Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cơ sở dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

biến đổi sử  dụng đất và thay đổi sinh kế  cộng đồng  ở  đồng bằng sơng Hồng”  

(DANIDA) của Trung tâm quốc tế nghiên cứu biến đổi tồn cầu, Đại học Quốc 

gia Hà Nội.

­ Số liệu thống kê kinh tế xã hội xã Tản Lĩnh năm 2008 và 2009.

­ Ảnh vệ tinh Landsat các năm 1993, 2005, và 2010 tại khu vực nghiên cứu.

­ Bản đồ nền xã Tản Lĩnh năm 2005

Phương pháp nghiên cứu

­  Phương pháp 1: Phương pháp điều tra nhanh nơng thơn có sự  tham  

gia của người dân

Phương  pháp  điều  tra   nhanh  nơng  thơn  có   sự   tham  gia   của   người   dân 

(Participatory Rural appraisal – PRA), sau đây sẽ gọi tắt là phương pháp PRA, là 

một phương pháp hệ thống bán chính quy được tiến hành ở một địa điểm cụ thể 

bởi một nhóm liên ngành và được thiết kế để thu thập được những thơng tin cần 

thiết và những giả thuyết cho sự phát triển nơng thơn. Mục tiêu của phương pháp  

này là xã hội có thể  chấp nhận, có hiệu quả  kinh tế, và hệ  sinh thái phát triển  

bền   vững.   PRA   giả   định   rằng   sự   tham   gia   tích   cực   của   các   cộng   đồng   địa 

phương vào suốt các tiến trình của các chương trình/ đề  án phát triển nơng thơn  

là yếu tố quyết định sự thành cơng. Các đặc điểm của PRA bao gồm: sự bỏ qua  

tối  ưu (tránh những chi tiết và độ  chính xác khơng cần thiết cũng như  việc thu 

thập q nhiều số liệu khơng thật sự cần cho mục đích của PRA), tính đa dạng  

của phân tích hay tam giác (tam giác được xây dựng trong mối liên hệ với cơ cấu  

nhóm cơng tác, các nguồn thơng tin về con người, địa điểm… và phối hợp các kỹ 

thuật), nhóm liên ngành, tính phối hợp các kỹ  thuật, tính linh hoạt và khơng bắt  

buộc, sự tham gia của cộng đồng, và cân bằng định kiến [23].

Các kỹ thuật đánh giá nhanh nơng thơn với sự tham gia của người dân có 

thể  được lựa chọn và áp dụng để  phù hợp với các giai đoạn khác nhau hoặc là  

của khuyến nơng, nghiên cứu hay các chương trình phát triển chung, từ giai đoạn  

đánh giá những nhu cầu ban đầu, đến theo dõi đánh giá và cuối cùng là giai đoạn 



11



áp dụng thực hiện của bất kỳ một đề án nào. Cụ thể, trong đề tài này, PRA được  

sử dụng trong giai đoạn đầu của dự án “Tác động của biến đổi khí hậu đến biến  

đổi   sử   dụng   đất   và   thay   đổi   sinh   kế   cộng   đồng   ở   đồng   bằng   sơng   Hồng” 

(DANIDA) của Trung tâm quốc tế nghiên cứu biến đổi tồn cầu, Đại học Quốc 

gia Hà Nội. Trong đó, trình tự tiến hành theo các bước chính: 

­



Chọn   điểm   và   thông   qua   các   thủ   tục,   cho   phép   của   chính   quyền   địa  

phương



­



Tiền trạm điểm để khảo sát



­



Điều tra chọn mẫu để thu thập thơng tin: khơng gian, thời gian (giai đoạn 

2005 – 2011), đặc điểm kinh tế ­ xã hội.



­



Tổng hợp số  liệu và phân tích các vấn đề  phục vụ  cho mục tiêu nghiên 

cứu.

Trong đó, trong giai đoạn điều tra chọn mẫu, riêng tại xã Tản Lĩnh, số hộ 



mẫu được lựa chọn tại 13 thơn trung bình là 15 hộ/thơn với tổng số  là 198 hộ,  

dựa trên danh sách cử  tri bầu cử  hội đồng nhân dân cấp xã năm 2011 và theo  

phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên.

­ Phương pháp 2: Phương pháp khảo sát thực địa

Việc khảo sát thực địa được thực hiện vào tháng 4/2011 và tháng 9/2012 

nhằm mục đích kiểm chứng các mẫu giải đốn, kiểm tra độ  chính xác của các  

yếu tố  địa lý của khu vực, độ  chính xác của các ranh giới sử dụng đất, bổ  sung 

các yếu tố địa vật đặc trưng hay các yếu tố kinh tế ­ văn hóa ­ xã hội mà khơng  

thể đốn nhận được ở trong phòng. Tuyến thực địa được thực hiện dọc theo trục  

đường giao thơng chính xun qua xã Tản Lĩnh. Việc cập nhật hiện trạng và 

biến động sử dụng đất năm 1993, 2005 và 2010 được kết hợp giữa khảo sát thực  

địa, đo GPS xác định điểm và ranh giới khu vực và lấy thơng tin từ cán bộ, người  

dân địa phương. Dựa vào kết quả  đo vẽ  ngồi thực địa và bản đồ  nền xã Tản 

Lĩnh



 



năm



 



2005,



 



12



bản



 



đồ



 



hiện



trạng sử dụng đất các năm 1993, 2005 và 2010 được đối chiếu, kiểm tra độ chính  

xác và hiệu chỉnh thành bản đồ hồn chỉnh.

­ Phương pháp 3: Phương pháp viễn thám và GIS

Với dữ liệu là ảnh vệ tinh độ phân giải trung bình Landsat, q trình phân 

loại  ảnh dựa theo phương pháp phân loại có giám sát (supervised classification)  

với thuật tốn phân loại hợp lý tối đa (Maximum Likelihood) sử dụng phần mềm 

Envi 4.7. Phân loại theo phương pháp này coi số liệu thống kê của mỗi lớp trong  

mỗi kênh ảnh được phân tán một cách thơng thường và phương pháp này có tính 

đến khả  năng một pixel thuộc một lớp nhất  định. Nếu như  khơng chọn một  

ngưỡng xác suất thì sẽ  phải phân loại tất cả  các pixel. Mỗi pixel được gán cho  

một lớp có độ  xác suất cao nhất (maximum likelihood). Phương pháp này cho 

rằng các band phổ  có sự  phân bố  chuẩn và các pixel sẽ  được phân loại vào lớp  

mà nó có xác suất cao nhất. Việc tính tốn khơng chỉ dựa vào giá trị khoảng cách 

mà còn dựa vào cả xu thế biến thiên độ  xám trong mỗi lớp. Đây là một phương  

pháp phân loại khá chính xác nhưng đòi hỏi nhiều thời gian tính tốn và phụ 

thuộc vào sự phân bố chuẩn của dữ liệu.

Việc giải đốn ảnh dựa trên hai nhóm chính là các yếu tố ảnh và các yếu 

tố địa kỹ thuật:

­   Các   yếu   tố   ảnh   (photo   elements):   gồm   t ơn   ảnh (tone),   hoa   văn 

ảnh( texture), kiểu mẫu ( Pattern), hình dạng (Shape); kích thước (Size); bóng 

râm( Shadow); vị trí (Site); màu (Colour). 

Trong đó, tơn ảnh là dấu hiệu quan trọng để xác định đối tượng. Sự khác 

biệt của tơn ảnh phụ thuộc vào nhiều tính chất khác nhau của đối tượng. Những  

khu vực ngập nước như hồ, biển, sơng phản xạ ánh sáng rất yếu, nên sẽ có màu  

đen trên  ảnh. Những nơi canh tác nơng nghiệp như  ruộng lúa nước có màu xám 

trên ảnh. Tơn ảnh chỉ thị đặc điểm về thành phần vật chất và độ ẩm của đất đá. 

Cách phân loại tơn  ảnh mang tính chất tương đối, nên chỉ  có thể  so sánh đối 

chiếu tơn  ảnh của một loạt  ảnh chụp trong cùng một điều kiện. Nói chung tơn 



13



ảnh



 



sáng



 







 



liên



 



quan



 



với



 



các



 



vùng



đất đá hạt thơi, thốt nước tốt. Tơn  ảnh sẫm liên quan tới các vùng đất đá hạt 

mịn, thốt nước kém. 

Ngồi ra, màu của đối tượng trên ảnh màu giả (FCC) cũng là yếu tố quan 

trọng, giúp cho người  giải đốn có thể  phân biệt nhiều đối tượng có đặc điểm  

tơn ảnh tương tự như nhau trên ảnh đen trắng. Tổ hợp màu giả thơng dụng trong 

ảnh Landsat là xanh lơ  (blue), xanh lục (green) và đỏ  (red) thể  hiện các nhóm  

yếu tố  cơ  bản là: thực vật từ  màu hồng đến màu đỏ, nước xanh lơ  nhạt đến  

xanh lơ  xẫm; đất trống, đá lộ  có màu trắng. Ngồi ra, một số  đối tượng khác  

cũng có màu đặc biệt: đơ thị màu xanh lơ, đất trồng màu có cây vụ đơng các loại 

màu hồng đến màu vàng. Ngồi 3 tổ  hợp màu giả  đã nêu trên, rất nhiều tổ  hợp 

màu giả khác có thể tạo ra bằng phương pháp quang học ( dùng các tấm lọc màu) 

hoặc bằng kỹ thuật xử lý ảnh số để phục vụ cho giải đốn ảnh.

­   Các yếu tố  địa kỹ  thuật ( Geotechnical elements): gồm địa hình, thực  

vật, hiện trạng sử dụng đất, mạng lưới sơng suối, hệ  thống các khe nứt lớn và  

các yếu tố dạng tuyến, và sự tổ hợp các yếu tố giải đốn. Trong đó, địa hình cho  

phép phân biệt sơ bộ các yếu tố trên ảnh, từ đó định hướng rất rõ trong phân tích. 

Sự  phân bố  của một kiểu thảm thực vật và đặc điểm của nó (mật độ  tán che,  

sinh khối ) là một dấu hiệu quan trọng để  phân biệt đối tượng. Hiện trạng sử 

dụng đất cung cấp những thơng tin quan trọng để xác định các đối tượng (Ví dụ:  

lúa một vụ­ vùng bồi cao, lúa hai vụ ­ vùng thấp thường xun vừa đủ  nước­ đó 

là các đồng bằng phù sa). Mạng lưới sơng suối có quan hệ rất mật thiết với dạng  

cấu hình, độ dốc, lớp vỏ  phong hóa, nền thạch học, đồng thời nó cũng cho biết 

đặc điểm cấu trúc địa chất của khu vực. Những thơng số  của hệ  thống khe nứt  

cần được xem xét đến là hướng, mật độ, hình dạng, độ  lớn, giúp xác định và  

phân biệt rất nhiều đối tượng, đồng thời cũng là thơng số để đánh giá đối tượng.  

Ngồi ra, trong q trình giải đốn, bên cạnh việc phân tích các yếu tố  riêng lẻ 

còn xem xét đến sự tập hợp trong khơng gian của từng nhóm yếu tố. Sự tập hợp 



14



đó có thể tạo nên một dạng hay một kiểu địa hình, từ đó giúp người giải đốn có  

thể hiệu chỉnh, loại bỏ những sai sót và nâng cao  độ chính xác.

Trình tự phân loại ảnh gồm các bước sau:

Bước 1: Xác định số loại thơng tin cần phân chia trong khu vực, các loại  

cần được định nghĩa rõ ràng về mặt chỉ tiêu, các chỉ tiêu này cần được lựa chọn  

có tính đến đặc thù của dữ  liệu  ảnh vệ  tinh ( thời gian thu nhận  ảnh, độ  phân  

giải không gian, phổ…)

Bước 2: Tuyển chọn các đặc trưng bao gồm các đặc trưng về phổ của đối 

tượng (ảnh đa phổ), biến động về thời gian (ảnh đa thời gian) hoặc cấu trúc cụ 

thể  của đối tượng nhằm thiết lập tiêu chuẩn cho phép phân biệt giữa các loại 

quan tâm (xử lý riêng rẽ hoặc phối hợp với nhau ).

Bước 3: Chọn vùng mẫu trên  ảnh bao gồm dữ  liệu tương  ứng với vùng 

mẫu được khảo sát thực địa hoặc từ những dữ liệu cần thiết được lựa chọn dựa 

trên bước 1 và bước 2. Các số  liệu được lấy trên cơ  sở  vùng mẫu có ý nghĩa  

quyết định trong việc thành lập các chỉ tiêu và luật quyết định trong phân loại, từ 

đó chọn thuật tốn thích hợp là thuật tốn hợp lý tối đa của phương pháp có giám 

định, còn gọi là phân loại giám sát.

Bước 4: Ước tính thống kê vùng mẫu nhằm xác định các giá trị tương ứng 

với loại phổ  trong khơng gian đặc trưng của đối tượng quan tâm, từ  đó áp dụng 

nhiều phương pháp phân loại khác nhau  ứng với vùng mẫu và so sánh kết quả 

đạt được nhằm tìm thuật tốn tối ưu cho cho kết quả phân loại.

Bước 5: Thực hiện phân loại, các pixel sẽ được phân tuần tự vào các loại 

tương ứng đã xác định. 

Bước 6: Ảnh sau khi phân loại được làm trơn bởi các thuật tốn lọc, đây là 

giai đoạn hậu xử lý sau khi phân loại.                                                        

Bước 7: Kiểm tra phân loại để  đánh giá độ  chính xác và mức độ  tin cậy  

của  ảnh sau khi phân loại. Kết quả  phân loại được kiểm tra bằng cách so sánh 



15



ảnh phân loại với dữ  liệu tham khảo đã có (bản đồ  nền xã Tản Lĩnh năm 2005  

và dữ liệu đo GPS ngồi thực địa).        

Bản đồ  hiện trạng sử  dụng đất xã Tản Lĩnh năm 1993, 2005 và 2010 sẽ 

được sử dụng làm đầu vào cho cơng đoạn thành lập bản đồ  biến động sử  dụng  

đất trong phần mềm Arcgis desktop 10.0. Để  tạo ra được bản đồ  biến động sử 

dụng đất thì đề  tài đã sử  dụng cơng cụ  Intersect (giao nhau giữa các đối tượng 

trên hai lớp khác nhau tạo thành nhiều đối tượng mới nhỏ  hơn có tất cả  các 

thuộc tính của 2 layer).

­ Phương pháp 4: Phương pháp phân tích nhân tố

Phân tích nhân tố  là mơ hình tốn học cho phép đưa số lượng lớn chỉ tiêu  

quan trắc về một số các nhân tố mà chỉ bị mất mát một phần những thơng tin ban 

đầu. Các nhân tố là những tổ  hợp tuyến tính của các chỉ  tiêu quan trắc. Trên cơ 

sở các nhân tố  này, ta có thể  tính được các chỉ  số tổng hợp mang thơng tin khái  

qt mới về chất [1]. 

Phân tích nhân tố được sử dụng trong các trường hợp sau:

­ Nhận diện các khía cạnh hay nhân tố  giải thích được các liên hệ  tương 

quan trong một tập hợp biến.

­ Nhận diện một tập hợp gồm 1 số lượng biến mới tương đối ít khơng có  

tương quan với nhau để thay thế tập hợp biến gốc có tương quan với nhau nhằm  

thực hiện phân tích đa biến tiếp theo.

­ Để chọn ra một tập hợp con gồm các biến nổi trội từ một tập hợp nhiều  

biến nhằm sử dụng trong các phân tích đa biến kế tiếp.

Trong đề tài này, phương pháp phân tích nhân tố được sử dụng là phân tích  

trục thành phần chính (Principal Component Analysis – PCA). PCA là cơng cụ 

phân tích nhân tố sử dụng với mục đích giảm dữ liệu. Thuật tốn PCA tìm kiếm 

sự  kết hợp tuyến tính giữa các biến mà phương sai của chúng đạt cực đại. Sau 

đó, loại bỏ  phương sai này ra khỏi mơ hình và cố  gắng tìm kiếm sự  kết hợp  

tuyến tính thứ hai để có thể giải thích tối đa phần còn lại của phương sai và q 



16



trình tiếp tục được thực hiện tới khi tất cả  các phương sai được loại trừ  hết.  

Đây được gọi là phương pháp trục thành phần chính và kết quả  là các nhân tố 

trực giao (do vậy khơng có quan hệ).

Hiển thị  PCA được thực hiện với mục đích giảm số  lượng lớn các biến 

gốc sẵn có (lớn hơn 150 biến) xuống một số lượng ít hơn các nhân tố  cho mục  

đích mơ hình và giải đốn. Do số lượng trường hợp trong cơ sở dữ liệu này nhỏ 

(N=13), nên chỉ  một số  biến giới hạn được sử  dụng trong phép PCA mang lại  

kết quả  có ý nghĩa. Nói cách khác, “chỉ cần tính cộng đồng (communalities) cao, 

số lượng các nhân tố dự kiến tương đối nhỏ, và mơ hình lỗi thấp (một điều kiện 

thường đi với tính cộng đồng cao), các nhà nghiên cứu và đánh giá khơng nên q 

quan tâm về kích thước mẫu nhỏ [25], hay “dữ liệu mạnh trong phân tích nhân tố 

có nghĩa là tính cộng đồng mang tính thống nhất cao, mà khơng có tải trọng chéo,  

cộng thêm một số tải trọng biến mạnh trên mỗi nhân tố [15]. Đề tài đã thực hiện  

qua nhiều lần thử  chứng tỏ  để  có một ma trận với tương quan khơng q tồi, 

mỗi một lần phân tích khơng nhiều hơn 6 hoặc 7 biến. Có thể  nói là dị  thường 

trong ma trận tương quan nảy sinh khi hai hoặc nhiều biến trong mơ hình được 

loại bỏ hồn tồn.

Mức độ đầy đủ  của mẫu theo thống kê Kaiser­Meyer­Olkin (KMO) được  

sử  dụng trong việc chọn biến. KMO giúp việc đốn liệu dữ  liệu thể hiện có là 

nhân tố khơng, trên cơ sở các quan hệ và bán quan hệ. KMO có giá trị từ 0 đến 1. 

SPSS tính KMO tập hợp theo từng KMO cho mỗi biến thành phần trong PCA. 

Theo tác giả  Jullie Pallant [24], KMO tập hợp cần phải lớn hơn hoặc bằng 0.6  

mới nên đưa vào phân tích nhân tố, kể cả PCA. Mỗi KMO đơn lẻ được sử dụng 

để  xác định biến nào có thể  loại ra trong q trình phân tích, những KMO nhỏ 

nhất được loại trước, sau đó chạy lại PCA đến khi KMO tập hợp đạt u cầu. 

Sau khi đã ép được theo u cầu và chấp nhận giải pháp cuối cùng, cần phải  

quyết định  những nhân tố nào nên được giữ lại trong phân tích. Ví dụ trong luật 

Kaiser, tiêu chí được sử dụng là các thành phần được giữ  lại cần phải có giá trị 



17



eigen lớn hơn 1. Điều quan trọng là khả  năng hiểu được của các nhân tố. Nói 

cách khác, các thành phần  được  giữ  lại cần phải có ý nghĩa thực tiễn trong  

nghiên cứu. Cuối cùng, các nhân tố  trong bảng được đưa ra Excel và lưu dưới  

dạng   DBF   (khn   dạng   của   dBASE   IV).   Dữ   liệu   kết   quả   được   nhập   vào  

ArcGIS. Việc kết hợp giữa các lớp thơng tin địa lý và bảng số liệu giúp hiển thị 

lại kết quả của PCA theo khơng gian. Hiển thị này được trình bày trên nền mầu 

đồ  giải với màu lạnh khi nhân tố  nhỏ  hơn 0 và màu nóng khi giá trị  cao. Mỗi  

thành phần được thể hiện trên bản đồ bằng cơng cụ ArcGis.

6. Cấu trúc luận văn

Luận văn bao gồm 3 phần chính. Trong đó, chương đầu tiên tổng quan các 

vấn đề lý luận chung về biến đổi sử  dụng đất, sinh kế bền vững, mối quan hệ 

giữa biến đổi sử  dụng đất và sinh kế, đồng thời tổng quan lại các cơng trình  

nghiên cứu được thực hiện tại xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố  Hà Nội. 

Chương tiếp theo nêu các đặc điểm tự  nhiên, kinh tế  xã hội tại khu vực nghiên 

cứu và phân tích biến động sử dụng đất giai đoạn 1993 – 2010 tại đây. Chương 

cuối phân tích mối quan hệ  giữa biến đổi sử  dụng đất nơng nghiệp và sinh kế 

của người dân tại xã Tản Lĩnh, từ  đó nêu những đánh giá về  các loại hình sinh  

kế nơng nghiệp liên quan.

Chương 1 – TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN



1.1. Tổng quan về nghiên cứu biến đổi sử dụng đất

Thực tế, sử  dụng đất thường được hiểu đơn giản là các hoạt động làm 

thay đổi bề  mặt trái đất của con người. Trong khi đó, khái niệm của q trình  

chuyển đổi sử dụng đất đề cập đến bất kỳ sự thay đổi trong hệ thống sử  dụng 

đất từ một trạng thái này sang một trạng thái khác [20]. Theo các tác giả Eric F.  

Lambin, Patrick Meyfroidt [20], sử dụng đất hiện nay diễn ra theo hai xu hướng:  

thứ  nhất là các q trình thay đổi dần dần  ở  quy mơ rộng lớn và thứ  hai là sự 

chuyển đổi đột ngột để ứng phó với các sự kiện quan trọng ở cấp cộng đồng địa 



18



phương hoặc cá nhân. Q trình biến đổi sử dụng đất có liên quan tới sự thay đổi 

trong sự cung cấp hàng hóa và dịch vụ sinh thái mà xã hội con người phụ thuộc.  

Sự đa dạng lớn trong bối cảnh địa lý và lịch sử có liên quan tới biến đổi sử dụng 

đất và rất nhiều sự phức tạp trong cả hai hệ thống sinh thái và xã hội.

Theo các tác giả  Eric F. Lambin, Patrick Meyfroidt [20], hai động lực cơ 

bản ảnh hưởng tới quyết định sử dụng đất nói chung là: (i) động lực sinh thái –  

xã hội;  và (ii) các động lực kinh tế ­ xã hội. Trong đó, động lực sinh thái – xã hội  

là động lực nội sinh (gồm: sự phát triển có giới hạn của nguồn tài ngun thiên 

nhiên và chu kỳ thích  ứng; sự  thiếu hụt đất đai và thâm canh nơng nghiệp; điều 

chỉnh sử  dụng đất), mang tính địa phương, xuất hiện khi dòng hàng hóa và dịch  

vụ được cung cấp bởi các hệ sinh thái tự  nhiên bị suy giảm nghiêm trọng, khiến 

chúng buộc phải làm chậm hoặc thậm chí đảo ngược sự  biến đổi sử  dụng đất.  

Động lực kinh tế ­ xã hội là các động lực ngoại sinh (gồm: sự hiện đại hóa kinh  

tế, th đất và tiếp cận thị trường, chế độ sở hữu đất đai, thương mại tồn cầu,  

sự phổ biến của các ý tưởng bảo vệ mơi trường tồn cầu), bắt nguồn từ cấp độ 

tổ chức cao hơn, từ khu vực lân cận, hoặc từ các cuộc cải cách địa phương, dẫn  

đến sự chuyển dịch từ mở rộng sử dụng đất sang phục hồi hệ sinh thái tự nhiên 

ở quy mơ quốc gia.

Liên quan tới biến đổi sử  dụng đất, dựa trên 320 nguồn tài liệu từ  sách 

báo, tạp chí trong các lĩnh vực kỹ thuật, vật lý, khoa học xã hội, có những từ “sử 

dụng đất”, “biến đổi sử  dụng đất”, “biến đổi lớp phủ  và sử  dụng đất” hoặc  

“biến đổi lớp phủ  đất” trong tiêu đề  hoặc từ  khóa (có sự  giới hạn đối với một  

khái niệm rộng lớn hơn của các lĩnh vực có sự  tham gia của phương pháp tiếp  

cận quản lý nhân chủng học/mơi trường kết hợp với các chủ  đề  như: cải cách 

đất đai, quyền sử dụng đất, quản lý đất đai và quyền sở hữu, tái định cư, và quan 

điểm cộng đồng về đất đai), các tác giả B. McCusker và E.R.Carr đã tổng kết lại  

4 xu hướng nghiên cứu chính [22]:



19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cơ sở dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×