Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tuấn khi nghiên cứu về mục tiêu, nội dung, biện pháp quản lí nhà trường cũng đã khẳng định: “Việc

quản lí hoạt động dạy và học (hiểu theo nghĩa rộng) là nhiệm vụ quản lí trung tâm của nhà trường”.

Gần đây nhất, vào năm 2001, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam đã cho xuất bản tuyển tập

“Giáo dục học - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn” của cố giáo sư Hà Thế Ngữ (1929 - 1990).

Trong cơng trình này, thơng qua việc trình bày về đối tượng nghiên cứu và cấu trúc của khoa học

quản lý giáo dục, các khái niệm cơ bản của lí luận QLGD, những nguyên tắc QLGD và những quy

luật giáo dục, tác giả đã giới thiệu nhiều tri thức về phương pháp luận nghiên cứu hiệu quả giáo dục

và dạy học.

Ngoài ra, qua nghiên cứu các luận văn thạc sĩ được lưu trữ tại thư viện Trường Đại học Sư

phạm Tp Hồ Chí Minh, nhiều tác giả đã nghiên cứu về những hoạt động riêng biệt khác nhau trong

quản lý hoạt động giảng dạy trong Nhà Trường như:

+ Lưu Mai Hương “Thực trạng và biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy tại Trường Đại học

Cơng nghệ Sài gòn”. Luận văn này đã nghiên cứu công tác quản lý hoạt động giảng dạy (như quản

lý việc xây dựng chương trình, quản lý việc thực hiện chương trình đào tạo, xây dựng đội ngũ

GVCH, xây dựng đội ngũ GVTG,..), chỉ khảo sát công tác quản lý hoạt động giảng dạy ở một số

khoa và tiến hành thực hiện thăm dò một số biện pháp ở khoa Công nghệ thực phẩm.

+ Thi Minh Trí “Thực trạng cơng tác quản lý của người Hiệu trưởng đối với hoạt động dạy

học ở trường CĐSP tỉnh Cà Mau”. Luận văn này nghiên cứu thực trạng quản lý của Hiệu Trưởng

đối với hoạt động dạy học với các nội dung như: quản lý việc thực hiện mục tiêu, chương trình dạy

học; quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên; quản lý hoạt động học của sinh viên; quản lý các

điều kiện phục vụ hoạt động dạy học.

+ Hồ Quang Minh “Thực trạng công tác quản lý hoạt động giảng dạy của Hiệu Trưởng các

trường Trung học cơ sở, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau”. Đề tài khảo sát Hiệu trưởng quản lý

các vấn đề như: tầm quan trọng của việc quản lý hoạt động giảng dạy; lập kế hoạch quản lý hoạt

động giảng dạy của giáo viên; thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học; soạn bài và chuẩn bị tiết

dạy của giáo viên; giờ lên lớp của giáo viên; ... Từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao công

tác quản lý.

+ Nguyễn Một “Thực trạng quản lý của Hiệu trưởng về quản lý hoạt động giảng dạy của giáo

viên trường Trung học phổ thông huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”. Cũng như tác giả Hồ

Quang Minh đề tài này cũng nghiên cứu một số vấn đề về quản lý mục tiêu giảng dạy, quản lý việc

phân công giảng dạy; quản lý đổi mới phương pháp dạy học; quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả

học tập của học sinh; quản lý hoạt động của tổ chuyên môn; quản lý việc bồi dưỡng, nâng cao trình

độ chun mơn,..

Anh Thư



+ Trần Thị Bình “Thực trạng và biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy

tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh”.

Luận văn đã nghiên cứu thực trạng về quản lý mục tiêu môn học, nội dung, chương trình mơn học;

việc tổ chức giảng dạy và phương pháp giảng dạy; về đội ngũ giáo viên và đánh giá kết quả học tập

của sinh viên.

+ Phạm Thị Phương Trang “Thực trạng và một số giải pháp về quản lý quá trình đào tạo tại

trường Đại học Mở bán công TP. HCM”. Đề tài nghiên cứu về quản lý quá trình đào tạo của Trường

ĐH Mở bán cơng TP. HCM, cụ thể phân tích thực trạng quản lý ở các mặt công tác: quản lý đầu vào

theo mục tiêu, quản lý quá trình dạy và học, quản lý nghiên cứu khoa học, quản lý công tác chính trị

- sinh viên, quản lý các phương tiện kỹ thuật và tài chính phục vụ cơng tác đào tạo. Từ đó, đưa ra

mơt số giải pháp để hồn thiện quá trình quản lý của Nhà Trường như phương thức tuyển sinh; đổi

mới chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy nhằm phát huy năng lực thực hành, khả năng

tư duy sáng tạo của sinh viên;…

Các kết quả nghiên cứu công tác quản lý hoạt động dạy học trên mới đề cập đến một số nội

dung như: xây dựng đội ngũ giảng viên, quản lý hoạt động giảng dạy một môn học cụ thể ở trường

trung học phổ thông, hoạt động giảng dạy ở bậc cao đẳng đại học cơng lập và ngồi cơng lập mà

chưa có cơng trình nghiên cứu nào về quản lý hoạt động dạy học theo hệ thống tín chỉ.

Từ những phân tích trên, chúng tôi nhận thấy cần phải nghiên cứu công tác quản lý hoạt động

dạy học theo hệ thống tín chỉ.

1.2. Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.2.1. Quản lý giáo dục

a/ Khái niệm

Quản lý

Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ xuất hiện theo: quan hệ giữa con người

với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và cả con người với chính

bản thân mình. Điều này làm nảy sinh nhu cầu quản lý. Ngày nay, nhiều người cũng thừa nhận rằng

quản lý trở thành một nhân tố của sự phát triển xã hội. Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến,

diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người.

- Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người.

- Theo nghĩa hẹp, quản lý là sự sắp đặt, chăm nom công việc.

- Quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi những con người kết hợp với

nhau trong các nhóm, tổ chức nhằm đạt mục tiêu chung.

Anh Thư



- Quản lý là một loại hoạt động, trong đó chủ thể đề ra những mục tiêu cần phải đạt và những

chủ trương biện pháp kế hoạch phải thực hiện, lựa chọn nhân sự, huy động và sử dụng nhân lực, tài

lực đang có, tổ chức và điều hành bộ máy nhân lực để thực hiện những chủ trương, biện pháp và kế

hoạch một cách đúng đắn, đạt được mục tiêu mà chủ thể đã đề ra với hiệu quả cao trong môi trường

biến động [16]. Mục tiêu có thể do chủ thể quản lý áp đặt cũng có thể do sự cam kết giữa chủ thể và

đối tượng quản lý. Sự tham gia của đối tượng quản lý vào việc xác định mục tiêu sẽ có ảnh hưởng

tích cực đến hiệu quả quản lý. Thực tế quản lý của nhiều tổ chức khác nhau đã chứng minh rằng,

một tổ chức có hiệu quả quản lý cao trước hết phải là một tổ chức đặt các mục tiêu của mình trên cơ

sở của sự hòa nhập giữa các nhu cầu và mục đích của các cá nhân, các nhóm khác nhau với nhu cầu

và mục đích của tổ chức.

Nói cách khác quản lý là sự tác động một cách có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý

đến khách thể quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt mục tiêu mong muốn bằng kế hoạch hóa,

tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.

Quản lý giáo dục

- Quản lý giáo dục là thực hiện việc quản lý trong lĩnh vực giáo dục. Quản lý giáo dục gồm hai

mặt lớn là quản lý nhà nước về giáo dục và quản lý nhà trường, các cơ sở giáo dục khác. Quản lý

giáo dục là việc thực hiện và giám sát những chính sách giáo dục, đào tạo trên cấp độ quốc gia,

vùng, địa phương và cơ sở [10].

- “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của

chủ thể quản lý, nhằm làm cho sự vận hành theo đường lối giáo dục của Đảng, thực hiện các tính

chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ,

được giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [22].

- Khái niệm “quản lý giáo dục“ được hiểu ở nhiều cấp độ khác nhau, nhưng có hai cấp độ chủ

yếu trong quản lý giáo dục thường được thấy là cấp vĩ mô và cấp vi mô.

+ Cấp vĩ mô: quản lý giáo dục là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế

hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả mắc xích của hệ thống (từ cấp cao

nhất đến các cơ sở giáo dục của nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả các mục tiêu

phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục [11].

Cũng có thể định nghĩa khác như quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý

nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát,… một cách có hiệu quả các nguồn lực

giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát

triển kinh tế xã hội [12].



Anh Thư



+ Cấp vi mô: quản lý giáo dục là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có

kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập

thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngồi nhà trường nhằm thực hiện có

chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường [12].

Cũng có thể hiểu quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá

trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực

lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của

nhà trường [11].

Từ những khái niệm trên, dù ở cấp vĩ mô hay vi mô ta thấy rõ 4 yếu tố của quản lý giáo dục là

chủ thể quản lý, đối tượng bị quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý.

Chủ thể



Đối tượng



Mục tiêu



Khách thể



quản lý



quản lý



quản lý



quản lý



b/ Các chức năng của quản lý giáo dục

Cũng như khoa học quản lý nói chung, quản lý giáo dục cũng có 4 chức năng.

- Chức năng hoạch định:

Vạch ra mục tiêu cho bộ máy, xác định các bước đi, xác định các nguồn lực và các biện pháp

để đạt được mục tiêu.

Căn cứ vào những tiềm năng đã có và những khả năng sẽ có mà xác định rõ hệ thống mục tiêu,

nội dung hoạt động, các biện pháp cần thiết để chỉ rõ trạng thái mong muốn của nhà trường khi kết

thúc năm học. Bản kế hoạch năm học phải được thống nhất cao trong nhà trường, đó chính là nội

dung cơ bản của q trình quản lý và giai đoạn này có vai trò rất to lớn. Vì vậy, người quản lý cần

thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:

+ Hoạch định kế hoạch, mục tiêu phấn đấu cần đạt.

+ Lựa chọn các biện pháp phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tế của đất nước, của địa

phương và của ngành giáo dục.

+ Xây dựng chương trình hành động cho nhà trường trong suốt năm học (kế hoạch năm học

được cụ thể hóa thành từng học kỳ, từng tháng và từng tuần).

+ Điều chỉnh và hồn thiện kế hoạch phù hợp với tình hình thực tế.

- Chức năng tổ chức: bao gồm 2 nội dung

+ Tổ chức bộ máy phù hợp với cấu trúc, cơ chế hoạt động để đủ khả năng đạt mục tiêu đề ra.

Phân chia thành bộ phận và ràng buộc các bộ phận bằng các mối quan hệ.

Anh Thư



+ Tổ chức công việc hợp lý, phân công phân nhiệm rõ ràng để mọi người hướng vào mục

tiêu chung mà hành động.

Thực hiện chức năng tổ chức là thực hiện một quá trình gồm 5 bước:

. Lập danh mục cần làm để đạt mục tiêu.

. Phân công lao động.

. Phân chia bộ phận.

. Thiết lập cơ chế quan hệ và thực hiện.

. Kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh.

- Chức năng chỉ đạo (điều khiển) thể hiện qua cách vạch ra phương hướng cho tổ chức, các

đơn vị cấp dưới, tác động đến tổ chức, đến con người bằng các quyết định để họ phát huy hết các

tiềm năng và các mối quan hệ hữu cơ với xung quanh vào việc thực hiện các chức năng để tổ chức

đạt được mục tiêu một cách hiệu quả nhất.

- Chức năng kiểm tra diễn ra ở tất cả giai đoạn của chu trình quản lý, nó gồm các nhiệm vụ

chính là phát hiện, điều chỉnh, bổ sung và đánh giá hoạt động giáo dục. Kiểm tra khách quan, đánh

giá chính xác là yêu cầu của việc quản lý. Quá trình kiểm tra gồm 3 bước:

+ Xây dựng các tiêu chuẩn giáo dục.

+ Đo đạc việc thực hiện.

+ Điều chỉnh các sai lệch.

Trong các chức năng trên, mỗi chức năng đảm nhận vị trí, vai trò nhất định song các chức năng

này có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau.

1.2.2. Quản lý trường học

- Quản lý trường học là sự quản lý đối với toàn bộ con người, hoạt động, tổ chức và phương

tiện vật chất, kỹ thuật, tài chính của trường để đạt cho được mục tiêu của sự giáo dục và đào tạo học

sinh loại trường đó.

- Hoạt động quản lý nhà trường chịu tác động của những chủ thể quản lý bên trên nhà trường

(các cơ quan quản lý giáo dục cấp trên) nhằm hướng dẫn, tạo điều kiện cho hoạt động của nhà

trường và bên ngoài nhà trường, cộng đồng nhằm xây dựng những định hướng phát triển, hỗ trợ, tạo

điều kiện cho nhà trường phát triển.

- Thực chất, việc quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học, làm cho hoạt động dạy

và học từ trạng thái này sang trạng thái khác để tiến tới mục tiêu giáo dục. Hoạt động cơ bản của

trường học là dạy và học, mọi hoạt động khác đều nhằm phục vụ cho hoạt động trên.



Anh Thư



- Từ cơ sở lý luận trên, có thể thấy rằng trong lao động quản lý ở trường học thì lao động quản

lý hoạt động dạy học là nhiệm vụ trọng tâm. Nhà quản lý phải chi phí nhiều thời gian, suy nghĩ, tìm

tòi, vận dụng nhiều kỹ năng để thực hiện hoàn thành các chức năng quản lý từ kế hoạch hóa, tổ

chức, chỉ đạo đến kiểm tra vừa kịp thời vừa khách quan chính xác để có thể quản lý tốt nhằm nâng

cao hiệu quả giảng dạy của đội ngũ GV.

* Đặc điểm loại hình trường đại học

- Những qui định chung

Là một bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân, trường đại học có tư cách pháp nhân và có

con dấu riêng. Có những quyền hạn sau:

+ Tổ chức hoạt động dạy, học và các hoạt động khác theo quy chế về tổ chức và hoạt động của

trường trình cơ quan chủ quản phê duyệt.

+ Tuyển sinh và quản lý người học. Phối hợp với gia đình người học, các tổ chức, cá nhân trong

hoạt động giáo dục.

- Tổ chức và quản lý:

+ Trường đại học do Thủ tướng chính phủ cấp quyết định thành lập. Việc mở trường phù hợp

với qui hoạch mạng lưới trường học và nhu cầu phát triển giáo dục của xã hội.

+ Trường đại học chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ giáo dục và Đào tạo; chịu sự

quản lý hành chính theo lãnh thổ của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi trường

đặt trụ sở. Cơ quan chủ quản phối hợp với Bộ giáo dục và Đào tạo thực hiện quản lý nhà nước đối với

các trường đại học trực thuộc theo quy định của Điều lệ này” [6].

* Mục tiêu đào tạo của trường đại học

- Luật Giáo dục 2005 đã quy định rõ mục tiêu của giáo dục đại học là: “đào tạo người học có

phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề

nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc;

giúp sinh viên nắm vững kiến thức chun mơn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng

làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo” [9].

Trên cơ sở khái niệm quản lý giáo dục, có thể nói rằng quản lý giáo dục đại học là sự tác động

có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục đại học lên đối tượng giáo dục và khách thể

quản lý giáo dục đại học nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức đại

học để đạt mục tiêu giáo dục đại học đã đặt ra trong môi trường luôn biến động.



Anh Thư



1.2.3. Hoạt động dạy học

1.2.3.1. Khái niệm hoạt động.

“Hoạt động là sự tương tác tích cực giữa chủ thể và đối tượng, nhằm biến đổi đối tượng theo

mục tiêu mà chủ thể đặt ra. Quá trình chủ thể tác động vào đối tượng nhằm tạo ra sản phẩm” [22].

1.2.3.2. Khái niệm hoạt động dạy.

Có nhiều khái niệm về hoạt động dạy, tuy có khác nhau về cách diễn đạt nhưng về cơ bản có

nội hàm giống nhau.

TS. Lưu Xuân Mới: “Dạy là sự tổ chức và điều khiển tối ưu quá trình sinh viên (người học nói

chung) chiếm lĩnh tri thức, trong và bằng cách hình thành và phát triển nhân cách” [19].

Thầy giáo với hoạt động dạy có chức năng tổ chức, điều khiển hoạt động học của người học.

Trong giờ dạy người thầy phải chọn lọc kiến thức cơ bản để khắc sâu; phương pháp dạy học phải đa

dạng, linh hoạt; các hình thức tổ chức dạy học phải phong phú, phù hợp với đối tượng, phục vụ đắc

lực cho phương pháp dạy học.

“Dạy tốt” có nghĩa là thơng qua sự truyền đạt nội dung trí dục, thầy chỉ đạo sự tự phát triển bên

trong của trò, thầy làm cho trò biết biến “cái chỉ đạo bên ngoài” thành “cái tự chỉ đạo bên trong” của

bản thân.

1.2.3.3. Khái niệm hoạt động học.

TS. Lưu Xuân Mới: “Hoạt động học là quá trình tự giác tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm

khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của người Thầy” [19].

Hoạt động học là hoạt động nhận thức của người học dưới sự hướng dẫn của người dạy. Đó là

q trình nhận thức, tìm tòi, thấu hiểu, nắm vững, ghi nhớ và vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc

sống. Bản chất của hoạt động học là một quá trình nhận thức.

Trong hoạt động học thì người học là chủ thể tích cực trong nhận thức, rèn luyện và tu dưỡng.

Người học vừa phải chủ động, sáng tạo trong học tập vừa phải tiếp thu sự chỉ dẫn, dạy bảo của

người dạy.

Hoạt động học có những đặc điểm sau:

- Đối tượng của hoạt động học là tri thức và những kĩ năng kĩ xảo tương ứng với nó. Có thể nói

cái đích mà hoạt động học hướng tới là chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của xã hội thông qua sự

tái tạo của cá nhân. Việc tái tạo này sẽ không thể thực hiện được nếu người học chỉ là khách thể bị

Anh Thư



động của những tác động sư phạm. Muốn học có kết quả, người học phải tích cực tiến hành các hoạt

động học tập bằng chính ý thức tự giác và năng lực trí tuệ của bản thân mình.

- Hoạt động học là hoạt động hướng vào làm thay đổi chính mình. Thơng thường, các hoạt

động khác hướng vào làm thay đổi khách thể, trong khi đó hoạt động học lại làm cho chính chủ thể

hoạt động này thay đổi và phát triển.

- Học là thừa hưởng những giá trị mà thế hệ trước để lại. Những giá trị đó là nguyên liệu,

người học phải chế biến theo những qui trình nhất định, biến nó thành tài sản cá nhân. Trong q

trình chế biến đó, nhân cách con người đuợc hình thành và phát triển.

1.2.3.4. Khái niệm hoạt động dạy học.

Dạy học là hệ thống những tác động qua lại lẫn nhau của nhiều nhân tố nhằm mục đích trang

bị kiến thức hình thành kỹ năng, kỹ xảo tương ứng và rèn luyện đạo đức cho người công dân. Chính

những nhân tố hợp thành hoạt động này cùng với hệ thống tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng đã

làm cho dạy học thực sự tồn tại như một thực thể toàn vẹn – một hệ thống.

Quan hệ giữa dạy và học

- Dạy và học là hai hoạt động cơ bản của HĐDH, chúng không tách rời nhau. Trong đó, DẠY

có vai trò CHỦ ĐẠO, HỌC có vai trò CHỦ ĐỘNG.

- DẠY có chức năng truyền đạt thơng tin và ĐIỀU KHIỂN hoạt động HỌC của người học.

DẠY phải căn cứ vào mục đích, nội dung, vào khả năng và đặc điểm tâm sinh lý của người học để

tổ chức HĐDH phù hợp.

- HỌC có chức năng lĩnh hội và tự điều khiển, HỌC là yếu tố khách quan thứ hai quy định tính

logic của hoạt động dạy học.

- Trong hệ thống toàn vẹn của HĐDH, mối quan hệ giữa DẠY và HỌC là quan hệ cơ bản tạo

nên CHẤT LƯỢNG của hoạt động dạy học.

Hoạt động dạy và hoạt động học gắn liền với hoạt động của con người, có mối quan hệ chặt

chẽ với nhau, thể hiện ở mối quan hệ tương tác giữa các thành tố: mục tiêu, nội dung, phương pháp

của hoạt động dạy và hoạt động học. Nếu xét quá trình dạy học như là một hệ thống thì quan hệ

giữa hoạt động dạy của thầy với hoạt động học của trò thực chất là mối quan hệ điều khiển.



Anh Thư



1.2.4. Quản lý hoạt động dạy học

1.2.4.1. Khái niệm quản lý hoạt động dạy học

Chúng ta đã biết, hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò là hai hoạt động trung tâm

của một quá trình dạy học, là hai hoạt động khác nhau song thống nhất với nhau trong tương tác

giữa thầy với trò; dạy và học cùng lúc diễn ra trong những điều kiện nhất định.

“Quản lý hoạt động giảng dạy thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình

dạy của giáo viên nhằm góp phần hình thành và phát triển tồn diện nhân cách học sinh theo mục

tiêu đào tạo của nhà trường” [27].

Vì hoạt động dạy học là hoạt động trọng tâm của nhà trường nên quản lý hoạt động dạy học là

hoạt động cơ bản nhất trong tồn bộ q trình quản lý nhà trường. Quản lý hoạt động dạy học là quá

trình hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm tra hoạt động dạy học của người dạy nhằm đạt mục tiêu

đã đề ra. Do đó, quản lý hoạt động dạy học “chủ yếu tập trung vào hoạt động dạy của thầy và là trực

tiếp với thầy, gián tiếp với trò; thông qua hoạt động dạy của thầy để quản lý hoạt động học của trò”

[15].

Như vậy, quản lý hoạt động dạy học là hệ thống những tác động có mục đích của chủ thể quản

lý đến đối tượng quản lý trong nhà trường, nhằm khai thác và vận dụng tốt nhất năng lực và các

điều kiện làm cho hoạt động dạy học trong nhà trường hướng tới việc đạt mục tiêu giáo dục.

1.2.4.2. Đối tượng của quản lý hoạt động dạy học.

Đối tượng quản lý hoạt động dạy học là hoạt động dạy của giảng viên, hoạt động học của sinh

viên và các tổ chức phục vụ hoạt động dạy học nhằm thực hiện mục tiêu của nhà trường.

Nếu coi đối tượng của quản lý hoạt động dạy học là một hệ thống xã hội thì đối tượng của

quản lý hoạt động dạy học bao gồm 4 thành tố: mục tiêu dạy học, con người (thầy, trò); hoạt động

dạy học (hoạt động dạy, học; nội dung chương trình và phương pháp dạy học); cơ sở vật chất và

thiết bị dạy học.

1.2.4.3. Mục tiêu quản lý hoạt động dạy học.

Mục tiêu quản lý hoạt động dạy học ở nhà trường nhằm làm cho hoạt động dạy học trong

trường vận hành một cách có kế hoạch, có chất lượng và hiệu quả.

Mục tiêu quản lý hoạt động dạy học gồm:

- Bảo đảm nguyên tắc và lý luận dạy học trong quá trình dạy học.

Anh Thư



- Thực hiện đúng nội dung, chương trình và kế hoạch dạy học của nhà trường.

- Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định, quy chế về giảng dạy và học tập của ngành, của nhà

trường.

1.2.4.4. Nội dung quản lý hoạt động dạy học.

Trong nhiều nội dung quản lý thì nhiệm vụ quản lý hoạt động dạy học, bao gồm việc thực hiện

các chức năng quản lý như sau:

- Quản lý thực hiện chương trình, hoạt động giảng dạy của GV.

Xây dựng kế hoạch giảng dạy chính là việc thiết kế kế hoạch dạy học cho môn học, bài học

theo từng thời gian nhất định. Xây dựng kế hoạch phải dựa vào chương trình dạy học, khả năng của

GV và phân tích kết quả học tập của SV cùng với điều kiện đảm bảo của trang thiết bị,…Chương

trình giảng dạy là văn bản mang tính pháp lệnh và là tài liệu quan trọng nhất quy định nội dung,

phương pháp, hình thức, dạy học từng mơn học. Chương trình giảng dạy là căn cứ để nhà trường

giám sát, thanh tra hoạt động và còn là căn cứ để GV triển khai hoạt động giảng dạy, SV tiến hành

học tập.

Thiết kế CTĐT trong trường đại học được thực hiện theo quy định chung với quy định về khối

kiến thức giữa các môn học cơ bản, các môn cơ sở và môn chuyên ngành. Chương trình được xây

dựng, đánh giá bởi các GV, chuyên gia, nhà khoa học, nhà tuyển dụng và được ban hành bởi hội

đồng khoa học, đào tạo Trường.

Quản lý thực hiện chương trình là quá trình tổ chức thực hiện đúng, đủ theo quy định và kế

hoạch dạy học. GV nắm vững chương trình, khơng được tùy tiện thay đổi, thêm bớt hoặc làm sai

lệch nội dung chương trình giảng dạy.

Hoạt động giảng dạy bao gồm các cơng đoạn như chuẩn bị bài giảng, giảng dạy trên lớp, kiểm

tra và đánh giá kết quả học tập của SV. Quản lý hoạt động giảng dạy của GV để làm cho hoạt động

dạy của GV thực hiện đúng nguyên tắc, quy định, quy chế nhằm đạt được mục tiêu dạy học và đó

chính là mục tiêu cuối cùng của quản lý. Các trường đại học quản lý thực hiện chương trình của GV

thơng qua đề cương mơn dạy đã được xây dựng.

- Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp.

Căn cứ trên đề cương chi tiết của môn học và kế hoạch giảng dạy, GV chuẩn bị bài giảng cho

đáp ứng với kiến thức được đặt ra cụ thể như nội dung môn học, phương pháp giảng dạy, công cụ

giảng dạy, nội dung kiểm tra, phương thức và tỉ lệ của các đánh giá,... Một bài giảng được thiết kế

tốt sẽ giúp GV tự tin, chủ động triển khai trên lớp đạt chất lượng cao. Trên thực tế, công việc soạn

Anh Thư



bài và chuẩn bị giờ lên lớp là phần lớn do GV tự làm ở nhà, nhà trường chỉ có thể quản lí một cách

gián tiếp thông qua những công việc như sau:

+ Chỉ đạo GV lập kế hoạch cho việc soạn giảng và chuẩn bị giờ lên lớp.

+ Cùng với lãnh đạo Khoa/ Bộ môn:

. Cung cấp tài liệu, giáo trình liên quan đến mơn học.

. Theo dõi, hỗ trợ việc chuẩn bị và sử dụng các trang thiết bị, phòng thí nghiệm, thực hành.

- Quản lý giờ lên lớp.

Việc dạy và học trên lớp giữ vai trò quyết định đến chất lượng dạy học – đó là lúc người GV

thể hiện năng lực, phẩm chất đối với nghề và đối với SV. Việc lập kế hoạch bài học và việc chuẩn bị

trước khi lên lớp rất cần thiết cho giờ dạy trên lớp, nhưng điều này chỉ mang lại hiệu quả cao khi

được thực hiện thành cơng trên lớp. Ngồi việc thực hiện những ý đồ đã chuẩn bị, người dạy còn

phải biết linh hoạt để giải quyết các tình huống sư phạm xảy ra trong q trình giảng dạy sao cho

hồn tất các công việc đã chuẩn bị.

Dựa trên những quy chế, quy định về thực hiện các hoạt động trong lớp như: điểm danh, bài

tập nhỏ, bài tập nhóm,… người GV còn phải có trách nhiệm tạo khơng khí thu hút SV hăng hái, say

mê đến lớp. Nhiệm vụ của người GV khơng chỉ trình bày những kiến thức đơn thuần mà phải thổi

hồn vào bài giảng, làm cho mỗi tiết học trở nên sống động, khơi dậy niềm hăng say học tập trong

người học. Quan trọng hơn hết, người GV là người chuyển tải kiến thức chuyên môn và đảm bảo

thực hiện đúng đủ những yêu cầu được đặt ra.

Cần quản lý hoạt động lên lớp của GV thông qua hoạt động dự giờ và góp ý bài dạy của đồng

nghiệp. Việc dự giờ của GV nhiều kinh nghiệm và đã thành công trong công tác giảng dạy sẽ giúp

cho các GV khác, đặc biệt là GV trẻ học hỏi được nhiều kinh nghiệm hay để vận dụng, cải tiến

giảng dạy cho bản thân.

- Quản lý đổi mới phương pháp dạy học.

Theo nghĩa chung nhất của phương pháp dạy học là cách thức, con đường để đạt đến mục tiêu

dạy học. Vì vậy, ta cũng có thể hiểu rằng phương pháp dạy học là cách thức hoặc hệ thống kế hoạch

được áp dụng để đạt mục tiêu của quá trình giáo dục, hoặc phương pháp dạy học là cách thức làm

việc của người dạy và người học. Dựa trên việc tiếp cận của người dạy với người học, có các

phương pháp chủ yếu như: tiếp cận trực tiếp, tiếp cận gián tiếp, tiếp cận dạy học độc lập.

Nước ta với nhu cầu phát triển, hội nhập quốc tế, với nguy cơ tụt hậu trên con đường phát triển

trong thế kỉ XXI đang đòi hỏi chúng ta cấp thiết đổi mới giáo dục, trong đó căn bản là đổi mới về

phương pháp dạy và học. Từ vai trò là nhân tố quan trọng, quyết định trong kiểu dạy học điều khiển

Anh Thư



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×