Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
5 Đánh giá cải thiện cấu trúc

5 Đánh giá cải thiện cấu trúc

Tải bản đầy đủ - 0trang

83



Biểu đồ 3.18 Độ dầy võng mạc trung tâm nhóm Bevacizumab theo thời gian

Độ dầy võng mạc trung tâm của nhóm Bevacizumab giảm rất nhanh

ngay từ tháng thứ ba và sau đó giảm thêm khơng đáng kể. Sự thay đổi CRT

có ý nghĩa (p<0,0001; Friedman). Phân tích hậu kiểm cho thấy CRT ở các

thời điểm đều tốt hơn so với ban đầu (p<0,0001; R nparcomp package)

Khơng có sự khác biệt về độ dầy võng mạc trung tâm giữa 3 và 6 tháng

(p=0,6366) và cũng không khác biệt giữa 6 và 12 tháng (p=0,5241). Như

vậy, độ dầy võng mạc trung tâm sau điều trị của nhóm Bevacizumab giảm

nhanh sau khi điều trị 3 tháng và không giảm thêm cho tới thời điểm 12

tháng.

Để thấy được mối quan hệ của độ dầy võng mạc trung tâm trước và

sau điều trị cũng như xác định được những điểm dữ liệu ngoại vi (outlier),

độ dầy võng mạc trung tâm trước và sau điều trị của nhóm Bevacizumab

được thể hiện bằng biểu đồ phân tán Biểu đồ 3-19. Thêm vào đó Bảng 3.12

đều cho thấy hầu hết các trường hợp đều thành công về mặt cải thiện cấu trúc

ở thời điểm 12 tháng.



84



Biểu đồ 3.19 Biểu đồ phân tán độ dầy võng mạc trung tâm trước và sau khi

điều trị 12 tháng ở nhóm Bevacizumab. Vùng màu xám thể hiện KTC 95%

và đường hồi qui.

Bảng 3.12 Tỷ lệ điều trị thành công về cấu trúc nhóm Bevacizumab sau 12 tháng

Số lượng



Thành cơng

Thành cơng tốt

Mất dữ liệu



20/55

27/55

2/55



Tỷ lệ



36,4%

49,1%

3,6%



3.5.2 Đánh giá CRT nhóm Laser

Diễn tiến CRT trung bình của bệnh nhân nhóm Laser theo các thời

điểm thăm khám được thể hiện trong bảng và biểu đồ sau đây.

Bảng 3.13 CRT trung bình nhóm Laser theo thời gian

Thời điểm

Trước khi điều trị

3 tháng

6 tháng

12 tháng



CRT trung bình (µm)

367,89 ± 107,05

333,26 ± 102,12

296,53 ± 87,64

279,34 ± 78,08



p

(So với trước điều trị)

p = 0,3251

p = 0,0022

p < 0,0001



85



Biểu đồ 3.20 Độ dầy võng mạc trung tâm nhóm Laser theo thời gian

Biểu đồ trên cho thấy độ dầy võng mạc trung tâm của nhóm Laser

giảm chậm trong suốt 12̉ tháng theo dõi. Có sự khác biệt về độ dầy võng mạc

trung tâm theo thời gian (p<0,0001; Friedman). So với ban đầu chỉ có thời

điểm 6 và 12 tháng là khác biệt có ý nghĩa (tương ứng với p = 0,0022 và p <

0,0001; R nparcomp package). Độ dầy võng mạc trung tâm có sự khác biệt

giữa 3 và 12 tháng (p=0,0020). Như vậy, CRT của nhóm Laser giảm chậm

sau khi điều trị tới thời điểm 6 tháng và không giảm thêm đáng kể cho tới

thời điểm 12 tháng.

Để thấy được mối quan hệ của độ dầy võng mạc trung tâm trước và

sau điều trị cũng như xác định được những điểm dữ liệu ngoại vi (outlier),

độ dầy võng mạc trung tâm trước và sau điều trị của nhóm Laser được thể

hiện qua Biểu đồ 3-21. Biểu đồ phân tán này cho thấy đa số các trường hợp

đều cải thiện về cấu trúc ở thời điểm 12 tháng. Tuy nhiên, tỷ lệ đạt mức thành

công không cao theo như Bảng 3.14 dưới đây.



86



Biểu đồ 3.21 Biểu đồ phân tán độ dầy võng mạc trung tâm trước và sau khi

điều trị 12 tháng ở nhóm Laser. Vùng màu xám thể hiện KTC 95% và đường

hồi qui.

Bảng 3.14 Tỷ lệ điều trị thành công về cấu trúc nhóm Laser sau 12 tháng

Thành cơng

Thành cơng tốt

Mất dữ liệu

3.5.3 So sánh giữa hai nhóm về CRT



Số lượng

21/57

18/57

1/57



Tỷ lệ

36,8%

31,6%

1,8%



CRT trung bình

CRT trung bình của nhóm Bevacizumab và nhóm Laser vào các thời

điểm như sau :

- Ban đầu: 398,75 ± 137,50 so với 367,89 ± 107,05 µm

- 3 tháng: 285,95 ± 85,41 so với 333,26 ± 102,12 µm

- 6 tháng: 265,52 ± 74,60 so với 296,53 ± 87,64 µm

- 12 tháng : 256,53 ± 73,69 so với 279,34 ± 78,08 µm



87



Sau đây là biểu đồ hộp thể hiện CRT trung bình của cả hai nhóm trước

điều trị và các lần thăm khám.



Biểu đồ 3.22: Biểu đồ hộp CRT theo thời gian và nhóm điều trị

Phân tích mơ hình tuyến tính hỗn hợp (mixed effects model analysis)

cho thấy khơng có sự khác biệt về CRT giữa hai nhóm (p= 0.2098) nhưng

có sự khác biệt giữa các lần thăm khám (p<0,0001). Như vậy nhóm

Bevacizumab có tốc độ giảm CRT nhanh hơn so với nhóm Laser.

Mức giảm CRT trung bình

Để đánh giá sự cải thiện CRT của bệnh nhân sau điều trị chúng tôi sử

dụng mức giảm CRT. Thông số này của nhóm Bevacizumab so với nhóm

Laser theo các thời điểm như sau:

- 3 tháng: -112,8 ± 123,67 so với -34,63 ± 89,98 µm

- 6 tháng: -135,72 ± 121,93 so với -71,37 ± 127,55 µm

- 12 tháng: -143,89 ± 127,54 so với -89,96 ± 127,62 µm

Có thể thấy rõ hơn sự khác biệt về mức giảm CRT trung bình thơng

qua biểu đồ hộp thể hiện diễn tiến mức giảm CRT trung bình của bệnh nhân

nhóm Bevacizumab và nhóm Laser trong suốt quá trình theo dõi và điều trị

sau đây.



88



Biểu đồ 3.23: Mức giảm CRT trung bình so với ban đầu theo thời gian và

nhóm điều trị

Có thể thấy rằng CRT của nhóm Laser giảm ít và chậm còn nhóm

Bevacizumab thì giảm nhiều và nhanh ngay từ tháng thứ 3. Phân tích mơ

hình tuyến tính hỗn hợp (mixed effects model analysis) cho thấy có sự khác

biệt về kết quả mức giảm CRT giữa hai nhóm (p=0,003) và có sự khác biệt

giữa các lần thăm khám (p<0,0001). Như vậy nhóm Bevacizumab có mức

giảm CRT trung bình nhiều hơn và sớm hơn so với nhóm Laser.

3.6 Tương quan thị lực và CRT

Một vấn đề mà rất nhiều bác sĩ quan tâm trên lâm sàng là sự tương

quan giữa sự cải thiện về cấu trúc (thể hiện bằng CRT) và sự cải thiện về

chức năng (thể hiện bằng thị lực) như thế nào? Đây có phải là mối tương

quan 1:1 hay không và sự tương quan này thay đổi thế nào sau khi điều trị?

3.6.1 Trước khi điều trị

Sự phân bố của các khoảng thị lực (bảng Snellen) theo các khoảng

CRT được thể hiện trên biểu đồ xương sống (spinogram) sau đây.



89



Biểu đồ 3.24: Phân bố thị lực và CRT theo các khoảng

Biểu đồ trên có chiều rộng mỗi cột tương ứng với số mắt trong nhóm

đó. Như vậy chúng ta có thể thấy số lượng bệnh nhân nhiều nhất ở nhóm có

CRT 276-400 µm, kế đến là nhóm >400 µm và cuối cùng là nhóm 226-275

µm. Chiều cao tương ứng của mỗi cột được qui về 1 tương ứng 100%. Biểu

đồ cũng cho thấy phân bố các khoảng thị lực theo các nhóm CRT là khá đồng

đều. Điều này chứng tỏ là ở nhóm có CRT thấp vẫn có những mắt có thị lực

kém và trong nhóm có CRT cao vẫn có những mắt có thị lực cao. Tương

quan giữa thị lực và CRT có thể thấy rõ hơn qua biểu đồ phân tán sau đây.



Biểu đồ 3.25 Tương quan giữa thị lực và CRT trước khi điều trị



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

5 Đánh giá cải thiện cấu trúc

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×