Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cấu trúc luận văn

Cấu trúc luận văn

Tải bản đầy đủ - 0trang

phương hoặc cá nhân. Q trình biến đổi sử dụng đất có liên quan tới sự thay đổi 

trong sự cung cấp hàng hóa và dịch vụ sinh thái mà xã hội con người phụ thuộc.  

Sự đa dạng lớn trong bối cảnh địa lý và lịch sử có liên quan tới biến đổi sử dụng 

đất và rất nhiều sự phức tạp trong cả hai hệ thống sinh thái và xã hội.

Theo các tác giả  Eric F. Lambin, Patrick Meyfroidt [20], hai động lực cơ 

bản ảnh hưởng tới quyết định sử dụng đất nói chung là: (i) động lực sinh thái –  

xã hội;  và (ii) các động lực kinh tế ­ xã hội. Trong đó, động lực sinh thái – xã hội  

là động lực nội sinh (gồm: sự phát triển có giới hạn của nguồn tài ngun thiên 

nhiên và chu kỳ thích  ứng; sự  thiếu hụt đất đai và thâm canh nơng nghiệp; điều 

chỉnh sử  dụng đất), mang tính địa phương, xuất hiện khi dòng hàng hóa và dịch  

vụ được cung cấp bởi các hệ sinh thái tự  nhiên bị suy giảm nghiêm trọng, khiến 

chúng buộc phải làm chậm hoặc thậm chí đảo ngược sự  biến đổi sử  dụng đất.  

Động lực kinh tế ­ xã hội là các động lực ngoại sinh (gồm: sự hiện đại hóa kinh  

tế, th đất và tiếp cận thị trường, chế độ sở hữu đất đai, thương mại tồn cầu,  

sự phổ biến của các ý tưởng bảo vệ mơi trường tồn cầu), bắt nguồn từ cấp độ 

tổ chức cao hơn, từ khu vực lân cận, hoặc từ các cuộc cải cách địa phương, dẫn  

đến sự chuyển dịch từ mở rộng sử dụng đất sang phục hồi hệ sinh thái tự nhiên 

ở quy mơ quốc gia.

Liên quan tới biến đổi sử  dụng đất, dựa trên 320 nguồn tài liệu từ  sách 

báo, tạp chí trong các lĩnh vực kỹ thuật, vật lý, khoa học xã hội, có những từ “sử 

dụng đất”, “biến đổi sử  dụng đất”, “biến đổi lớp phủ  và sử  dụng đất” hoặc  

“biến đổi lớp phủ  đất” trong tiêu đề  hoặc từ  khóa (có sự  giới hạn đối với một  

khái niệm rộng lớn hơn của các lĩnh vực có sự  tham gia của phương pháp tiếp  

cận quản lý nhân chủng học/mơi trường kết hợp với các chủ  đề  như: cải cách 

đất đai, quyền sử dụng đất, quản lý đất đai và quyền sở hữu, tái định cư, và quan 

điểm cộng đồng về đất đai), các tác giả B. McCusker và E.R.Carr đã tổng kết lại  

4 xu hướng nghiên cứu chính [22]:



19



­ Ngun nhân của sự  biến đổi sử  dụng đất thường được cho là do kết 

hợp lại các động lực được xác định một cách rộng rãi .

­Việc nghiên cứu về ngun nhân của sự thay đổi hướng tới tiếp cận các 

động lực biến đổi mang tính tồn cầu hoặc khu vực. 

­ Biến đổi sử dụng đất thường được coi như  là kết quả  của các q trình  

khác (chính trị, kinh tế, mơi trường), đóng vai trò như  một điều kiện cho những 

q trình  ở  quy mơ địa phương và tồn cầu, thay vì là một q trình được thành 

lập bởi mối quan hệ quyền lực địa phương, khu vực, và quốc gia.

­ Các tài liệu có xu hướng hướng tới nghiên cứu các hộ gia đình (sử  dụng 

phương pháp tiếp cận hệ  thống – gợi nhắc phương pháp tiếp cận văn hóa sinh  

thái tới tương tác con người ­ mơi trường) và kết quả mơ hình hóa. 

Trong đó, đáng lưu ý là các tác giả đã nhận thấy các vấn đề sau:

­ Xu hướng trong lý thuyết biến đổi sử  dụng đất chỉ  dừng lại ở  xác định  

động lực và mơ hình hóa kết quả dựa trên những gì tìm được, mà ít khi đi sâu vào  

ngun nhân tại sao lại là những động lực này làm biến đổi sử dụng đất và cách 

chúng xây dựng mang tính xã hội như thế nào. 

­ Tuy lý thuyết biến đổi sử  dụng đất theo hướng kết quả  mơ hình hóa 

phần nào đáp  ứng nhu cầu thực tế cho việc ra chính sách với các kịch bản biến  

đổi nhưng vẫn có sự hạn chế bởi các mơ hình này khơng thể  nắm bắt được sự 

phức tạp của các động lực dẫn đến những thay đổi về  đối tượng quan sát, và  

như  vậy, việc thực hiện những mơ hình phức tạp nhất bị  giới hạn. Thậm chí, 

việc lập mơ hình hóa dữ liệu ngay cả trong trường hợp chỉ có một động lực điều  

khiển q trình biến đổi sử dụng đất cũng khơng hiệu quả khi có nhiều thay đổi 

được quan sát theo kinh nghiệm, vì chúng bắt đầu ở  quy mơ sai của q trình xã 

hội.



20



1.2. Tổng quan về nghiên cứu sinh kế bền vững

1.2.1. Khái niệm sinh kế và sinh kế bền vững

Liên quan tới lý thuyết về  biến đổi sử  dụng đất, sinh kế  thường được 

hiểu là “khả  năng, tài sản (sự  dự  trữ, nguồn tài ngun, quyền đòi hỏi và tiếp 

cận) và các hoạt động cần thiết cho phương tiện sinh hoạt” [11, 12, 14, 18, 27].  

Theo Ellis [18] ghi chú, những định nghĩa sinh kế này đã chuyển từ thu nhập đơn 

thuần tới một xem xét tồn diện hơn về cách thức kiếm sống của con người.

Trên cơ sở đó, khái niệm sinh kế bền vững cũng được được hình thành (từ 

ý tưởng được đề xuất bởi Ủy ban Brundtland về Mơi trường và Phát triển tới sự 

đề  cập cụ  thể  trong nội dung Agenda 21 tại Hội nghị  về  Mơi trường và Phát 

triển của Liên hợp quốc 1992 hay định nghĩa tổng hợp của Robert Chambers và 

Gordon Conway trong bài “Sustainable Rural Livelihoods: Practical concepts for 

the 21st Century”)và hồn thiện (với cơng trình nghiên cứu sinh kế bền vững của  

Viện Nghiên cứu Phát triển (Institute for Development Studies ­ IDS) tại Đại học 

Sussex, Brighton, UK, và kết quả  nghiên cứu về  áp dụng khái niệm và phương 

pháp tiếp cận sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế của Anh (the British  

Department for International Development ­ DFID) với hai đặc trưng cần thiết, 

cần được đảm bảo đồng thời:

­ Khả năng có thể đương đầu với và phục hồi sau những áp lực và cú sốc  

và duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản hiện tại cũng như trong tương lai,

­ Khơng làm hủy hoại nguồn tài ngun tự nhiên.

1.2.2. Đặc điểm phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững của DFID

Khái   niệm   về   sinh   kế   và   sinh   kế   bền   vững   trên   đã   dẫn   đến   một   số 

phương pháp tiếp cận sinh kế  tập trung chặt chẽ vào truy cập các loại tài sản  

của người dân. Phụ  thuộc vào các tổ  chức sử  dụng, khái niệm này được dùng  

chủ yếu như khung (hoặc cơng cụ) phân tích trong lập kế hoạch chương trình và  

đánh giá hoặc như một chương trình. Tuy nhiên, giữa các phương pháp có 3 đặc  

trưng cơ bản chung: (i) trọng tâm là sinh kế của người nghèo; (ii) thay vì lấy đầu  



21



vào là một ngành cụ thể như nơng nghiệp, nước hoặc y tế như các phương pháp  

thơng thường, cách tiếp cận này bắt đầu với sự  phân tích các hệ  thống sinh kế 

hiện tại của người dân để xác định sự can thiệp thích hợp; (iii) phương pháp sinh 

kế  bền vững chú trọng tới người tham gia trong xác định và thực hiện các hoạt  

động phù hợp [21].

Trong các phương pháp tiếp cận sinh kế  bền vững, phương pháp được 

phát triển tại DFID từ  năm 1998 có trọng tâm là khung sinh kế  bền vững ­ một  

cấu trúc phân tích để tạo điều kiện cho một sự hiểu biết rộng lớn và mang tính 

hệ thống của các yếu tố khác nhau có tác dụng hạn chế hoặc tăng cường cơ hội  

sinh kế và để chỉ ra cách chúng liên quan với nhau [21]. 

Cũng theo Lasse Krantz [21], phương pháp của DFID giúp tăng cường hiệu 

quả của các cơ quan, tổ chức thực hiện trong giảm nghèo theo hai cách:

­ Bằng cách lồng ghép một loạt các ngun tắc chính, trong đó xác định  

các hoạt động phát triển tập trung vào đói nghèo nên lấy trọng tâm là con người, 

có khả  năng đáp  ứng và sự  tham gia, đa cấp độ, thực hiện quan hệ đối tác, bền 

vững và linh động. 

­ Bằng cách áp dụng một quan điểm tồn diện trong chương trình các hoạt 

động hỗ  trợ  để  đảm bảo chúng tương  ứng với các vấn đề  hoặc lĩnh vực liên 

quan trực tiếp để cải thiện sinh kế người nghèo. 

Với khung sinh kế  bền vững, phương pháp này được DFID sử  dụng để 

nhận biết, thiết kế và đánh giá những sáng kiến mới (dự án hoặc chương trình),  

để  đánh giá lại các hoạt động đã có, nhằm thơng báo ý kiến và thảo luận chiến 

lược, và dùng trong nghiên cứu. Phương pháp tiếp cận sinh kế  bền vững của 

DFID khơng phải là một khung chương trình với các bước khác nhau cần được  

thực hiện khi lập kế  hoạch cho những chương trình sinh kế  bền vững rời rạc,  

mà nó thể hiện cách suy nghĩ mới về đói nghèo, tập trung vào sinh kế của người  

nghèo để nhận biết các vấn đề hoặc khu vực cần được đề cập tới trong một tình 

huống cụ thể để giảm đói nghèo [21].



22



*  Khung sinh kế bền vững của DFID

Khung sinh kế  bền vững được DFID xây dựng với các nhân tố: khung  

hồn cảnh dễ  bị  tổn thương, tài sản sinh kế, cấu trúc chuyển đổi và q trình 

thực  hiện,  các  chiến lược sinh kế  và kết quả.Trong  đó,  bối cảnh dễ  bị  tổn  

thương là mơi trường 



Hình 1.1. Khung sinh kế bền vững [17]

bên ngồi mà trong đó con người tồn tại. Sinh kế con người và các tài sản sẵn có 

của họ về cơ bản bị ảnh hưởng bởi những xu hướng, cú sốc hoặc tính mùa vụ ­  

những điều mà họ  hạn chế  được hoặc khơng thể  kiểm sốt được. Trong bối 

cảnh này, cấu trúc chuyển đổi và q trình thực hiện (bao gồm các cơ  quan, tổ 

chức, chính sách và pháp luật) có tác động quyết định tới cách tiếp cận (với các  

loại tài sản sinh kế, chiến lược sinh kế, tới các cơ  quan ra quyết định và các  

nguồn  ảnh hưởng), tới sự trao đổi giữa các loại vốn khác nhau, tới sự  hồn trả 

(kinh tế và các hình thức khác) cho bất kỳ chiến lược sinh kế nào. Thơng qua các  



23



hoạt động và chọn lựa, người dân sẽ  đạt được mục tiêu sinh kế  của họ  với 

những kết quả sinh kế tương ứng [17].

Nhân tố quan trọng, đóng vai trò trung tâm của khung sinh kế bền vững là 

tài sản sinh kế  với 5 loại vốn: con người (kỹ  năng, kiến thức, năng lực để  lao 

động, và sức khỏe tốt),  tự  nhiên  (nguồn tài ngun thiên nhiên),  tài chính  (chủ 

yếu là tiền mặt và các khoản tài chính tương đương, mang tính sẵn có hoặc được 

cung cấp thường xun),  vật chất (cơ  sở  hạ  tầng cơ  bản và cơng cụ  sản xuất  

hàng hóa cần thiết để hỗ trợ sinh kế), xã hội (các mạng lưới và các mối liên kết 

với nhau, tính đồn hội của các nhóm chính thức; và mối quan hệ dựa trên sự tin  

tưởng, sự  trao đổi và  ảnh hưởng lẫn nhau) [17]. Trong đó, đất đai được coi là 

vốn tự  nhiên, “các cơ  sở  tài ngun thiên nhiên (đất, nước, cây xanh) mang lại 

sản phẩm được sử  dụng bởi lồi người cho sự  sống còn của họ”, mặc dù một  

cánh đồng được cải thiện cũng có thể  hiểu dưới tiêu đề  của vốn vật chất, loại 

vốn thường bao gồm “các tài sản được đưa vào sự tồn tại bởi q trình sản xuất  

kinh tế” [18]. Về mặt hình học, 5 loại tài sản này được mơ tả như một hình ngũ  

giác để nhấn mạnh mối liên kết của chúng và thực tế  là sinh kế  phụ  thuộc vào 

sự  kết hợp của rất nhiều loại tài sản. Vì vậy, một phần quan trọng trong phân  

tích là tìm ra cách tiếp cận của người dân với các loại tài sản khác nhau và khả 

năng của họ để đưa các tài sản vào sử dụng hiệu quả. 

1.3. Tổng quan về mối quan hệ giữa biến đổi sử dụng đất và sinh kế

1.3.1. Trên thế giới

Mối quan hệ  giữa biến đổi sử  dụng đất và sinh kế  thường được nghiên  

cứu theo hướng một chiều, tức là nhân tố  này đóng vai trò tác động, gây ra sự 

thay đổi cho nhân tố  kia, mà ít có sự  quan tâm tới tác động ngược lại, thậm chí  

chúng còn được nghiên cứu riêng biệt, khơng có mối liên quan với nhau. Kết quả 

nghiên cứu của các tác giả  B. McCusker và E.R. Carr [22] là minh chứng rõ ràng 

và cụ thể cho điều này. Cụ thể, trong số 209 tài liệu tham khảo được xác định có 

liên quan tới sinh kế chỉ có 5% (12) giải quyết biến đổi sử  dụng đất (tập trung  



24



vào các q trình của sự biến đổi, khơng phải khái niệm rộng rãi về đất như đầu  

vào của hệ  thống sinh kế) trong các bối cảnh sinh kế  và 11% (35) trong số  320 

nguồn tài liệu về biến đổi sử  dụng đất có tham chiếu cụ thể tới khái niệm sinh  

kế bất kỳ. Hệ quả của hướng nghiên cứu này được các tác giả  B. McCusker và 

E.R. Carr đưa ra:

­ Bằng cách coi thay đổi sử dụng đất như là kết quả của một vài động lực 

chính trị, kinh tế, mơi trường, các tài liệu sử  dụng đất đã vơ tình che khuất câu 

chuyện làm thế nào và tại sao con người tương tác với mơi trường của họ  theo  

những cách nhất định và lý do tại sao kết quả  từ  cùng một hành động trong  

khơng gian hoặc quy mơ có thể khác nhau nhiều như vậy. 

­ Lý thuyết sinh kế  xử  lý các mối liên kết giữa sinh kế, đặc biệt là đa 

dạng hóa, và sử dụng đất như là một trong những ngun nhân và tác động. Cách 

xử lý này xuất hiện khi thay đổi trong sinh kế dẫn tới biến đổi trong sử dụng đất 

theo hai cách. Đầu tiên, lý thuyết sinh kế có xu hướng xử lý biến đổi sử dụng đất 

như một đầu vào đối với sinh kế của hộ gia đình hoặc là một kết quả của sự đa  

dạng hóa, trừ trường hợp các lực ngoại sinh như biến đổi khí hậu, thay đổi kinh 

tế hoặc can thiệp của chính sách chính phủ. Do đó, sinh kế thường được ưu tiên 

trong mối quan hệ sinh kế ­ sử dụng đất, với yếu tố phía sau (sử dụng đất) được  

coi như  một cơ  hội hoặc hạn chế yếu tố phía trước (sinh kế) thơng qua những  

phản hồi. Thứ hai, các vấn đề của xã hội và quyền lực thường được đưa vào các  

cuộc thảo luận của mối quan hệ sử dụng đất và sinh kế trong điều kiện truy cập  

vào vốn vật chất và tự  nhiên thơng qua các mạng lưới của vốn xã hội.  Ở  đây,  

vốn xã hội được coi như có một vai trò định hình trong sử dụng đất với ít sự xem  

xét hơn về các cách thức sử dụng đất có thể ảnh hưởng tới vốn xã hội, ngoại trừ 

trong điều kiện thiếu đất hoặc xung đột về việc tiếp cận với các nguồn lực. 

Trước thực tế nghiên cứu này, các tác giả đã đề xuất ý tưởng kết nối giữa 

sử  dụng đất và sinh kế theo hướng hợp tác sản xuất, tức là coi sử  dụng đất và 

sinh kế là những biểu hiện khác nhau của các q trình xã hội mà theo đó các cá 



25



nhân và các nhóm hiểu các thách thức thường ngày trong cuộc sống của họ, các 

dạng vốn khác nhau sẵn có để họ thương lượng với thử thách, và các chiến lược  

mà họ  có thể  tiến hành.  Ở  đây, sử  dụng đất và sinh kế  đều đóng vai trò quyết 

định trong xác định các vấn đề  và đề  ra chiến lược giải quyết các vấn đề  đó 

[22]. Các tác giả  đã cố  gắng thách thức những giả  định tồn tại giữa các cộng  

đồng về cách sử dụng đất và sinh kế có liên quan, và trình bày một cấu trúc thay  

thế  của mối liên hệ  này, mà nó có thể phục vụ  như  một hướng dẫn cho nghiên 

cứu tương lai và chuẩn mực cho các cuộc thảo luận tiếp theo. Tóm lại, hướng 

nghiên cứu này tuy còn cần nhiều kiểm chứng thực tế (bởi với mỗi khu vực lại  

có những đặc trưng riêng về  tự  nhiên, kinh tế, xã hội), nhưng đã chỉ  ra một 

hướng mới, có tiềm năng trong phân tích mối tương tác giữa sử dụng đất và sinh  

kế.

1.3.2. Tại Việt Nam

Như  trên đã phân tích, các nghiên cứu tại Việt Nam cũng theo xu hướng  

tập trung phân tích một yếu tố là sử  dụng đất hoặc sinh kế, mà ít quan tâm tới  

mối liên hệ qua lại giữa chúng. Để có thể phân tích được mối quan hệ này, bên 

cạnh khả năng có thể coi sử dụng đất và sinh kế như biểu hiện của q trình xã 

hội, yếu tố thời gian và khơng gian cũng cần được xem xét, bởi sự  biến đổi nói 

chung diễn ra liên tục theo thời gian, và tại những vị  trí, khu vực khác nhau thì 

các yếu tố lại có sự ảnh hưởng lẫn nhau theo những cách khác biệt.

Tại Việt Nam, một dấu mốc quan trọng đánh dấu sự thay đổi quan trọng  

trong nền kinh tế  xã hội nói chung cũng như  biến đổi sử  dụng đất và sinh kế 

người dân tại nơng thơn nói riêng là thời kỳ Đổi mới. Cuộc cải cách kinh tế này  

tại Việt Nam chính thức bắt đầu với các nghị  quyết của Đại hội Đảng lần thứ 

VI năm 1986. Đại hội đã thừa nhận một số  sai lầm trong thời kỳ  kinh tế  kế 

hoạch hố tập trung, đưa ra những cải cách và định hướng để từng bước xố bỏ 

những sai lầm và hướng tới sự tự do hố nền kinh tế. Thời kỳ Đổi mới giúp tăng 

năng suất quốc gia, kích thích đầu tư trực tiếp nước ngồi, và hiện đại hóa cơ sở 



26



hạ tầng đất nước. Các thành phần nổi bật nhất của cuộc cải cách là: (1) bãi bỏ 

chăn  ni tập  thể;  (2)  cải  cách  giá  nơng  nghiệp; (3)  thành  lập các   khu cơng  

nghiệp, khu chế xuất, khu cơng nghệ cao; (4) chính sách thu hút đầu tư trực tiếp 

nước ngồi và hỗ trợ phát triển chính thức; (5) sự phân quyền của chính sách tài 

chính; (6) sự  đẩy mạnh các doanh nghiệp vừa và nhỏ; (7) cải cách quyền sử 

dụng đất; (8) thành lập thị trường đất đai [28]. Theo tác giả  Trần Thị  Quế [26],  

q trình cải cách diễn ra với những đặc trưng sau: (i) bắt đầu trong lĩnh vực 

nơng nghiệp; (ii) xuất phát từ  các u cầu của nơng dân (q trình từ  dưới lên); 

(iii) mangđặc trưng kinh tế, đáp  ứng lợi ích kinh tế  của người dân; (iv) trải qua 

một q trình dần dần, bắt đầu với yếu tố  quan trọng nhất của sản xuất nơng  

nghiệplà đất đai, sau đó đến một sự thay đổi trong hệ thống quản lý đất đai mà  

theo sau là các thay đổi thể  chế  khác; (v) diễn ra chậm nhưng tồn diện. Hiện 

nay nền kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng rất nhanh, và được xem là một quốc  

gia thành cơng trong q trình chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hố tập trung 

sang nền kinh tế thị trường. Việc thực hiện một loạt các cải cách căn bản năm 

2000 bao gồm Luật Doanh nghiệp mới; Luật Đầu tư nước ngồi sửa đổi và việc 

ký kết Hiệp định thương mại song phương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam vào năm  

2000 (thực hiện năm 2001) là những bằng chứng cho thấy mơi trường đầu tư  đã 

được cải thiện. Điều này cho phép Việt Nam có được tăng trưởng kinh tế nhanh  

trong những năm gần đây. Thêm vào đó, một loạt các chỉ số xã hội đã minh hoạ 

cho những cải thiện đáng kể trong đời sống con người Việt Nam [6].

Như  vậy, để  có thể  tìm hiểu mối quan hệ  giữa biến đổi sử  dụng đất và  

sinh kế của người dân tại nơng thơn Việt Nam, Đổi mới chính là xuất phát điểm  

cơ bản. Trong đó, các chính sách đất đai đóng vai trò quan trọng bởi như  trên đã  

nêu, cuộc cải cách kinh tế nói chung và cải cách nơng nghiệp nói riêng bắt đầu từ 

đất đai. “Đất đai và các chính sách liên quan đến đất đai có tác động trực tiếp đến 

đời sống của người dân thơng qua những  ảnh hưởng đến việc sở  hữu đất đai; 

quy mơ và sự  manh mún ruộng đất; sử  dụng đất; thị  trường tín dụng và thị 



27



trường đất đai; thị  trường các yếu tố  đầu vào và sản phẩm đầu ra và phát triển  

cơng nghệ” [6]. Bên cạnh đó, cuộc cải cách mang đặc trưng từ  dưới lên, tức là  

xuất phát từ nhu cầu thực tế cần thay đổi của người nơng dân nên vai trò của họ 

trong quyết định sử dụng đất đai cũng là một yếu tố khơng thể phủ nhận được. 

Ví dụ, trong các điều kiện để tiến hành sử dụng đất linh hoạt, tính chủ động của  

người nơng dân có vai trò quyết định. Người nơng dân phải có những điều kiện 

cần thiết để  nhận thức và có thể  thay đổi kiểu sử  dụng đất. Điều này chịu tác  

động bởi chính sách của Chính phủ và cả nguồn tài chính, trình độ kỹ thuật, khả 

năng nhận thức, trình độ chun mơn của các nơng hộ [6].

Kết luận:

Qua phần tổng quan chung về  từng vấn đề  cũng như  mối quan hệ  giữa  

biến đổi sử dụng đất và sinh kế, một số kết luận sau có thể được rút ra:

­ Việc xác định mối quan hệ giữa biến đổi sử dụng đất và sinh kế diễn ra 

theo xu hướng một chiều (yếu tố  này là hệ  quả  của yếu tố  kia) hay hai chiều  

(hai yếu tố đều đóng vai trò quan trọng chi phối lẫn nhau) khá phức tạp. Những 

nghiên cứu hiện nay, đặc biệt là trong lý thuyết sinh kế, diễn ra theo xu hướng  

thay đổi trong sinh kế dẫn tới biến đổi sử  dụng đất, mà ít có sự xem xét trường  

hợp ngược lại, trừ một vài trường hợp như thiếu đất hay xung đột trong tiếp cận  

các nguồn lực.Hướng nghiên cứu này khơng sai nhưng chưa đầy đủ, nhất là khi 

sự biến đổi diễn ra trong một thời gian dài trong cùng 1 khu vực hoặc tại các khu 

vực địa lý khác nhau.Nói cách khác, để có thể xác định mối quan hệ cụ thể giữa  

biến đổi sử dụng đất và sinh kế cần xét đến yếu tố thời gian và khơng gian.

­ Phương pháp sinh kế bền vững của DFID với trọng tâm là khung sinh kế 

bền vững thường được sử dụng trong các nghiên cứu về sinh kế, mà đa dạng hóa 

sinh kế là một trong những chiến lược sinh kế tiềm năng. Phương pháp tiếp cận 

này được sử  dụng như  một khung phân tích, thay vì một chương trình với các 

bước cần thực hiện, nhằm hướng tới mục đích “nếu người dân được tiếp cận  

tốt hơn với tài sản thì họ sẽ có khả  năng tác động tới cấu trúc và quy trình thực 



28



hiện để  đáp  ứng tốt hơn nhu cầu của họ” [12].  Ưu điểm của phương pháp này  

còn nằm  ở  chỗ  mặc dù phân tích sinh kế  người dân diễn ra  ở  cấp hộ  gia đình 

nhưng khơng chỉ dừng lại ở xác định hạn chế và cơ hội để từ đó khắc phục, mà  

còn nhằm có được sự  hiểu biết về  cách thức hoạt động của các yếu tố  chính 

sách và thể chế khác [21].

­ Với đặc trưng phát triển kinh tế ­ xã hội từ khi giải phóng đất nước đến 

nay, nghiên cứu liên quan tới biến đổi sử dụng đất và sinh kế  tại Việt Nam nên 

xuất phát từ  thời kỳ  Đổi mới. Trong thời kỳ  này, hàng loạt chính sách đã được  

chính phủ  ban hành, mà xuất phát điểm chính là những cải cách đất đai, từ  đó  

dẫn tới thay đổi đáng ghi nhận trong nơng nghiệp và các ngành nghề  khác. Tác 

động của chính sách này chính là động lực sâu xa cho những biến chuyển về đất 

đai cũng như sinh kế của người dân, đặc biệt ở nơng thơn Việt Nam.

1.4. Tổng quan các cơng trình nghiên cứu tại xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì,  

thành phố Hà Nội

Tản Lĩnh là một xã thuộc vùng đệm (buffer zone) của Vườn Quốc gia Ba 

Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Vì vậy, những cơng trình, dự  án nghiên cứu 

từng được thực hiện tại đây khá chú trọng tới sự  sử  dụng đất và sinh kế  của 

người dân, mà sau đây là một số ví dụ:

­



Nghiên cứu của các tác giả  D.A. Gilmour và Nguyen Van San về quản lý 

vùng đệm tại Việt Nam, trong đó dựa trên những kết quả điều tra về điều  

kiện tự  nhiên, kinh tế  xã hội từ  cấp quốc gia tới cấp xã (trong đó có sử 

dụng đất và các hoạt động sản xuất tại xã Tản Lĩnh) để  đưa ra hướng 

quản lý phù hợp cho vùng đệm xung quanh những khu vực được bảo tồn  

như  Vườn quốc gia Ba Vì (Gilmour D.A, Nguyen Van San (1999), “Buffer  

zone   management  in   Vietnam”,   IUCN   –  The   world   conservation  union  – 

Vietnam programme).



­



Nghiên cứu của các tác giả Lê Phương Thúy, Japp Zevenbergen, Christiaan 

Lemmen, Harry Uitermark, Trần Quốc Bình về sự phù hợp giữa hệ thống  



29



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cấu trúc luận văn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×