Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
6 Tương quan thị lực và CRT

6 Tương quan thị lực và CRT

Tải bản đầy đủ - 0trang

89



Biểu đồ 3.24: Phân bố thị lực và CRT theo các khoảng

Biểu đồ trên có chiều rộng mỗi cột tương ứng với số mắt trong nhóm

đó. Như vậy chúng ta có thể thấy số lượng bệnh nhân nhiều nhất ở nhóm có

CRT 276-400 µm, kế đến là nhóm >400 µm và cuối cùng là nhóm 226-275

µm. Chiều cao tương ứng của mỗi cột được qui về 1 tương ứng 100%. Biểu

đồ cũng cho thấy phân bố các khoảng thị lực theo các nhóm CRT là khá đồng

đều. Điều này chứng tỏ là ở nhóm có CRT thấp vẫn có những mắt có thị lực

kém và trong nhóm có CRT cao vẫn có những mắt có thị lực cao. Tương

quan giữa thị lực và CRT có thể thấy rõ hơn qua biểu đồ phân tán sau đây.



Biểu đồ 3.25 Tương quan giữa thị lực và CRT trước khi điều trị



90



Hệ số tương quan giữa thị lực và CRT là -0,25 (95% CI : -0,41, -0,06;

p=0,008). Giá trị âm của hệ số tương quan thể hiện khuynh hướng biến thiên

ngược chiều của hai thơng số nói trên. Khi CRT tăng thì thị lực sẽ giảm.

Để xây dựng mơ hình hồi qui tuyến tính có khả năng dự đốn được tốt

nhất thị lực của bệnh nhân, tất cả các thơng số có liên quan đến phù hoàng

điểm đái tháo đường thu nhận trong nghiên cứu đều được sử dụng bao gồm:

CRT, tăng huyết áp, tăng lipid máu, sử dụng insulin, tiền sử hút thuốc, giới

tính, mức độ trầm trọng của bệnh võng mạc đái tháo đường, hình thái phù

trên chụp mạch huỳnh quang với fluorescein, còn thủy tinh thể hay khơng.

Phân tích hồi qui tất cả các phân nhóm (All subsets regression) được thể hiện

bằng biểu đồ dựa vào R bình phương có điều chỉnh (Adjusted R-squared).

Biểu đồ dự đốn vai trò của các yếu tố nói trên cho mơ hình hồi qui được thể

hiện sau đây.



Biểu đồ 3.26 Dự đốn mơ hình hồi qui tuyến tính đa biến cho tất cả các phân

nhóm (All subsets regression) với biến phụ thuộc là thị lực và biến độc lập

là các yếu tố khác có liên quan đến phù hoàng điểm đái tháo đường.

Biểu đồ trên cho thấy các yếu tố sau đây có ảnh hưởng nhiều đến khả

năng tiên lượng thị lực: CRT, có tăng huyết áp, có hút thuốc, giới nữ và bệnh

võng mạc đái tháo đường chưa tăng sinh giai đoạn nặng. Tuy nhiên, sau khi



91



đưa vào phương trình hồi qui tuyến tính đa biến với các thơng số nói trên thì

chỉ còn duy nhất một yếu tố có thể tiên đốn được thị lực có ý nghĩa thống

kê là CRT và điều đó có nghĩa mơ hình tuyến tính đa biến là khơng phù hợp

đối với mẫu của nghiên cứu.

Vì vậy chúng tơi xây dựng mơ hình hồi qui tuyến tính đơn biến với

biến độc lập là CRT và biến phụ thuộc là thị lực. Phân tích mơ hình hồi qui

tuyến tính cho thấy khi CRT tăng 100 µm thì thị lực giảm đi 2 chữ

(p=0,0087). Đồng thời, độ dầy trung tâm võng mạc chỉ giải thích được 5,2%

sự biến thiên của thị lực (Adjusted R-squared = 0,052).

3.6.2 Sau khi điều trị

Sau khi đã điều trị, tương quan giữa thị lực và CRT được thể hiện bằng

biểu đồ phân tán sau đây.



Biểu đồ 3.27 Biểu đồ tương quan giữa thị lực và CRT vào thời điểm 12

tháng.

Hệ số tương quan giữa thị lực và độ đầy võng mạc trung tâm ở thời

điểm tháng 6 và 12 lần lượt là -0,18 (95% CI : -0,35 đến -0,003; p=0,053) và



92



-0,16 (95% CI : -0,33 đến 0,03; p=0,1). Như vậy, tương quan giữa CRT và

thị lực khơng còn ý nghĩa thống kê sau khi điều trị.

3.7 Tương quan thay đổi thị lực và thay đổi CRT

3.7.1 Nhóm Bevacizumab

Đối với nhóm Bevacizumab sự thay đổi CRT so với ban đầu ở thời

điểm tháng thứ 6 và tháng thứ 12 lần lượt là -135,72 ± 121,93 và -143,89 ±

127,54 µm; mức tăng thị lực tương ứng là 9,78 ± 7,86 và 12,17 ± 6,65 chữ.

Hệ số tương quan giữa sự thay đổi thị lực và sự thay đổi CRT lần lượt là 0,28 (95% CI : -0,48 đến -0,04, p=0,022) và -0,33 (95% CI : -0,54 đến -0,01,

p=0,007).

Phân tích hồi qui tuyến tính cho thấy khi CRT giảm 100 µm thì thị lực

chỉnh kính tối đa tăng lần lượt là 2,2 chữ (p=0,022) và 2,3 chữ (p=0,007). Sự

thay đổi của CRT giải thích được 6,4 % và 9,7 % sự thay đổi của thị lực.

Tương quan của sự thay đổi thị lực và CRT của nhóm Bevacizumab ở thời

điểm 6 tháng và 12 tháng được thể hiện bằng biểu đồ phân tán sau đây.



Biểu đồ 3.28 Tương quan giữa thay đổi thị lực và thay đổi CRT so với ban

đầu trong nhóm Bevacizumab ở thời điểm 6 tháng.



93



Biểu đồ 3.29 Tương quan giữa thay đổi thị lực và thay đổi CRT so với ban

đầu trong nhóm Bevacizumab ở thời điểm 12 tháng.

Dựa vào các biểu đồ phân tán có thể thấy một số ít mắt có biểu hiện

tăng thị lực nghịch lý (thị lực tăng khi CRT tăng) ở thời điểm tháng thứ 6 và

tháng thứ 12 với tỷ lệ lần lượt là 1,8% và 3,7%. Tỷ lệ giảm thị lực nghịch lý

(thị lực giảm khi CRT giảm) tương ứng là 0,7% và 1,9%. Như vậy, tỷ lệ mắt

có biểu hiện nghịch lý về thị lực và CRT trong nhóm Bevacizumab ở thời

điểm tháng thứ 6 và tháng thứ 12 lần lượt là 2,5% và 5,6%.

3.7.2 Nhóm Laser

Sự thay đổi CRT so với ban đầu trong nhóm điều trị laser ở thời điểm

tháng thứ 6 và tháng thứ 12 lần lượt là -71,37 ± 127,55 và -89,96 ± 127,62

(µm). Thị lực thay đổi tương ứng là 2,33 ± 11,89 và 2,11 ± 11,84 chữ. Hệ số

tương quan giữa sự thay đổi thị lực và sự thay đổi CRT lần lượt là -0,40 (95%

CI : -0,60 đến -0,16, p=0,001) và -0,36 (95% CI : -0,57 đến -0,11, p=0,005).

Phân tích hồi qui tuyến tính cho thấy khi CRT giảm 100 µm thì thị lực tăng

lần lượt là 3,79 chữ (p=0,002) và 3,39 chữ (p=0,003). Sự thay đổi của CRT

giải thích được 16,55% và 13,39% sự thay đổi của thị lực. Tương quan của

sự thay đổi thị lực và CRT của nhóm Laser ở thời điểm 6 tháng được thể

hiện bằng biểu đồ phân tán sau đây.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

6 Tương quan thị lực và CRT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×