chuyên gia nghiên cứu con số này mới chiếm khoảng

20% tổng số loài thực tế [204], bởi vậy việc tiếp tục nghiên cứu bổ sung thơng tin

nhằm làm rõ tính chất đa dạng của khu hệ ve giáp trên toàn thế giới là rất cần thiết.

Các thông tin sinh thái học của quần xã ve giáp ngày càng được bổ sung đầy

đủ hơn ở cả hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nơng nghiệp. Vai trò của ve giáp

trong hệ sinh thái đất ban đầu được chú ý nghiên cứu làm rõ về vai trò đối với các

quá trình ln chuyển vật chất, cấu tạo đất, vai trò mang truyền nang sán…. Hiện

nay vai trò chỉ thị của ve giáp với sự biến đổi điều kiện môi trường sống được tập

trung nghiên cứu nhiều. Sự biến đổi cấu trúc quần xã ve giáp qua các loại sinh cảnh

khác nhau, các đai độ cao khác nhau, vùng khí hậu khác nhau với các điều kiện

nhiệt độ, độ ẩm.... khác nhau đã chỉ ra tính chất nhạy bén đối với các biển đổi của

môi trường sống của chúng. Những thông tin này có giá trị xây dựng cơ sở khoa

học nhằm đề xuất ve giáp như một chỉ thị sinh học cho mơi trường sống, đóng góp

quan trọng cho nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học.

1.2 Nghiên cứu về ve giáp (Acari: Oribatida) ở Việt Nam

Việt Nam nằm ở vị trí địa lý trung gian của nhiều trung tâm phát sinh, phát tán

và di cư của nhiều nhóm động vật trong đó có khu hệ ve giáp. Vì thế các kết quả

nghiên cứu về khu hệ ve giáp có ý nghĩa đóng góp đánh giá đặc điểm khu hệ, nguồn

gốc phát sinh và quan hệ tiến hóa của khu hệ động vật Việt Nam nói riêng và của

vùng nói chung [19].

Đến năm 2015 khu hệ ve giáp Việt Nam đã xác định được 320 loài và phân

loài, chiếm khoảng 3,09% tổng số loài đã biết trên thế giới (320 loài và phân loài so

với 10342 loài và phân loài) [189]. Hằng năm qua nghiên cứu của các tác giả trong

nước và nước ngồi số lồi ve giáp khơng ngừng được bổ sung. Cùng với những

bước phát triển của chuyên ngành nghiên cứu này trên thế giới, ở Việt Nam nghiên



9



cứu ve giáp cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể. Nhìn lại lược sử nghiên cứu

chúng ta có thể chia thành ba giai đoạn phát triển:

 Giai đoạn từ năm 1967 đến 1985

 Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2007

 Giai đoạn từ năm 2008 đến nay

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1967 đến năm 1985

Trước năm 1967, khu hệ ve giáp Việt Nam chưa được quan tâm nghiên cứu.

Đến năm 1967, khu hệ ve giáp Việt Nam bắt đầu được nghiên cứu bởi các tác giả

nước ngoài. Cơng trình đầu tiên được cơng bố là: “New oribatids from Vietnam”

của hai tác giả người Hungari là Balogh và Mahunka. Qua cơng trình này các tác

giả đã giới thiệu về khu hệ, danh pháp và đặc điểm phân bố của 33 loài ve giáp. Tất

cả 33 loài ghi nhận được đều là mới cho khu hệ động vật Việt Nam, trong đó mơ tả

29 lồi và 4 giống là mới cho khoa học [71]. Tiếp theo là nghiên cứu của hai tác giả

Tiệp Khắc Rajski và Szudrowicz [175].

Trên cơ sở các nghiên cứu ban đầu được thực hiện bởi các chuyên gia quốc tế,

các chuyên gia trong nước đã bắt đầu thực hiện các nghiên cứu hướng về các nhóm

ưu thế là ve bét (Acari) và bọ nhảy (Collembola). Cơng trình nghiên cứu trong giai

đoạn này là luận văn cấp I sau Đại học của Vũ Quang Mạnh (năm 1980) về “Quần

xã ve bét (Arachnida: Acari, Oribatei) và Bọ nhảy (Insecta: Collembola) ở một số

sinh cảnh vùng Từ Liêm (Hà Nội) và An Khê (Tây Nguyên)” [8]. Sau đó là luận án

tiến sỹ (phó tiến sỹ) của Vũ Quang Mạnh (năm 1985) “Nghiên cứu Sinh thái - Khu

hệ quần xã ve giáp (Acari: Oribatida) ở miền Bắc Việt Nam”. Trong nghiên cứu đầu

tiên về ve giáp ở hệ sinh thái đất này, tác giả đã xác định được 73 lồi ve giáp, trong

đó có 39 lồi mới cho khu hệ ve giáp Việt Nam và 7 lồi mơ tả mới cho khoa học

[208].

Như vậy, đây có thể coi là giai đoạn đặt nền móng cho nghiên cứu ve giáp Việt

Nam. Các nghiên cứu về ve giáp đã có những bước phát triển và đã thu được những

kết quả nhất định. Hướng nghiên cứu cũng như phạm vi địa lý vùng nghiên cứu đã



10



được mở rộng, các nghiên cứu không chỉ dừng lại ở phân loại học mà còn có những

nghiên cứu ban đầu hướng vào nghiên cứu sinh thái học.

1.2.2 Giai đoạn từ năm 1986 đến 2007

Trong giai đoạn này, nghiên cứu ve giáp ở Việt Nam đã có những bước tiến rõ

rệt so với giai đoạn truớc. Năm 1987, Vũ Quang Mạnh và M. Jeleva đã tiến hành

nghiên cứu trên 4 vùng địa lý, 5 loại đất chính của 15 tỉnh và thành phố miền Bắc

Việt Nam và giới thiệu đặc điểm phân bố, danh pháp phân loại học của 11 lồi ve

giáp bậc thấp, mơ tả 1 loài mới cho khoa học và 10 loài mới cho khu hệ ve giáp Việt

Nam [22].

Năm 1989, Vũ Quang Mạnh đã tổng kết và đưa ra dẫn liệu về cấu trúc quần xã ve

giáp, phân tích ảnh hưởng của một số yếu tố tự nhiên và nhân tác chính ảnh hưởng đến

quần xã ve giáp ở miền Bắc Việt Nam. Trong nghiên cứu này, tác giả đã xác định được

73 loài ve giáp thuộc 48 giống, 28 họ và 20 liên họ, trong đó có 7 lồi mới cho khoa học,

53 loài mới cho khu hệ ve giáp ở Việt Nam. Đặc biệt, tác giả cũng chỉ ra khuynh hướng

hình thành hai phức hợp ve giáp theo vùng địa lý (một ở vùng đồng bằng, một ở vùng

đồi núi Tây Bắc). Từ đó cho thấy vai trò quyết định của những ảnh hưởng của các yếu tố

tự nhiên đối với sự hình thành cấu trúc định tính của quần xã ve giáp ở vùng nghiên cứu

[10].

Tiếp đó, năm 1990, các tác giả Vũ Quang Mạnh và Cao Văn Thuật đã có

nghiên cứu về cấu trúc định lượng của nhóm chân khớp bé (Microarthropoda:

Oribatei, Acari khác và Collembola) ở 7 kiểu hệ sinh thái, 5 dải độ cao khí hậu và 3

loại đất vùng đồi núi Đông Bắc Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mật độ

quần xã chân khớp bé thay đổi theo kiểu hệ sinh thái, theo độ cao khí hậu và loại đất

nghiên cứu [23].

Sau các nghiên cứu tại vùng núi Đông Bắc Việt Nam, trong các năm 1991

-1992, Vũ Quang Mạnh tiếp tục mở rộng phạm vi nghiên cứu sang vùng núi Tây

Bắc. Tác giả đã tiến hành nghiên cứu tại 9 địa điểm thuộc vùng núi Tây Bắc và đã

phát hiện được 47 loài ve giáp, trong đó có 14 lồi mới cho khu hệ ve giáp Việt

Nam, 42 loài mới được xác định cho vùng nghiên cứu [12].

Năm 1994, Vũ Quang Mạnh lần đầu tiên đưa ra dẫn liệu về cấu trúc quần xã

ve giáp (Acari: Oribatei) vùng đảo Cát Bà và vùng đất ven biển Yên Hưng, Quảng



11



Ninh. Trong nghiên cứu này, tác giả đã xác định được 28 loài ve giáp thuộc 21

giống, 16 họ [14].

Năm 1995, Vũ Quang Mạnh và Vương Thị Hòa đã tổng kết và cơng bố danh

sách đầy đủ các loài ve giáp đất ở Việt Nam tại thời điểm tổng kết. Danh sách này

bao gồm 146 loài ve giáp thuộc 87 giống, 44 họ [24].

Năm 1999, Vũ Quang Mạnh đã cơng bố cơng trình nghiên cứu về cấu trúc

quần xã ve giáp liên quan đến suy giảm rừng ở vườn quốc gia Tam Đảo. Kết quả

nghiên cứu đã xác định được 63 loài ve giáp thuộc 25 họ. Kết quả nghiên cứu cũng

chỉ ra rằng đa dạng thành phần loài ve giáp giảm dần từ rừng tự nhiên > rừng nhân

tác > vườn trồng quanh nhà > đất mọc cây bụi > trảng cỏ [186].

Năm 2000, Vũ Quang Mạnh đã tổng kết và nêu ra các vai trò quan trọng

của ve giáp trong hệ sinh thái đất [16]. Theo tác giả, ve giáp có vai trò vơ cùng

quan trọng trong quá trình phân hủy xác hữu cơ thực vật. Ve giáp cùng với các

nhóm sâu bọ bậc thấp, bọ nhảy là thành phần tích cực nhất của hệ động vật đất

nhỏ tham gia vào quá trình phân hủy xác thực vật, ăn nấm và các thành phần của

cây xanh [16].

Năm 2005, Vũ Quang Mạnh, Nguyễn Xuân Lâm đã tổng kết và đưa ra các đặc

trưng phân bố và tính chất địa động vật của khu hệ ve giáp Việt Nam. Trong báo cáo

này các tác giả đã giới thiệu danh sách gồm 158 loài ve giáp của khu hệ động vật

Việt Nam cùng đặc điểm phân bố của chúng theo vùng địa lý tự nhiên và theo địa

điểm nghiên cứu ở một số vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên [27]. Kết quả

so sánh cho thấy khu hệ ve giáp Việt Nam được nghiên cứu chưa đầy đủ, chưa đồng

bộ ở các vùng lãnh thổ. Nhìn chung, các nghiên cứu về ve giáp ở lãnh thổ phía Bắc

được tiến hành nhiều hơn. Trên lãnh thổ phía nam mới chỉ có một vài nghiên cứu ở

Cà Mau của Vũ Quang Mạnh (1984) [9], ở Gia Lai của Vũ Quang Mạnh (1980) [8]

và Golosova (1983) [115] ở Lâm Đồng của Mahunka (1987) [151].

Năm 2007, trong báo cáo hội nghị khoa học toàn quốc về sinh thái và tài

nguyên sinh vật lần thứ hai, Vũ Quang Mạnh đã trình bày việc áp dụng phương

pháp biểu đồ lưới trong việc phân tích sự hình thành quần xã ve giáp ở miền bắc



12



Việt Nam. Qua phân tích cho thấy sự biến đổi của quần xã ve giáp ở các hệ sinh thái

đất ở miền Bắc Việt Nam diễn ra theo trình tự từ rừng tự nhiên đến các hệ sinh thái

nhân tác, mà trong đó gồm cả rừng nhân tác, cuối cùng là trảng cỏ tự nhiên và cây

bụi [18].

Một trong những cơng trình tiêu biểu đánh dấu bước phát triển của nghiên cứu

trong giai đoạn này là Động vật chí của Vũ Quang Mạnh được cơng bố năm 2007

[19]. Trong cơng trình này, tác giả đã trình bày danh sách gồm 150 loài ve giáp phát

hiện được ở Việt Nam tại thời điểm nghiên cứu. Các loài ve giáp được trình bày cụ

thể về đặc điểm hình thái phân loại học, vùng phân bố trong nước và trên thế giới.

Đây là một trong những tài liệu chuyên ngành quan trọng, hiện vẫn đang được sử

dụng phổ biến trong việc định loại ve giáp.

Như vậy nghiên cứu ve giáp trong giai đoạn này đã có những bước tiến xa so

với giai đoạn trước. Các nghiên cứu trong giai đoạn này khơng chỉ đi sâu vào phân

loại học mà còn tập trung vào sinh học, sinh thái và vai trò chỉ thị của ve giáp đối

với môi trường.

1.2.3 Giai đoạn từ năm 2008 đến nay

Năm 2008, Vũ Quang Mạnh và cộng sự đã nghiên cứu về cấu trúc quần xã

chân khớp bé ở đất liên quan đến loại đất và đặc điểm thảm cây trồng ở vùng đồng

bằng sông Hồng. Nghiên cứu đã xác định được 32 loài ve giáp và đồng thời chỉ ra

rằng, cấu trúc quần xã chân khớp bé nói chung có sự biến đổi liên quan đến loại đất

và đặc điểm cây trồng và thảm phủ thực vật [32].

Các nghiên cứu về ve giáp ở Việt Nam phần lớn được tập trung ở miền Bắc,

các nghiên cứu ở miền Nam và miền Trung còn khá ít. Trong giai đoạn này, tại vùng

Bắc Trung Bộ, Nguyễn Hải Tiến (năm 2012) đã tiến hành nghiên cứu quần xã ve

giáp ở vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Các tác giả đã nghiên cứu về thành

phần loài và vai trò chỉ thị sinh học của quần xã ve giáp với sự thay đổi điều kiện

môi trường ở khu vực nghiên cứu. Qua nghiên cứu tác giả đã ghi nhận được 106

loài và 1 phân loài ve giáp, thuộc 73 giống, 40 họ [42], [43], [44]. Ngoài ra tại khu



13



vực này, năm 2011, Vũ Quang Mạnh và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu quần xã ve

giáp tại Vuờn quốc gia Bến En, Thanh Hoá [33].

Trong giai đoạn này, khu hệ ve giáp vùng Tây Bắc được bổ sung dữ liệu thông

qua các nghiên cứu của Đào Duy Trinh và các cộng sự [49, 50, 51, 52]. Trong

nghiên cứu này, các tác giả đã tập trung làm rõ thành phần lồi, đặc điểm và vai trò

chỉ thị của quần xã ve giáp ở vườn quốc gia Xuân Sơn (Phú Thọ).

Trong số các cơng trình được cơng bố gần đây, chun khảo nghiên cứu về hệ

thống phân loại, tính chất địa động vật, hình thái và vai trò trong hệ sinh thái của ve

giáp của Vũ Quang Mạnh (2015) có thể đánh giá là nghiên cứu có mức độ chuyên

sâu lớn nhất [189]. Trong cơng trình này, tác giả đã tổng kết và đưa ra danh sách

đầy đủ các loài ve giáp đã được phát hiện ở Việt Nam. Theo đó về đa dạng thành

phần loài ve giáp tại tất cả các địa điểm nghiên cứu được ghi nhận gồm 320 loài và

phân loài, thuộc 163 giống, 62 họ và phân họ, trong đó có 155 lồi lần đầu tiên

được phát hiện cho khu hệ Ve giáp Việt Nam và 120 lồi được mơ tả mới cho khoa

học. Trong cơng trình này tác giả đã đưa ra bộ ảnh chụp và kích thước đo của đa số

các lồi được mơ tả. Từ phân tích kết quả thu được tác giả đánh giá một trong các

đặc trưng địa động vật học của khu hệ ve giáp Việt Nam là tính đa dạng, nó bao

gồm tất cả 8 yếu tố địa động vật thế giới chỉ trừ Nam cực. Thành phần địa động vật

chủ yếu của khu hệ ve giáp Việt Nam là các lồi phương Đơng với 192 lồi đã được

ghi nhận tại Việt Nam. Khu hệ ve giáp Việt Nam có tính đặc trưng cao với 111 lồi

chỉ phát hiện ở Việt Nam [188], [189].

Khu hệ ve giáp Việt Nam gồm 3 vùng chính là phía Bắc, phía Trung và phía

Nam. Giữa ba vùng này luôn tồn tại những điểm khác biệt, thậm chí giữa các phân

vùng trong từng vùng cũng có sự khác biệt. Cấu trúc quần xã ve giáp biến đổi có

liên quan đến vùng địa lý tự nhiên, loại đất và loại sinh cảnh [188]. Qua phân tích

sự biến đổi cấu trúc quần xã ve giáp theo loại sinh cảnh tác giả cho rằng sinh cảnh

trảng cỏ, cây bụi có thể đóng vai trò như hệ sinh thái chuyển hóa cho sự tái thiết lập

cấu trúc quần xã ve giáp ở đất [188]. Đa dạng thành phần loài và mật độ quần thể

của quần xã ve giáp rõ ràng có liên quan đến vùng địa lý, loại đất và hoạt động canh



14



tác [188], [189]. Trong cơng trình này, tác giả cũng nghiên cứu và tổng kết vai trò

của quần xã ve giáp đối với hệ sinh thái đất. Đầu tiên có thể kể đến vai trò phân hủy

xác thực vật, cấu trúc quần xã ve giáp và những biến đổi của chúng có liên quan đến

việc sử dụng các thành phần hữu cơ và phân bón hóa học khác nhau trong sản xuất

nông nghiệp. Do vậy, những cấu trúc này có thể sử dụng như các chỉ thị sinh học

tiềm năng cho sự phát triển bền vững của hệ sinh thái nơng nghiệp [188], [189].

Ngồi ra, sự giảm đa dạng thành phần loài và tăng mật độ quần thể ve giáp có thể

được sử dụng như một chỉ thị sinh học cho sự gia tăng mức độ tác động của con

người đến hệ sinh thái tự nhiên [188], [189].

Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố địa hình có ảnh hưởng rõ rệt đến quần xã

ve giáp và quần xã ve giáp ở tầng thảm lá chịu ảnh hưởng rõ rệt hơn ve giáp ở trong

đất. Tổng kết các cơng trình nghiên cứu của mình và của các tác giả khác tại Việt

Nam, năm 2015 Ermilov đã đưa ra danh sách các loài của khu hệ ve giáp Việt Nam.

Danh sách này gồm 535 loài và phân loài thuộc 222 giống và 81 họ [99]. Tuy nhiên,

nhiều mẫu nghiên cứu ve giáp của nhóm tác giả này thường khơng được thu theo

đường chính thức và rất hiếm khi do tác giả trực tiếp thu tại thực địa. Các dẫn liệu về

điều kiện địa lý và tài nguyên môi trường cũng khơng được họ tham khảo đầy đủ, thiếu

tính pháp lý và đặc biệt là đã sử dụng hoàn tồn sai lệch bản đồ hành chính của nước

CHXHCN Việt Nam. Vì vậy các dẫn liệu về ve giáp Việt Nam và các cộng sự nước

ngoài cần được kiểm tra và chỉnh lý cẩn thận trước khi sử dụng chúng.

Mặc dù số lượng các điểm nghiên cứu về ve giáp tại Việt Nam khá nhiều nhưng

tập trung phần lớn ở phía Bắc. Tại khu vực miền Trung và miền Nam các nghiên cứu

còn rất ít. Theo thống kê của Vũ Quang Mạnh năm 2015, tổng số điểm nghiên cứu

khu hệ động vật ve giáp Việt Nam là 50 điểm, được chia thành 9 vùng trong đó chỉ có

6 điểm nghiên cứu thuộc khu vực miền Trung và miền Nam Việt Nam.

Cùng với các nghiên cứu về khu hệ các tác giả thường kết hợp nghiên cứu sinh

học và vai trò của quần xã ve giáp trong môi trường sinh thái. Đi vào hướng nghiên

cứu này, các tác giả đã tiến hành nghiên cứu quần xã ve giáp ở các điều kiện sinh

thái khác nhau, cụ thể:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bố cục luận án

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×