Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CƠ SỞ VẬT CHẤT CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ.

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CƠ SỞ VẬT CHẤT CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ có khoảng 300 ha mặt nước ni trồng thủy

sản, thích hợp với ni trồng thủy sản nước ngọt. Đầu tư khai thác nuôi thủy sản nước ngọt

trở thành lĩnh vực có lợi thế trong ngành nông nghiệp của Huyện.

Huyện đã và đang khai thác có hiệu quả lợi thế tự nhiên, sinh thái, trồng cây ăn quả, tập

trung vào các loại cây chủ lực như xồi, bưởi, nhãn sạch.

Ngành Cơng nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp của Huyện phát triển dựa trên nguồn lao

động và nguyên liệu tại chỗ. Vĩnh Thạnh đầu tư tập trung công nghiệp chế biến, ứng dụng

công nghiệp hiện đại để chế biến nông – thủy sản thành phẩm.

* Đặc điểm về văn hóa, xã hội và giáo dục

Huyện Vĩnh Thạnh là một huyện nhỏ vùng sâu của thành phố Cần Thơ. Tuy nghèo

nhưng người dân nơi đây rất ham học. Ở đây có những câu chuyện về tấm gương hiếu học

đáng trân trọng.

Tồn Huyện hiện có 143 tổ chức khuyến học với tổng số 11.234 hội viên, chiếm

7,49% dân số. Huyện hiện có 6 người là Tiến sĩ, hơn 20 Thạc sĩ và hàng ngàn người tốt

nghiệp Đại học.

Vĩnh Thạnh rất chú trọng xây dựng các trung tâm học tập cộng đồng. Hiện nay huyện

có 100% xã, thị trấn có trung tâm học tập cộng đồng. Ở đây có nhiều đồng bào theo đạo

Thiên chúa giáo. Thạnh An, Thạnh Thắng là những xã thiên chúa giáo hoàn toàn, nhưng

chính là nơi con em được học hành đến nơi đến chốn. Phong trào nhà nhà hiếu học, họ tộc

hiếu học, xứ đạo hiếu học đã cuốn hút mọi người. Năm 2006 cúp Đỉnh vàng của báo Khuyến

học tặng hội Khuyến học Cần Thơ đã được trao lại cho Hội khuyến học huyện Vĩnh Thạnh –

đơn vị có phong trào khuyến học xuất sắc trong toàn Thành phố.

2. 2- Khái quát sự phát triển giáo dục trung học cơ sở của huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần

Thơ

2.2.1- Vài nét về tình hình giáo dục và đào tạo huyện Vĩnh Thạnh



Vĩnh Thạnh là một trong những huyện có phong trào giáo dục khá mạnh, cơ sở vật

chất trường học ngày càng được tăng cường, quy mô giáo dục và đào tạo phát triển nhanh và

tương đối đồng đều. Chất lượng giáo dục của huyện ổn định và được nâng lên qua từng năm.

Tồn huyện hiện có 9 trường THCS. Trường THCS trực thuộc có quy mơ cao nhất là 36 lớp,

quy mơ thấp nhất là 10 lớp. Việc bố trí trường lớp đã tạo thuận lợi cho học sinh đến trường,

cũng như đáp ứng tốt yêu cầu phổ cập giáo dục THCS, phổ cập giáo dục THPT.



Huyện Vĩnh Thạnh được thành phố Cần Thơ công nhận phổ cập giáo dục tiểu học

đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở từ năm 2004 và phấn đấu hoàn thành phổ

cập giáo dục bậc trung học vào năm 2015.

Hầu hết cấp ủy, UBND các xã, thị trấn đều rất quan tâm phối hợp với ngành giáo dục

trong việc huy động học sinh ra lớp và triển khai thực hiện có hiệu quả công tác phổ cập giáo

dục THCS, phổ cập giáo dục THPT.

2.2.2- Quy mô và chất lượng giáo dục THCS huyện Vĩnh Thạnh



- Về quy mô:

Năm học 2009 – 2010 Huyện hiện có 9 trường trung học cơ sở với 143 lớp/5159 học

sinh. Tiến độ huy động học sinh có nhiều thuận lợi hơn; liên tục trong các năm qua tỉ lệ học

sinh vào lớp 6 luôn đạt trên 98%; xét tốt nghiệp trung học cơ sở hàng năm đạt 97% trở lên, tỉ

lệ học sinh lưu ban, bỏ học hàng năm không quá 0,2%. So với các Quận, Huyện trong thành

phố thì Vĩnh Thạnh có tỷ lệ học sinh bỏ học thấp. Hầu hết cấp uỷ, UBND các xã, thị trấn đều

rất quan tâm phối hợp với Ngành để triển khai và thực hiện có hiệu quả cơng tác phổ cập

giáo dục trung học cơ sở, phổ cập giáo dục trung học phổ thông.

- Về chất lượng giáo dục

Các trường đều có chung mục tiêu là lấy hiệu quả của việc giảng dạy – học tập làm

thước đo đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên cũng như học tập của học sinh. Nhờ

vậy mà chất lượng giáo dục ở các mặt được duy trì và phát triển tốt, biểu hiện cụ thể ở những

thành tựu như:

- Có 245 học sinh của Huyện dự thi học sinh giỏi lý thuyết các mơn văn hóa cấp thành

phố được tổ chức vào ngày 02/4/2010. Kết quả có 59 học sinh đạt giải, trong đó có 03 giải

nhất, 06 giải nhì, 13 giải ba, 10 giải khuyến khích và 27 học sinh được cơng nhận là học sinh

giỏi.

- Có 12 học sinh dự thi học sinh giỏi thực hành thí nghiệm Lý – Hóa – Sinh lớp 9. Kết

quả có 7 học sinh đạt giải, trong đó có 01 giải nhất, 02 giải nhì, 02 giải ba, 01 giải khuyến

khích và 01 học sinh được công nhận là học sinh giỏi.

- Có 12 học sinh tham dự kỳ thi học sinh giỏi giải tốn trên máy tính cầm tay. Kết quả

có 9 học sinh đạt giải ( 1 giải ba, 4 khuyến khích, 4 HS giỏi).

- Có 1153/1157 học sinh ( trong đó nữ 561 học sinh) được cơng nhận tốt nghiệp THCS

( hệ phổ thông) đạt tỉ lệ 99,65%. Trong đó loại giỏi có 160 học sinh, đạt tỉ lệ 13,88%; loại



khá có 418, đạt tỉ lệ 36,25%; trung bình có 560 học sinh, đạt tỉ lệ 48,57%; loại ưu tiên

khuyến khích có 15, đạt tỉ lệ 1,3%.

- Việc giáo dục nghề phổ thông được tổ chức và duy trì tiếp tục với mục đích định

hướng nghề nghiệp cho các em từ khi đang học ở nhà trường phổ thông. 100% các trường

thực hiện đầy đủ theo phân phối chương trình của Bộ GD&ĐT quy định.

- Các trường thuộc phạm vi quản lý của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Vĩnh

Thạnh đã tổ chức tốt việc dạy và học các môn tự chọn và chủ đề tự chọn, thực hiện giảng dạy

môn tự chọn ở tất cả các khối lớp theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày

05/5/2006 và Hướng dẫn số 7092/BGDĐT-GDTrH ngày 10/8/2006 của Bộ GD&ĐT, phù

hợp với tình hình, đặc điểm ở địa phương.

- Có nhiều giáo viên đã vận dụng phương pháp mới trong việc thực hiện chương trình,

sử dụng thiết bị và đồ dùng có sẵn và tự làm.

- 100% học sinh có đủ sách giáo khoa ( học sinh nghèo, gặp khó khăn Phòng GDĐT hỗ

trợ, nhà trường cho mượn sách).

- Việc giáo dục thể chất đã được đầu tư tiếp tục một cách có hiệu quả. Hầu hết các đơn

vị đều đảm bảo kế hoạch dạy theo chương trình chính khóa: 2 tiết / tuần / lớp.

Có được những thành tựu trên một phần nhờ cơng sức đóng góp của đội ngũ cán bộ,

giáo viên, nhân viên toàn ngành. Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên các trường trung học

cơ sở trong tồn Huyện tính đến tháng 6 năm 2010 là 253 người, trong đó nữ có 142

người.Giáo viên trong biên chế đạt tỉ lệ giáo viên/lớp là 1,92; trong đó trình độ đại học sư

phạm: 109/253, chiếm tỉ lệ: 43,08%; cao đẳng sư phạm: 144/253 chiếm tỉ lệ: 56,91%. Như

vậy, toàn Huyện có 100% giáo viên trung học cơ sở đạt chuẩn hoặc vượt chuẩn. Đội ngũ

giáo viên dạy các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể dục trong những năm gần đây có tăng song

chỉ đáp ứng được 80% yêu cầu.

2.3. Thực trạng cơ sở vật chất các trường trung học cơ sở ở huyện Vĩnh Thạnh, thành phố

Cần Thơ.



Thực trạng cơ sở vật chất của các trường trung học cơ sở ở huyện Vĩnh Thạnh, thành

phố Cần Thơ được chúng tơi nghiên cứu theo ba khía cạnh: diện tích mặt bằng, thực trạng

các hạng mục cơng trình và thực tế đáp ứng của Ban Giám hiệu các trường trung học cơ sở ở

huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ đối với nhu cầu của giáo viên và học sinh.



2.3.1.Diện tích mặt bằng



Theo kết quả khảo sát của Phòng Kế hoạch tài chánh và Phòng Giáo dục và Đào tạo

huyện Vĩnh Thạnh vào thời điểm tháng 9/2009 thì tổng diện tích đất trong khuôn viên của 09

trường trung học cơ sở của tồn huyện Vĩnh Thạnh là 78.780 m2, bình qn đạt 14,77 m2

P



P



P



/học sinh. Như vậy, bình qn tồn cấp học trung học cơ sở, Vĩnh Thạnh đạt chuẩn quy định

P



của Bộ Giáo dục và Đào tạo về diện tích trường học. Thực tế, nếu tính bình qn thì tất cả

các xã, thị trấn của huyện Vĩnh Thạnh đều đạt chuẩn quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Trong đó cao nhất là trường trung học cơ sở Vĩnh Trinh



( 82m2 / học sinh); trung học cơ

P



P



sở Thạnh An ( 40,2m2 / học sinh) và thấp nhất là trung học cơ sở thị trấn Vĩnh Thạnh ( 6,0

P



P



m2/ học sinh). Điều đáng lưu ý là hai xã Thạnh An và Thạnh Thắng, đất rộng người thưa nên

P



P



mật độ học sinh trên diện tích đất là rất lớn: 40,2m2/ học sinh. Trong khi đó Trường Trung

P



P



học cơ sở Thị trấn Vĩnh Thạnh nằm trên Quốc lộ 80 thì quá hẹp, diện tích mặt bằng khơng

đạt chuẩn quy định và chỉ có: 6,0 m2/ học sinh.

P



P



Khó khăn nhất vẫn là các trường nằm trên trục quốc lộ khu thị trấn như Trung học cơ

sở Thị trấn Thạnh An 1 chỉ đạt: 7,2m2/học sinh. Việc mở rộng diện tích khn viên các

P



P



trường này gặp rất nhiều khó khăn, trong khi các tiêu chí khác về xây dựng trường đạt chuẩn

quốc gia đều đạt cao.

Ngồi ra, việc bố trí các trường học hiện nay tại Huyện Vĩnh Thạnh cũng chưa được

hợp lý, có hai trường trung học cơ sở nằm trên trục quốc lộ 80, nên ảnh hưởng nhiều đến

cơng tác an tồn giao thông ( tắc nghẽn giao thông...) và ảnh hưởng đến cơng tác giảng dạy (

tiếng ồn, bụi ...).

Tìm hiểu ngun nhân của tình trạng diện tích khn viên của các trường ở Vĩnh

Thạnh còn chật hẹp, chúng tơi thu được kết quả trình bày ở bảng 2.1.

Bảng 2.1: Nguyên nhân của thực trạng diện tích khn viên các trường ở Vĩnh Thạnh

còn chật hẹp theo ý kiến của cán bộ quản lý và giáo viên

Nguyên nhân



Tỉ lệ % CBQL

và GV xác nhận



Lãnh đạo địa phương chưa quan tâm



62,2%



Cán bộ phụ trách công tác quy hoạch không hiểu ngành GD&ĐT



30,9%



Ngành giáo dục và đào tạo tham mưu chưa tốt



17,9%



Trường không còn đất để mở rộng



70,1%



Theo kết quả điều tra thì ngun nhân khiến diện tích khn viên nhà trường còn chật

hẹp là do trường khơng còn đất để mở rộng ( 70,1% ý kiến). Đây là nguyên nhân cơ bản và

cũng là vấn đề khó khăn hiện nay đối với huyện Vĩnh Thạnh. Phần lớn các trường đã được

xây dựng từ những năm trước đây, trong đó có một số có nhu cầu phát triển và mở rộng quy

mơ để đạt tiêu chuẩn trường chuẩn quốc gia, đặc biệt là các trường ở khu vực thị trấn, nằm

trên trục lộ giao thơng chính. Ngồi ra, diện tích đất ở của nhân dân tiếp giáp với khuôn viên

trường học đã gây rất nhiều khó khăn cho việc mở rộng diện tích khuôn viên các trường

trung học cơ sở theo tiêu chuẩn trường chuẩn quốc gia ở nhiều xã, thị trấn trong Huyện. Vì

vậy, về mặt bằng xây dựng phòng học, giải pháp tối ưu hiện nay khi cải tạo, mở rộng hay

xây mới là tầng hóa trường, lớp học.

Những năm qua, chính quyền địa phương và ngành giáo dục đã có quy hoạch phát

triển mạng lưới trường lớp, nên các trường xây dựng mới đều có diện tích tối thiểu 10m2 /

P



P



học sinh theo tiêu chuẩn quy phạm, có vị trí thuận lợi và đúng quy định. Kết quả điều tra cho

thấy một số lãnh đạo địa phương chưa quan tâm ( được các đối tượng điều tra đánh giá

62,2%) cũng là một lý do đáng lưu ý.

Một số trường hợp, khi ngành giáo dục và đào tạo triển khai dự án đầu tư xây dựng

trường theo quyết định của UBND Thành phố thì việc xác định mặt bằng xây dựng với chính

quyền địa phương và các hộ dân gặp rất nhiều khó khăn: diện tích khơng đạt chuẩn quy định,

hoặc phải bồi thường, giải tỏa mất rất nhiều thời gian.

2.3.2. Thực trạng các hạng mục cơng trình của cơ sở vật chất ở các trường trung học cơ sở

huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.



Năm học 2009 – 2010, Huyện Vĩnh Thạnh có 09 trường trung học cơ sở với 142 lớp,

5159 học sinh và 106 phòng học. Số trường THCS có 30 lớp trở lên: 01 trường. Số trường có

số lớp ít nhất là Trung học Cơ sở Vĩnh Trinh chỉ có 04 lớp. Số trường THCS dưới 30 lớp: 02

trường; dưới 15 lớp: 05 trường. Điều đáng lưu ý hiện nay là còn 03 xã chưa có trường trung

học cơ sở: xã Thạnh Quới, xã Thạnh Lợi, xã Vĩnh Bình do mới chia tách địa giới hành

chánh. Hiện nay xã Thạnh Thắng có 02 trường trung học cơ sở nhưng số lượng học sinh ít do

địa bàn dân cư thưa, việc bố trí 02 trường này cần xem lại cho hợp lý hơn.



Tỉ lệ lớp/ phòng học của toàn Huyện chưa đáp ứng được việc học 2 buổi/ngày. Thực tế

cho thấy ở xã, thị trấn nào có chỉ số lớp/ phòng học thấp sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để

bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu và tổ chức các hoạt động khác tại trường.

Tồn huyện Vĩnh Thạnh có 106 phòng học, trong đó có 59 phòng kiên cố, chiếm tỉ lệ

55,66 % và 30 phòng bán kiên cố, chiếm tỉ lệ 28,30 %; phòng tiền chế: 17 phòng, chiếm tỉ lệ

16,03%. Huyện Vĩnh Thạnh khơng còn phòng học tạm nhưng mức độ kiên cố hóa trường lớp

chỉ đạt 1/2.

Từ khi thành lập năm 2004 đến nay, Huyện xây dựng mới 02 trường trung học cơ sở

với 66 phòng kiên cố. Trong 09 trường trung học cơ sở của Huyện có 01 trường được xây

dựng trước năm 1975, các phòng học đã xuống cấp nặng, cần xây mới thay thế hoặc cải tạo

nâng cấp nhưng chưa được tu sửa kịp thời.

Những năm qua huyện Vĩnh Thạnh chỉ tập trung vào việc xây dựng hoặc cải tạo, nâng

cấp các phòng học mà chưa quan tâm đến các phòng chức năng một cách đầy đủ. Các trường

THCS trong Huyện hầu như trường nào cũng thiếu phòng chức năng; chỉ có Trường Trung

học Cơ sở Thạnh An là có phòng thiết bị đúng quy cách, các trường còn lại lấy phòng học

cải tạo làm phòng thư viện, thiết bị. Do phòng chức năng khơng đúng chuẩn quy định nên

sách, thiết bị dạy học không được trưng bày kịp thời, đơi lúc còn q tải với các trường có

phòng chức năng nhỏ.

Ở câu số 2, phần A của phiếu hỏi dành cho giáo viên và cán bộ quản lý, chúng tơi liệt

kê 17 hạng mục cơng trình của cơ sở vật chất trường học rồi đề nghị người trả lời trả lời ở 2

nội dung: Thứ nhất là về số lượng, người trả lời xác nhận bằng cách đánh dấu X vào 1 trong

2 cột “Đủ” hoặc “Thiếu” đối với từng hạng mục; thứ hai là về mức độ trang bị, người trả lời

xác nhận bằng cách đánh dấu X vào 1 trong 5 cột “Tốt”, “Khá”, “Trung bình”, “Yếu”,

“Kém” đối với từng hạng mục.

Ở nội dung “số lượng”, chúng tơi xử lý bằng cách tính tỉ lệ phần trăm số người chọn

“Đủ” hoặc “Thiếu” ở từng hạng mục, ở nội dung “Mức độ trang bị”, nếu người trả lời đánh

dấu X vào cột “Tốt”, chúng tôi quy đổi thành điểm 5,“Khá” thành điểm 4, “Trung bình”

thành điểm 3, “Yếu” thành điểm 2, “Kém” thành điểm 1.

Sau khi xử lý số liệu, chúng tôi thu được kết quả trình bày ở bảng 2.2.

Bảng 2.2: Kết quả điều tra về tình hình các hạng mục cơng trình ở các trường trung học cơ

sở Huyện Vĩnh Thạnh

TT



Hạng mục cơng trình



Về số lượng



Điểm trung bình



Xếp



2.1

2.2

2.3

2.4

2.5

2.6

2.7

2.8

2.9

2.10

2.11

2.12

2.13

2.14

2.15

2.16

2.17



Phòng học

Phòng hiệu trưởng

Phòng hiệu phó

Phòng giáo viên

Văn phòng nhà trường

Phòng hoạt động Đồn – Đội

Phòng rèn luyện thể chất

Phòng giáo dục nghệ thuật

Thư viện

Phòng thiết bị dạy học

Hội trường

Phòng Y tế học đường

Khu vệ sinh

Hệ thống cấp thốt nước

Hệ thống chiếu sáng ở các phòng

Bảng phục vụ dạy học

Bàn ghế phù hợp với học sinh



Đủ %

64,3

47,4

27,1

47,8

68,4

46,0

2,4

3,4

99,3

93,1

10,3

29,6

79,0

55,0

52,2

95,9

97,6



Thiếu %

35,7

52,6

72,9

52,2

31,6

54,0

97,6

96,6

0,7

6,9

89,7

70,4

21,0

45,0

47,8

4,1

2,4



mức độ trang bị

3,22

2,57

1,95

2,55

3,18

2,4

1,20

1,21

4,35

4,05

1,46

1,96

3,39

2,81

2,82

4,01

4,12



hạng

6

10

14

11

7

12

17

16

1

3

15

13

5

9

8

4

2



Bảng 2.2 cho thấy về số lượng, các hạng mục cơng trình tương đối đầy đủ là thư viện,

phòng thiết bị dạy học, bảng phục vụ dạy học, bàn ghế phù hợp với học sinh, khu vệ sinh,

văn phòng nhà trường, phòng học. Về mức độ trang bị, các khối cơng trình được trang bị khá

nhất vẫn là thư viện, bàn ghế phù hợp với học sinh, phòng thiết bị dạy học, bảng phục vụ dạy

học, khu vệ sinh, phòng học. Các khối cơng trình có mức độ trang bị trung bình là hệ thống

cấp thốt nước, hệ thống chiếu sáng ở các phòng, phòng hiệu trưởng, phòng giáo viên. Các

khối cơng trình còn thiếu nhiều và nếu có thì mức độ trang bị bên trong còn cần phải quan

tâm đầu tư nhiều hơn nữa là phòng rèn luyện thể chất, phòng giáo dục nghệ thuật, phòng y tế

học đường, phòng hiệu phó, hội trường, phòng hoạt động Đồn – Đội, văn phòng nhà

trường.

2.3.3. Thực tế đáp ứng của Ban Giám hiệu về nhu cầu CSVC của giáo viên và học sinh.



Ở câu số 5, phần A của phiếu hỏi dành cho giáo viên và cán bộ quản lý, chúng tơi liệt kê

17 hạng mục cơng trình của cơ sở vật chất trường học rồi đề nghị người trả lời trả lời ở 2 nội

dung: Thứ nhất là về được đáp ứng, người trả lời xác nhận bằng cách đánh dấu X vào cột được

đáp ứng đối với từng hạng mục; thứ hai là chưa được đáp ứng, người trả lời xác nhận bằng

cách đánh dấu X vào cột chưa được đáp ứng đối với từng hạng mục. Ở nội dung “ Được đáp

ứng” và “ Chưa được đáp ứng”, nếu người trả lời đánh dấu X vào cột “ Được đáp ứng” chúng

tôi quy đổi thành điểm 2, “ Chưa được đáp ứng” quy đổi thành điểm 1. Chúng tơi xử lý bằng



cách tính tỉ lệ phần trăm số người chọn



“ Được đáp ứng” hoặc “ Chưa được đáp ứng” ở



từng hạng mục.

Sau khi xử lý số liệu, chúng tơi thu được kết quả trình bày ở bảng 2.3.

Bảng 2.3: Kết quả điều tra về việc đáp ứng của Ban giám hiệu đối với nhu cầu CSVC của

GV và HS ở các trường THCS Huyện Vĩnh Thạnh.

TT



Nhu cầu



5.1

5.2

5.3

5.4

5.5

5.6

5.7

5.8

5.9

5.10

5.11

5.12

5.13

5.14

5.15

5.16

5.17



Phòng học

Phòng hiệu trưởng

Phòng hiệu phó

Phòng giáo viên

Văn phòng nhà trường

Phòng hoạt động Đồn – Đội

Phòng rèn luyện thể chất

Phòng giáo dục nghệ thuật

Thư viện

Phòng thiết bị dạy học

Hội trường

Phòng Y tế học đường

Khu vệ sinh

Hệ thống cấp thốt nước

Hệ thống chiếu sáng ở các phòng

Bảng phục vụ dạy học

Bàn ghế phù hợp với học sinh



Tỉ lệ % CBQL và GV đánh giá thực tế

đáp ứng của Ban giám hiệu.

Được đáp ứng Chưa được đáp ứng

74,9

25,1

45,4

54,6

22,0

78,0

46,0

54,0

66,7

33,3

44,3

55,7

3,1

96,9

3,1

96,9

98,6

1,4

95,2

4,8

8,2

91,8

33,7

66,3

83,8

16,2

57,4

42,6

55,0

45,0

90,7

9,3

95,9

4,1



Xếp hạng

theo tỉ lệ %

được đáp ứng

6

11

14

10

7

12

17

16

1

3

15

13

5

8

9

4

2



Cột xếp hạng theo tỉ lệ % CBQL và GV xác nhận các hạng mục “được đáp ứng” của

bảng 2.3 cho thấy các hạng mục như thư viện, bàn ghế, phòng thiết bị dạy học, bảng phục vụ

dạy học, khu vệ sinh được xếp hạng cao, chứng tỏ trong thực tế các hạng mục này đã đáp

ứng được nhu cầu của GV và HS. Thứ hạng này gần giống với thứ hạng ở bảng 2.2. Có 9

hạng mục có tỉ lệ % “được đáp ứng” trên 50%.

2.4. Thực trạng quản lý cơ sở vật chất các trường trung học cơ sở huyện Vĩnh Thạnh, thành

phố Cần Thơ



Lý luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng thành công và bất cập trong công tác giáo dục đều

liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến công tác quản lý. Công tác quản lý cơ sở vật chất

trường học cũng không ngoại lệ. Trong phạm vi đề tài, chúng tôi xin đề cập đến thực trạng

quản lý cơ sở vật chất trường học ở các nội dung sau:



2.4.1 Cơ chế, tổ chức quản lý cơ sở vật chất trường học



Về tổ chức, Phòng Giáo dục và Đào tạo Huyện Vĩnh Thạnh có một chuyên viên phụ

trách CSVC trường học chịu trách nhiệm tham mưu cho Trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo

tồn bộ các lĩnh vực có liên quan đến cơng tác cơ sở vật chất trường học trên địa bàn Huyện.

Ở trường trung học cơ sở, công tác quản lý cơ sở vật chất nhà trường do Phó Hiệu trưởng

phụ trách cơ sở vật chất chịu trách nhiệm, bộ phận giúp việc cho Phó Hiệu trưởng gồm kế

tốn, cán bộ thư viện, cán bộ thiết bị, các tổ chuyên môn và có thể bao gồm cả bảo vệ nhà

trường. Giữa các cấp quản lý, ngoài phạm vi và trách nhiệm cụ thể đã được quy định bởi các

văn bản, còn có sự phân cấp về quyền hạn, trách nhiệm và sự phối hợp nhằm tác động thúc

đẩy nâng cao hiệu quả quản lý cơ sở vật chất trường học, đặc biệt phải thể hiện đầy đủ các

yêu cầu và nhiệm vụ về công tác xây dựng, trang bị, sử dụng, bảo quản, thanh lý tài sản được

quy định tại Luật Tài sản số 09/2008/QH12 ngày 03/6/2006 của Quốc hội về quản lý tài sản

Nhà nước; Luật Tài sản trên có hiệu lực từ ngày 01/01/2009.

Thực hiện theo Quyết định số 44/2008/QĐ-UBND ngày 29/4/2008 của UBND Thành

phố Cần Thơ về việc thành lập các cơ quan chuyên môn thuộc UBND Huyện Vĩnh Thạnh;

Phòng Giáo dục và Đào tạo Huyện Vĩnh Thạnh tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân Huyện

thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, bao gồm:

mục tiêu, chương trình nội dung giáo dục và đào tạo; tiêu chuẩn nhà giáo và tiêu chuẩn cán

bộ quản lý giáo dục; tiêu chuẩn cơ sở vật chất; thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em; quy chế

thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ; bảo đảm chất lượng giáo dục và đào tào. Cũng theo quyết

định trên, tuy đã phân cấp, nhưng công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục toàn

Thành phố vẫn được tập trung tại Sở Giáo dục và Đào tạo. Sở Giáo dục và Đào tạo chịu

trách nhiệm thẩm tra quy hoạch, kế hoạch giáo dục, kể cả các cơng trình xây dựng trường

học của các Quận, Huyện và tổng hợp trình Ủy ban Nhân dân Thành phố phê duyệt.

Như vậy, với nội dung đầu tư cơ sở vật chất cho các trường trung học cơ sở, tùy theo

nguồn vốn mà phân bổ cho hợp lý cho các trường. Các nội dung đầu tư do Sở Giáo dục và

Đào tạo làm chủ đầu tư, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo giao cho phòng Kế hoạch Tài

chính thực hiện nhưng cũng có một số dự án do Ủy ban nhân dân Huyện làm chủ đầu tư như

chương trình kiên cố hóa trường lớp, hoặc các cơng trình xây dựng trích từ nguồn quỹ xổ số

kiết thiết Thành phố Cần Thơ. Riêng kinh phí mua sắm sách - thiết bị dạy học được Sở

GDĐT phân bổ hàng năm và Phòng GDĐT căn cứ vào nhu cầu cần sử dụng mà đăng ký cho

các trường THCS.



Tìm hiểu về quyền tự chủ của hiệu trưởng trong quản lý cơ sở vật chất của các trường

ở Huyện Vĩnh Thạnh, về mức chủ động trong đầu tư CSVC, chúng tôi thu được kết quả trình

bày ở bảng 2.4.

Bảng 2.4. Mức chủ động của nhà trường trong việc bảo trì, sửa chữa, xây dựng mua sắm

CSVC trường học theo ý kiến của cán bộ quản lý và giáo viên.

Phát biểu



Tỉ lệ % CBQL và GV xác nhận

Bảo trì, sửa chữa Xây dựng, mua sắm



-Hiệu trưởng khơng có quyền tự chủ



60,1



61,5



-Hiệu trưởng chỉ được tự chủ một phần



29,6



32,6



-Hiệu trưởng hoàn toàn được tự chủ



10,3



5,8



Qua tìm hiểu, chúng tơi được biết, các trường chỉ được quản lý nguồn quỹ xã hội hóa

do nhân dân đóng góp xây dựng trường, nhưng nội dung đầu tư, trang bị CSVC phải xin ý

kiến Phòng Giáo dục và Đào tạo, chỉ khi nào Phòng GDĐT phê duyệt thì nhà trường mới

được phép thực hiện. Các nguồn vốn khác đều do cấp trên quản lý và thực hiện, nhà trường

chỉ là đơn vị thụ hưởng. Như vậy, với cơ chế quản lý hiện nay ở huyện Vĩnh Thạnh, các

trường THCS khơng được chủ động hồn tồn trong cơng tác đầu tư, trang bị cơ sở vật chất

trường học.

2.4.2. Thực trạng quản lý cơ sở vật chất ở các trường trung học cơ sở huyện Vĩnh Thạnh,

thành phố Cần Thơ xét theo các chức năng quản lý

2.4.2.1.Chức năng xây dựng kế hoạch quản lý cơ sở vật chất.



Ở câu số 3 ( mục 3.1 Việc xây dựng kế hoạch quản lý CSVC), phần A của phiếu hỏi

dành cho giáo viên và cán bộ quản lý, chúng tôi liệt kê 5 biện pháp quản lý cơ sở vật chất

trường học rồi đề nghị người trả lời trả lời ở 2 nội dung: Thứ nhất là về thực hiện, người trả

lời xác nhận bằng cách đánh dấu X vào 1 trong 2 cột “ Có” hoặc “ Khơng” đối với từng biện

pháp quản lý; thứ hai là về mức độ thực hiện, người trả lời xác nhận bằng cách đánh dấu X

vào 1 trong 4 cột “ Tốt”, “ Khá”, “ Trung bình”, “ Yếu” đối với từng biện pháp.

Ở nội dung “ thực hiện”, chúng tôi xử lý bằng cách tính tỉ lệ phần trăm số người chọn

“ Có” hoặc “ Không” ở từng biện pháp quản lý, ở nội dung



“ mức độ thực hiện” chúng tôi



xử lý bằng cách tính điểm trung bình và xếp hạng cho từng biện pháp, nếu người trả lời đánh



dấu X vào cột “ Tốt”, chúng tôi quy đổi thành điểm 4, “ Khá” thành điểm 3, “ Trung bình”

thành điểm 2,



“ Yếu” thành điểm 1



Sau khi xử lý số liệu, chúng tôi thu được kết quả trình bày ở bảng 2.5.

Bảng 2.5: Kết quả điều tra về việc xây dựng kế hoạch quản lý CSVC ở các trường trung học

cơ sở Huyện Vĩnh Thạnh.

Biện pháp quản lý



TT



1



2



3

4

5



Xây dựng và thông báo quy hoạch tổng thể

mặt bằng trường học theo hướng trường

chuẩn quốc gia.

Lập và thông báo kế hoạch xây dựng mới

các hạng mục cơng trình của trường học và

mua sắm trang thiết bị mới nơi thầy cô đang

giảng dạy.

Lập và thông báo kế hoạch nâng cấp, cải tạo

CSVC.

Lập và thông báo kế hoạch sử dụng bảo

quản CSVC.

Lập và thông báo kế hoạch thanh lý CSVC.



Tỉ lệ % CBQL Điểm trung bình

Xếp

và GV chọn

đánh giá của

Hạng



Khơng CBQL và GV

66,7



33,3



2,46



5



76,0



24,0



2,65



4



84,0



16,0



2,80



3



90,0



10,0



3,06



1



86,4



13,6



2,91



2



Điểm trung bình chung = 2,78; Điểm trung bình của CBQL = 2,85; GV = 2,77



Kết quả điều tra tình hình thực hiện chức năng xây dựng kế hoạch quản lý CSVC

trường học chúng tôi nhận thấy:

Với đối tượng điều tra là CBQL và GV, có đến 4 trong tổng số 5 nội dung thuộc chức

năng kế hoạch hóa được đánh giá thực hiện dưới mức độ khá ( có điểm trung bình < 3). Điều

này cho phép chúng tơi cho rằng nhà trường ít quan tâm đến chức năng lập kế hoạch quản lý

CSVC trường học.

Chúng tơi xin phân tích một số nội dung:

+ Xây dựng và thông báo quy hoạch tổng thể mặt bằng trường học theo hướng trường

chuẩn quốc gia: có 33,3% các trường được hỏi trả lời không thực hiện nội dung này; các

trường có thực hiện thì mức độ thực hiện cũng chỉ đạt trung bình với 2,46% - xếp hạng 5 (

trong tổng số 5 nội dung của các chức năng quản lý được hỏi).

Như vậy, nội dung “Xây dựng và thông báo quy hoạch tổng thể mặt bằng trường học

theo hướng trường chuẩn quốc gia” chưa được các trường trung học cơ sở và các cấp quản

lý nhà nước về giáo dục ở Huyện Vĩnh Thạnh quan tâm đúng mức. Vấn đề này cần phải

được quan tâm nhiều hơn vì nếu khơng làm tốt cơng tác quy hoạch tổng thể mặt bằng trường



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CƠ SỞ VẬT CHẤT CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×